ĐỀ TÀI: Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ BÀN LUẬN VỀ BIỆN PHÁP KHẨN CÂP TẠM
THỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI.
1. Khái niệm về BPKCTT
Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp do Tòa án quyết định áp dụng trước khi thụ lý
hoặc trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của
đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tổ chức khởi kiện có
dơn yêu cầu hoặc do Tòa án chủ động áp dụng trong những trường hợp pháp luật cho
phép để bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tranh chấp, tránh gây thiệt hại không thể
khắc phục được hoặc đảm bào cho việc thi hành án dân sự.
Theo pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới mà điển hình là pháp luật tố
tụng dân sự của Mỹ, Pháp và Trung Quốc thì thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp có
thể được áp dụng trước khi khởi kiện hoặc trong quá trình Toà án giải quyết một vụ kiện
chính hoặc có thể được áp dụng một cách hoàn toàn độc lập và đây là điểm khác biệt cơ
bản nhất về thởi điểm áp dung BPKCTT của Việt Nam.
Đặc điểm của BPKCTT: có thể được áp dụng trước khi thụ lý vụ việc dân sự; luôn mang
trong nó hai tính chất, đó là tính khẩn cấp và tạm thời. Tính khẩn cấp được thể hiện ở chỗ
Tòa án phải ra quyết định áp dụng BPKCTT ngay và được thực hiện ngay sau khi tòa ra
quyết định áp dụng, nếu không sẽ không có ý nghĩa gì trên thực tế.Tính tạm thời ở đây là
nó không phải là quyết định cuối cùng về giải quyết vụ việc dân sự, nó chỉ tồn tại trong
1
một khỏang thời gian nhất định. Sau khi đã áp dụng BPKCTT, nếu lý do của việc áp dụng
không còn nữa thì Tòa có thể hủy bỏ quyết định này.
2. Mục đích, ý nghĩa
Việc áp dụng BPKCTT nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách, bảo toàn tài sản, bảo vệ bằng
chứng để đảm bảo việc thi hành án. Do đó, việc áp dụng BPKCTT có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp và nhu cầu cấp bách của
đương sự, tạo điều kiện cho đương sự sớm ổn định được cuộc sống của bản thân cũng
như những người sống phụ thuộc vào họ; góp phần ngăn chặn các hành vi sai trái, bảo vệ
chứng cứ, giữ nguyên được giá trị chứng minh của chứng cứ, giúp cho việc giải quyết vụ
Ngoài các biện pháp KCTT này, tòa án có thể áp dụng các BPKCTT khác do pháp luật quy
định. Ngoài ra điều kiện áp dụng từng BPKCTT cũng được qui định cụ thể, chặt chẽ hơn, để
đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự tại Tòa đạt hiệu quả cao hơn. Chẳng hạn, Tòa
án tự mình ra quyết định áp dụng BPKCTT “Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi
thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm” qui định tại điều 105 BLTTDS nếu có
đủ các điều kiện sau: việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu bồi thường thiệt hại, xét
thấy yêu cầu đó là có căn cứ; nếu không buộc thực hiện trước một phần có thể ảnh hưởng đến
lợi ích cấp bách của người bị thiệt hại; đương sự chưa có điều kiện thực hiện quyền yêu cầu
Tòa áp dụng BPKCTT.Tuy nhiên, các qui định của BLTTDS về các BPKCTT và điều kiện áp
dụng từng BPKCTT cần phải được hoàn thiện, bổ sụng thêm để đáp ứng yêu cầu về mặt lý
luận là qui định các BPKCTT một cách khoa học, logic, đầy đủ, cụ thể, mang tính thực tiến
cao. Cụ thể, có thể qui định phân nhóm các BPKCTT để điều 102 BLTTDS được gọn hơn, rõ
ràng hơn, tạo thuận lợi cho việc lựa chọn áp dụng BPKCTT. Việc phân nhóm các BPKCTT có
thể dựa vào các tiêu chí khác nhau để phân thành các nhóm BPKCTT khác nhau. Việc phân
nhóm có thể thực hiện theo tiêu chí phân nhóm theo đối tượng hướng đến của BPKCTT là tài
sản hay hành vi của người bị áp dụng. Tuy nhiên trong một số trường hợp rất khó để xác định
đối tượng hưỡng đến của BPKCTT là tài sản hay hành vi của đương sự (chẳng hạn, tòa nhận
thấy do nhu cầu cấp thiết nên tòa quyết định áp dụng BPKCTT là tạm ứng trước tiền lương
cho người lao động qui định tại khoản 4 điều 102 BLTTDS. Trong trường hợp này rõ ràng
BPKCTT được áp dụng là hướng đến hành vi của người bị áp dụng nhưng BPKCTT này cũng
hướng đến tài sản của người bị áp dụng). Mặt khác, có thể phân loại BPKCTT theo tiêu chí
xác định mục đích của BPKCTT cần được áp dụng. Với cách xác định này có thể phân thành
bốn nhóm: nhóm các BPKCTT buộc phải tạm ứng một số tiền nhất định (khoản 2, 3, 4 điều
102 BLTTDS), nhóm các BPKCTT nhằm ngăn ngừa việc tẩu tán, hủy hoại chứng cứ, tài sản
đảm bảo thi hành án (khoản 6, 7,8 ,9, 10, 11 điều 102 BLTTDS), nhóm các BPKCTT buộc làm
3
hoặc không làm một hoặc một số công việc nhất định (khoản 1, 5, 12 điều 102 BLTTDS),
nhóm các BPKCTT khác mà pháp luật có qui định (khoản 13 điều 102 BLTTDS).
II. BPKCTT Ở TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM VÀ PHÚC THẨM
1. Ở tòa án cấp sơ thẩm.
- Toà án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng một BPKCTT cụ thể khi có đầy đủ các điều
kiện do BLTTDS quy định đối với BPKCTT đó.
Ví dụ: Toà án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng BPKCTT "Buộc thực hiện trước một phần
nghĩa vụ cấp dưỡng" quy định tại Điều 104 của BLTTDS khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
4
việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu cấp dưỡng; xét thấy yêu cầu cấp dưỡng đó là có
căn cứ; nếu không buộc thực hiện trước ngay một phần nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ ảnh hưởng đến
sức khoẻ, đời sống của người được cấp dưỡng; đương sự, người thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố
tụng dân sự của đương sự chưa có điều kiện thực hiện được quyền yêu cầu Toà án áp dụng
BPKCTT. Khi tự mình ra quyết định áp dụng một BPKCTT cụ thể, ngoài việc thực hiện đúng
quy định tại điều luật tương ứng của BLTTDS, Toà án cần phải căn cứ vào các quy định của pháp
luật liên quan để có quyết định đúng.
c – Thời điểm và thẩm quyền áp dụng BPKCTT
Thời điểm áp dụng: Toà án có thể áp dụng BPKCTT vào bất cứ thời điểm nào trước và trong khi
xét xử. Thậm chí, theo quy định tại khoản 2 Điều 99, trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần
bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, cá nhân, cơ quan, tổ
chức có quyền yêu cầu toà án áp dụng ngay BPKCTT vào cùng thời điểm nộp đơn khởi kiện.
Quy định này của BLTTDS đã tạo ra sự năng động, kịp thời trong việc bảo vệ quyền lợi hợp
pháp cho đương sự, đồng thời khắc phục được hạn chế của pháp luật tố tụng trước đây chỉ cho
phép áp dụng các BPKCTT vào thời điểm trước khi xét xử. Tuy nhiên BLTTDS chỉ qui định thời
điểm bắt đầu áp dụng BPKCTT thì sớm nhất là cùng lúc với thời điểm nộp đơn khởi kiện, thời
điểm tòa thụ lý đơn đến trước khi xét xử hoặc là tại phiên tòa xét xử, mà không qui định thời hạn
kết thúc việc áp dụng BPKCTT, nó chỉ chấm dứt khi có quyết định hủy bỏ áp dụng BPKCTT
được qui định tại điều 122 BLTTDS.
Ví dụ : ông A và ông B đang có tranh chấp về một căn nhà mua bán với nhau. Ông A là
người mua đã giao tiền, nhưng ông B không giao nhà. Thấy ông B có dấu hiệu phá hủy, tháo dỡ
các công trình phụ trong ngôi nhà đang tranh chấp. Ông A đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu ông B
phải giao nhà đồng thời đã nộp đơn yêu cầu Tòa án kê biên căn nhà nói trên (là tài sản đang tranh
chấp) để sau này nếu thắng kiện thì tình trạng căn nhà vẫn nguyên vẹn như khi hai bên thỏa thuận
mua bán ban đầu.
Đối với yêu cầu áp dụng BPKCTT thực hiện cùng với khởi kiện thì sau khi nhận đơn
Chánh án tòa án chỉ định ngay một thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48
giờ kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, thẩm phán phải xem xét và ra quyết định áp dụng
BPKCTT.Trong trường hợp tòa án quyết định áp dụng BPKCTT là phong tỏa tài khoản tại ngân
hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước, phong tỏa tài khoản ở nơi gửi giữ, phong tỏa tài
sản của người có nghĩa vụ thì tài khoản, tài sản được phong tỏa phải có giá trị tương đương với
nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng BPKCTT có nghĩa vụ phải thực hiện.
Đối với những trường hợp thẩm phán không chấp nhận yêu cầu áp dụng BPKCTT thì phải
thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết và trong đó phải nêu rõ lý do của việc không
chấp nhận. Như vậy, so với các quy định trước đây, thủ tục áp dụng các BPKCTT trong BLTTDS
đã được quy định cụ thể và phù hợp hơn. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ
kịp thời quyền lợi hợp pháp của đương sự.
1.2 – Việc thay đổi, hủy bỏ BPKCTT
Trước đây do các văn bản pháp luật tố tụng dân sự chưa quy định việc thay đổi, hủy bỏ
BPKCTT nên trong thực tiễn áp dụng đã có những trường hợp toà án áp dụng BPKCTT sai,
không phù hợp, làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của bên đương sự bị áp dụng nhưng vẫn
không thay đổi, hủy bỏ được BPKCTT đó. Hiện nay, BLTTDS đã quy định việc thay đổi, hủy bỏ
BPKCTT mà toà án áp dụng để bảo vệ quyền lợi cho đương sự. Thẩm quyền xem xét để ra quyết
định thay đổi, hủy bỏ BPKCTT được quy định cụ thể tại Điều 100 BLTTDS. Theo điều luật này
nếu yêu cầu thay đổi hoặc hủy bỏ BPKCTT được đưa ra vào thời điểm trước khi mở phiên toà thì
thẩm quyền quyết định sẽ do một thẩm phán thực hiện. Nếu yêu cầu đó đưa ra vào thời điểm tại
6
phiên toà thì thẩm quyền xem xét, quyết định sẽ do hội đồng xét xử. Các quyết định này có hiệu
lực thi hành ngay, toà án phải thông báo quyết định này tới các chủ thể liên quan.
a. Về thay đổi
Theo quy định tại điều 121 BLTTDS và theo mục 10 Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP thì
thủ tục thay đổi BPKCTT cũng tương tự như thủ tục áp dụng BPKCTT đã nêu ở trên ( trong
Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối
cao là các mục 5,6,7) tuy nhiên cần lưu ý:
- Trong trường hợp người yêu cầu áp dụng BPKCTT có đơn yêu cầu tòa án thay đổi BPKCTT
7
Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT có hiệu lực thi hành ngay. Khi ban hành
quyết định này, tòa án gửi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan, cơ quan thi hành án dân sự
có thẩm quyền và viện kiểm sát cùng cấp. Cơ quan thi hành án chịu trách nhiệm thi hành quyết
định này.
2. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT ở tòa án cấp phúc thẩm
Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT ở tòa án cấp phúc thẩm được quy định tại điều
261 BLTTDS như sau: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm có
quyền quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Chương
VIII của Bộ luật này”.
Về cơ bản các quy định tại chương VIII BLTTDS là những quy định nhằm áp dụng cho các
giai đoạn xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Do đó trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
hoặc tại phiên toà phúc thẩm nếu có yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
BPKCTT thì việc xem xét, giải quyết được thực hiện theo quy định tại các điều tương ứng của
chương VIII “các BPKCTT” của BLTTDS và hướng dẫn tại nghị quyết 02/2005/NQ-HĐTP của
HĐTP TANDTC như đã được trình bày ở trên.
Trong trường hợp đương sự kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm mà trong đơn kháng cáo
hoặc kèm theo đơn kháng cáo, đương sự khiếu nại quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
BPKCTT của tòa án sơ thẩm thì tòa án phúc thẩm thông báo ngay cho họ biết là tòa án phúc
thẩm không có quyền giải quyết khiếu nại và giải thích cho họ biết họ có quyền yêu cầu tòa án
phúc thẩm thay đổi, áp dụng bổ sung BPKCTT, hủy bỏ BPKCTT đa được áp dụng hoặc ra quyết
định áp dụng BPKCTT theo quy định chung của BLTTDS và hướng dẫn tại nghị quyết nêu trên.
III. THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG, THAY ĐỔI, HỦY BỎ BPKCTT
1. Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện BPKCTT trong BLTTDS:
1.1Phong tỏa tài sản:
Tài sản bị áp dụng BPKCTT đang bị cầm cố, thế chấp với bên thứ ba.
Đối với yêu cầu Tòa áp dụng BPKCTT của nguyên đơn là phong tỏa tài sản của người có
nghĩa vụ đối với nguyên đơn (bị đơn), tuy nhiên khối tài sản đó đang bị cầm cố, thế chấp
cho bên thứ ba là cá nhân, tổ chức nào đó, phía nguyên đơn cho rằng tổng tài sản thế
chấp đó lớn hơn nhiều so với số tiền mà bị đơn đã vay của ngân hàng nên nguyên đơn
nghĩa vụ mà bên bị áp dụng phải thực hiện thì Tòa sẽ yêu cầu bên đưa ra yêu cầu chọn
BPKCTT khác chẳng hạn như kê biên tài sản,… nếu bên yêu cầu vẫn không chấp nhận
thì Tòa sẽ bác đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT đó, trừ trường hợp bên bị áp dụng chỉ có
9
khối tài sản duy nhất thì dù cho trị giá khối tái sản đó cao hơn nhiều lần so với nghĩa vụ
bên bị áp dụng phải thực hiện nhưng Tòa vẫn ra quyết định áp dụng BPKCTT là phong
tỏa tài sản theo yêu cầu của nguyên đơn.
Tài sản bị phong tỏa là bất động sản:
Thông thường thị trường nhà đất hay biến động tằng giảm bất thường, cho nên người yêu
cầu áp dụng BPKCTT này sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với sự biến động
này. Tuy nhiên, trên thực tế người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này sẽ khó
lòng mà nhận được khoản tiền bồi thường này nếu như bên đưa ra yêu cầu áp dụng đó
không có khả năng tài chính tức là không có khả năng thi hành án. Vậy thì để tạo ra sự
bình đẳng, công bằng giữa các bên, Tòa có thể vận dụng khoản 13 điều 102 BLTTD qui
định “áp dụng các BPKCTT khác” để cho phép đương sự gửi một khoản tiền, kim khí, đá
quý, giấy tờ có giá trị bằng tiền tương đương với nghĩa vụ mà họ phải thực hiên vào tài
khoản ngân hàng nơi có trụ sở của Tòa để thay cho biện pháp phong tỏa đối với bất động
sản, tuy nhiên phải đạt sự đồng thuận của đương sự có yêu cầu áp dụng BPKCTT này.
Tòa ra quyết định phong tỏa giá trị tài sản còn lại đang được cầm cố, thế chấp
đối với bên thứ ba
Theo quy định của pháp luật hiện hành chỉ cho phép kê biên tài sản thuộc sở hữu của
người có nghĩa vụ thi hành án (qui dịnh tại Điều 90 Luật thi hành án dân sự) chứ không
có quy định nào cho phép phong tỏa tài sản đang thế chấp, cầm cố đối với bên thứ ba và
cũng không có quy định nào cho phép phong tỏa giá trị còn lại của tài sản thế chấp, cầm
cố đó. Bởi lẽ, không thể nào xác định giá trị tài sản còn lại đang được thế chấp, cầm cố là
bao nhiêu. Mặt khác, việc Tòa ra quyết định phong tỏa như vậy đã làm cho người có tài
sản bị phong tỏa không được thỏa thuận với bất kỳ cá nhân, tổ chức khác mà không có sự
đồng ý của nguyên đơn đối với việc chuyển dịch tài sản đang bị phong tỏa cho đến khi vụ
án được Tòa giải quyết và thi hành xong.Ngoài ra, với quyết định phong tòa tai sản trái
pháp luật này đã xâm phạm đến quyền lợi của bên thứ ba đối với việc xử lý khối tài sản
pháp bảo đảm trước khi Hôi đồng xét xử vào phòng nghị án (qui định tại điểm a tiểu mục
9.2 mục 9 Nghị quyết số 02/2005/NQ – HĐTP). Giải pháp để đảm bảo quyền lợi cho
người cho người yêu cầu Tòa áp dụng BPKCTT mà họ chưa có tài sản bảo đảm, không
có hoặc không đủ tài sản bảo đảm đó là sử dụng chứng từ bảo lãnh của Ngân hàng, Tổ
chức tín dụng hoặc cá nhân, tổ chức khác nhưng phải tương đương với thiệt hại thực tế có
thể phát sinh đối với bên bị áp dụng do hậu quả của việc áp dụng BPKCTT không đúng,
trừ các trường hợp khác do pháp luật qui định, Tuy nhiên giải pháp này chỉ đạt hiểu quả
tối ưu khi đat được sự đồng thuận, thống nhất ý chí của ba bên đó là, bên bảo lãnh ( là
ngân hàng, tổ chức tín dụng, cá nhân, tổ chức khác) , bên được bảo lãnh (là người yêu
cầu Tòa áp dụng BPKCTT), bên nhận bảo lãnh (là người bị áp dụng BPKCTT). Bởi
nhược điểm của giải pháp này là bên bảo lãnh hoặc bên nhận bảo lãnh không đồng ý thì
mối quan hệ phát sinh bảo lãnh giữa hai trong ba chủ thể trên với nhau coi như vô hiệu,
không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Về mặt lý luận, do tính chất khẩn
cấp của việc áp dụng BPKCTT nên trước khi ra quyết định áp dụng BPKCTT không thể
bảo trước để nhận sự đồng ý của bên bị áp dụng yêu cầu, bởi nếu thông báo trước khi ra
quyết định thì người bị yêu cầu áp dụng BPKCTT có thể đã tẩu tán TS, rút tiền ra từ tài
khoản,… và khi đó việc ra quyết định áp dụng BPKCTT không còn ý nghĩa gì nữa,
mang tính hình thức mà thôi. Hoặc là trên thực tế, hiếm khi người bị áp dụng BPKCTT
chấp nhận hoặc bên bảo lãnh đồng ý, bởi sau này nếu việc áp dụng BPKCTT là không
đúng thì nguy cơ người yêu cầu áp dụng không có khả năng thanh toán cho bên đã thực
hiện bảo lãnh là khá cao.
Đối với qui định tại khoản 2 điều 120 BLTTDS và được hướng dẫn tại tiểu mục 9.9
mục 9 Nghị quyết số 02/2005/NQ – HĐTP qui định trong trường hợp đương sự thực hiện
nghĩa vụ vào ngày nghỉ, ngày lễ thì Tòa án chỉ nhận tiền đồng Việt Nam. Việc như vậy là
mang tính cứng nhắc, bởi ngoài VNĐ đương sự có thể nộp ngoại tệ, kim khí, đá quý, giấy
tờ có giá hoặc nộp tiền vào tài khoản của Tòa mở tại ngân hàng sau đó nộp lại chứng từ
cho Tòa. Tòa có cần thiết phải làm thay nghĩa vụ của đương sự không? Bởi lẽ nếu thực
12
hiện theo hướng nêu trên vừa tiện lợi, nhanh gọn, ít tốn thời gian mà vừa hạn chế đươc
các thủ tục rườm rà.
thì Tòa mới xác định được vụ án DS đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa hay
không.
1.4Hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp luật: điều 122 BLTTDS
Trong thực tiễn khi áp dụng qui định tại điều 122 BLTTDS Tòa án gặp phải trường
hợp phát sinh đó là sau khi Tòa án ra quyết định áp dụng một hoặc một số BPKCTT
được qui định tại điều 102 BLTTDS, không bị khiếu nại, kiến nghị và cũng không thuộc
một trong các trường hợp quy định tại Điều 122 BLTTDS “Hủy bỏ việc áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời”, nhưng phát hiện việc ban hành quyết định không đúng quy định
của pháp luật. Việc phát hiện này có thể do Tòa tự phát hiện quyết định áp dụng
BPKCTT là trái luật nhưng vụ án chưa thể giải quyết được hoặc khi giải quyết vụ án
nhưng Tòa án để tồn tại quyết định khẩn cấp tạm thời, khi bản án hoặc quyết định giải
quyết vụ án có hiệu lực pháp luật, người có liên quan phát hiện quyết định đó không đúng
pháp luật đã khiếu nại. Đối chiếu với quy định của BLTTDS thì không có quy định về
việc xử lý đối với trường hợp phát hiện quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
không đúng pháp luật.
Vì vậy để tránh gây thiệt hại cho đương sự và thuận lợi cho Tòa án trong việc áp dụng
pháp luật, cần bổ sung vào Điều 122 BLTTDS thêm một trường hợp nữa đó là “Khi phát
hiện quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp luật”.
1.5Phạm vi áp dụng
Áp dụng BPKCTT khác: được qui định tại khoản 13 điều 102 BLTTDS.
Đối với trường hợp áp dụng BPKCTT “giao người chưa thành niên cho cá nhân, tổ
chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục” được qui định tại khoản 1 điều 102
BLTTDS, đây là qui định chưa đầy đủ, bởi ngoài đối tượng là người chưa thành niên còn
14
có các đối tượng khác đó là người mắc bệnh tâm thấn, người không thể nhận thức hoặc
làm chủ được hành vi của mình cững cần được áp dụng như đối tượng là người chưa
thành niên. Vì vậy, tòa có thể vận dụng linh hoạt để ra quyết định áp dụng BPKCTT khác
nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng nêu trên.
Đối với các trường hợp khác mà không được qui định trong các văn bản pháp luật
chuyên ngành, chưa được pháp luật điều chỉnh thì hướng xử lý như thế nào? Về nguyên
đương sự chỉ muốn kháng cáo, viện kiểm sát chỉ muốn kháng nghị đối với quyết định áp
dụng BPKCTT mà không kháng cáo, kháng nghị đối với các phần khác trong vụ án thì
Đương sự, Viện kiểm sát chỉ có thể kháng cáo, kháng nghị toàn bộ bản án theo thủ tục
Phúc thẩm để Tòa Phúc thẩm xem xét lại bản án của Tòa Sơ thẩm đã tuyên trước đó. Đối
với vấn đề này, Tòa án tối cao sớm có hướng dẫn cụ thể để đảm hơn quyền lợi cho các
đương sự khi tham gia tố tụng.
Cấm xuất cảnh khi có tài sản để lại?- khoản 13 Điều 102 BLTTDS
Ví dụ: bà A vay của bà B 2 tỷ đến hạn không thanh toán nên bà B nộp đơn khởi kiện ra
Tòa đồng thời yêu cầu Tòa áp dụng BPKCTT là phong tỏa ngôi nhà của bà A. Tòa ra
quyết định phong tỏa ngôi nhà của bà A và cấm bà A xuất cảnh. Ngoài ra bà A đang thế
chấp ngôi nhà tại ngân hàng để vay 6 tỷ đồng và được ngân hàng định giá ngôi nhà trị giá
là 15 tỷ đồng. Bà A muốn ra nước ngoài để chữa bệnh
Trong trường hợp này, nếu trong quá trình giải quyết vụ án mà có căn cứ cho thấy đương
sự không thực hiện hành vi nhất định, làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án thì Tòa có
thể áp dụng BPKCTT là cấm xuất cảnh kèm với việc phong tỏa tài sản của đương sự. Tuy
nhiên, xét trên khía cạnh khác nếu trong quá trình giải quyết vụ án đương sự còn phải
thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản nợ khác hay là đương sự chỉ có tài sản duy nhất là
căn nhà mà tòa đâng thụ lý, phòng trường hợp đương sự ra nước ngoài mà không trở về,
gây khó khăn, trở ngại cho việc giải quyết vụ án thì Tòa quyết định như vậy là cần thiết.
Nhưng nếu đương sự thật sự bệnh nặng (có xác nhận của bệnh viện, trung tâm khám chữa
bệnh) thì tòa cũng nên tạo điều kiện để đương sự được xuất cảnh đi chữa bệnh, đồng thời
để vừa tạo thuận lợi cho cơ quan xét xử lẫn đương sự bị áp dụng BPKCTT thì đương sự
16
có thể làm bản cam kết, thỏa thuận nêu rõ trong quá trình giải quyết vụ án nếu tòa triệu
tâp mà đương sự vắng mặt, đương sự ra nước ngoài mà không trở về mà kết quả vụ kiện
buộc đương sự phải thực hiện đối với bên yêu cầu áp dụng BPKCTT thì cơ quan thi hành
án có quyền kê biên, phát mại tài sản là căn nhà của đương sự để trả nợ cho bên có yêu
cầu.
1.6Quyết định thay đổi, hủy bỏ, bổ sung BPKCTT.
Vấn đề về quyết định thay đổi, bổ sung BPKCTT
bất cập đó, cần phải tạo sự thay đổi theo hướng cho phép Tòa xem xét trước khi ra quyết
định hủy bỏ BPKCTT và hỏi ý kiến của người có yêu cầu áp dụng BPKCTT trước đó.
1.7Trách nhiệm bồi thường của Tòa.
Đối với qui định trách nhiệm bồi thường của Tòa trong việc áp dụng không đúng
BPKCTT mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc bên thứ ba, đóng vai trò nâng cao
trách nhiệm của Tòa trong việc áp dụng BPKCTT đồng thời đảm bảo quyền lợi của
người bị áp dụng BPKCTT. Tuy nhiên có một hạn chế đối với trách nhiệm bồi thường
của Tòa trong việc không ra hoặc chậm trễ trong ra việc ra quyết định áp dụng BPKCTT,
điều này dễ tạo ra sự tùy tiện của Tòa, xâm phạm đến quyền lợi của người bị áp dụng
BPKCTT đó. Ngoải ra, theo Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2010, trường
hợp Tòa không áp dụng BPKCTT mà gây thiệt hại cho đương sự là trường hợp được bồi
thường nếu có văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định hành vi không áp dụng là
trái luật. Với qui định như vậy, đương sự khó mà được bồi thường bởi chưa có cơ chế để
xác định hành vi không áp dụng BPKCTT của Hội đòng xét xử trong trường hợp đó có
hành vi trái luật hay không. Thiết nghĩ, trong thời gian tới cần tạo ra sự thống nhất cá qui
định trong quá trình tiến hành tố tụng, nếu không chấp nhận yêu cầu của Đương sự về
việc áp dụng BPKCTT thì Tòa cần phải ra quyết định nêu rõ căn cứ của việc không áp
dụng và cho đương sự quyền khiếu nại, tức là nếu thẩm phán không ra quyết định áp
dụng BPKCTT thì đương sự có quyền khiếu nại lên chánh án, nếu Hội đồng xét xử Sơ
thẩm không ra quyết định thì khiếu nại lên Tòa Phúc thẩm để giải quyết.
18
2. KẾT LUẬN
19