ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiến chương Liên hợp quốc đã liệt kê rất nhiều những biện pháp hòa bình để
tạo cơ hội cho chủ thể liên quan sự tự lưa chọn trong giải quyết tranh chấp
quốc tế. Tuy vậy, việc áp dụng các biện pháp hòa bình để giải quyết các
tranh chấp quốc tế trong thực tiễn lại không hề đơn giản. Tranh chấp quốc tế
là vấn đề phức tạp, do đó, các biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế cần
phải được xem xét, nghiên cứu, đánh giá thường xuyên để từ đó khắc phục
những nhược điểm phát huy ưu điểm của từng biện pháp, bảo đảm sự phù
hợp đối với thực tiễn các tranh chấp đang diễn ra.
Xuất phát từ những đặc trưng cơ bản của luật quốc tế, như đặc trưng về chủ
thể, về đối tượng điều chỉnh nên thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong luật
quốc tế cũng có những điểm rất khác biệt so với luật quốc gia. Thẩm quyền
giải quyết tranh chấp trong luật quốc tế suy cho đến cùng, đều do chính các
chủ thể quyết định.
Chính việc thỏa thuận lựa chọn các phương thức thích hợp để giải quyết vấn
đề tranh chấp là một trong những cơ sở xác định thẩm quyền giải quyết tranh
chấp.
Từ quá trình học tập nghiên cứu lí luận, cùng với việc tìm hiểu về thực tiễn
về các cơ quan tài phán quốc tế trong quá tình giải quyết tranh chấp. Nhận
thấy đây là một vấn đề quốc tế lớn nhưng vẫn còn rất mới mẻ. Vì thế, tôi đã
quyết định lựa chọn đề tài về “Nội dung, những ưu, nhược điểm và thực tiễn
áp dụng biện pháp đàm phán trực tiếp để giải quyết tranh chấp quốc tế” để
hoàn thành bài luận cuối kì môn luật công pháp quốc tế của mình.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Lý thuyết chung về tranh chấp quốc tế và giải quyết tranh chấp
quốc tế
1. Khái niệm tranh chấp quốc tế
Căn cứ vào thực tiễn của pháp luật quốc tế hiện nay. Ta có thể hiểu một cách
chung nhất về tranh chấp quốc tế như sau: “Tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh
thực tế mà trong đó các chủ thể tham gia có những quan điểm trái ngược
nhau hoặc mâu thuẫn với nhau, và có những yêu cầu,hay đòi hỏi cụ thể trái
giữa Ấn Độ và Pakistan về lãnh thổ Casmia; giữa Malaysia và Singapore về
đảo có đèn biển ( sau đó Tòa án công lý quốc tế đã quyết định hòn đảo thuộc
về Singapore). Hội nghị đa phương đàm phán 6 bên về khủng hoảng hạt
nhân ở bán đảo Triều Tiên ( gồm Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Trung
Quốc, Triều Tiên).
Đàm phán trực tiếp không chỉ được sử dụng để giải quyết các tranh chấp
giữa các chủ thể luật quốc tế mà còn là phương tiện được sử dụng để trao
đổi thông tin, ý kiến về các vấn đề khác nhau, thống nhất quan điểm đường
lối, ký kết các điều ước quốc tế. đàm phán có thể được tiến hành bởi đại
diện chính thức của các bên hữu quan ở các cấp độ khác nhau, từ cấp cao
2
nhất là Nguyên thủ quốc gia hoặc người đứng đầu chính phủ cho đến cấp
chuyên viên.
Đàm phán trực tiếp có mối liên hệ mật thiết với các biện pháp giải quyết
tranh chấp khác. Trong nhiều trường hợp đàm phán chỉ là giai đoạn khởi đầu
cho một phương thức giải quyết tranh chấp khác. Ví dụ như khi hai bên
tranh chấp giải quyết bằng đàm phán nhưng không thành công và quyết định
tiếp tục giải quyết bằng phương thức thông qua bên thứ ba. Hoặc đàm phán
là hệ quả của việc áp dụng các phương thức giải quyết tranh chấp khác. Ví
dụ khi có tranh chấp xảy ra, các bên tranh chấp chọn phương thức giải quyết
thông qua Ủy ban hòa giải, nhưng trong quá trình nghiên cứu tài liệu về các
bên tranh chấp Ủy ban hòa giải yêu cầu các bên tranh chấp ngồi lại đàm
phán trao đổi quan điểm với nhau trước khi đưa tranh chấp đến bên thứ ba.
2. Ưu điểm của biện pháp đàm phán trực tiếp
- Dễ áp dụng: đàm phán trực tiếp là biện pháp giải quyết tranh chấp được
lựa chọn sử dụng phổ biến nhất bởi tính cơ động, các bên tranh chấp có
thể tiến hành đàm phán giải quyết mâu thuẫn tại bất kỳ thời gian và địa
điểm nào.
- Do đặc trưng của đàm phán là trao đổi trực tiếp, nên sau khi đàm phán
nếu thành công, các bên không chỉ giải quyết được tranh chấp hiện có mà
xung đột về biên giới, lãnh thổ giữa hai miền Nam Bắc Triều Tiên mà còn
liên quan đến chế độ chính trị, an ninh khu vực, quân sự, quyền lợi của các
nước liên quan như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản. Các cuộc đàm phán 6
bên được tiến hành qua nhiều giai đoạn nhưng các bên không thể đi đến một
thỏa thuận có lợi nhất. Trong khi đó, các quốc gia phải đầu tư rất lớn vào
các cuộc đàm phán này, tình hình kinh tế Triều Tiên ngày càng rơi vào
khủng hoảng, sẽ rất khó để kiểm soát được một cuộc chiến hạt nhân nếu như
Triều Tiên rơi vào thế “đường cùng”.
Đặc biệt, trong vấn đề biển Đông, lập trường của Việt Nam cũng như nhiều
nước có chung lợi ích trên biển Đông đều muốn Trung Quốc phải ngồi vào
bàn đàm phán đa phương bởi các hành động của Trung Quốc đang không
chỉ tạo ra mâu thuẫn giữa một quốc gia. Trong đàm phán đa phương, các
nước nhỏ như Việt Nam có thể sử dụng được sức mạnh quốc tế để tạo áp lực
cho Trung Quốc buộc họ phải thực hiện đúng các qui định quốc tế về biển.
Tuy nhiên, trên quan điểm của mình, Trung Quốc luôn muốn “chia để trị”
hơn là ngồi vào bàn đàm phán chắc chắn sẽ dồn mình vào thế yếu.
Bên cạnh việc tổ chức đàm phán đa phương, các cuộc đàm phán song
phương cũng thường xuyên diễn ra, chủ yếu là giữa các nước trong cùng
một khu vực hoặc giữa các nước lớn với nhau. Điển hình là các cuộc đàm
phán giữa Nga và Mỹ về vấn đề vũ khí hạt nhân, lá chắn tên lửa trong thời
gian gần đây. Các nước cũng đi đến nhiều nỗ lực để giải quyết các vấn đề
còn tồn đọng, tuy nhiên để đi đến một điểm chung thì hầu như không có, do
cả hai đều đại diện cho những quan điểm riêng và có nhiều mâu thuẫn nhau.
KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Tóm lại, hiện nay trong xu thế toàn cầu hóa, tạo điều kiện để các quốc gia
hợp tác cùng phát triển trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ, nhưng tiềm ẩn sâu trong các mối quan hệ quốc tế ấy lại là những
nguy cơ làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn và bất đồng trên tất cả các lĩnh vực
trong quá trình chủ thể luật quốc tế đang thiết lập các mối quan hệ hợp tác
quốc tế. Vì thế, yêu cầu mang tính tất yếu để tránh tối đa những xung đột