Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với hàng hóa có khuyết tật theo pháp luật việt nam - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH THỊ THỤC OANH

TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
KINH DOANH ĐỐI VỚI HÀNG HÓA CÓ
KHUYẾT TẬT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH THỊ THỤC OANH

TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
KINH DOANH ĐỐI VỚI HÀNG HÓA CÓ
KHUYẾT TẬT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


2.1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD ... 26
2.2. Chủ thể của trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD......................... 34
2.3. Xác định thiệt hại của NTD về tài sản, tính mạng, sức khỏe ........................................ 36
2.4. Nguyên tắc bồi thường.................................................................................................. 40
2.5. Miễn trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD ......................... 41
2.6. Thực tiễn giải quyết BTTH về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra
cho NTD .............................................................................................................................. 43
2.7. Đánh giá pháp luật hiện hành về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra
cho NTD .............................................................................................................................. 46
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM
BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH HÀNG HÓA
CÓ KHUYẾT TẬT GÂY THIỆT HẠI CHO NGƢỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM ...... 54
3.1. Tiếp tục nghiên cứu lý luận về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra
cho NTD .............................................................................................................................. 54
3.2. Hoàn thiện cơ sở pháp lý về trách nhiệm trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật
gây ra cho NTD.................................................................................................................... 57
3.3. Hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật
gây ra cho NTD.................................................................................................................... 65
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 71


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

: BVQLNTD

Bộ Luật Dân Sự

: BLDS


- Xác định rõ trách nhiệm bồi thường của các chủ thể sản xuất, kinh doanh vi
phạm các quy định của pháp luật về CLSPHH mà gây ra thiệt hại cho người khác là
cơ sở để người bị thiệt hại yêu cầu BTTH cho mình.
- Xác định quyền được BTTH không những của NTD mà còn của người mua
đối với các thiệt hại do vi phạm các quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm,
hàng hoá gây ra.
- Quy định cụ thể các loại thiệt hại mà tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định
của pháp luật về CLSPHH gây ra phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Trên cơ sở
các quy định về BTTH của BLDS, Luật CLSPHH đã quy định cụ thể các loại thiệt
hại được xác định để bồi thường: thiệt hại về giá trị hàng hoá, tài sản bị hư hỏng
hoặc bị huỷ hoại; thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ con người; thiệt hại về lợi ích gắn

1


liền với việc sử dụng, khai thác tài sản và chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và
khắc phục thiệt hại.
- Quy định các trường hợp được miễn trách nhiệm bồi thường trên cơ sở nguyên
tắc của pháp luật dân sự là một người chỉ phải bồi thường nếu có thực hiện hành vi có
lỗi gây ra thiệt hại của người khác. Đây là những trường hợp được miễn trách nhiệm
bồi thường mà chưa được quy định trong luật dân sự và luật thương mại.
Bên cạnh Luật CLSPHH, để bảo đảm an toàn cho sản phẩm, hàng hoá được
đưa ra thị trường, Nhà nước còn ban hành nhiều quy định có liên quan trong BLDS
(2015), Bộ luật hình sự (1999, 2015), Luật Cạnh tranh (2004), Luật Dược (2005,
2015), Luật An toàn thực phẩm (2010), Luật BVQLNTD (2011).
Mặc dù vậy, việc thực thi các quy định pháp luật có liên quan còn khá hạn chế.
Nhiều cơ quan, chính quyền địa phương chưa tích cực tham gia bảo vệ NTD như
yêu cầu luật định. Khả năng tiếp cận các điểm khiếu nại của của NTD (đặc biệt là
NTD ở nông thôn, miền núi, vùng biên giới, hải đảo) còn rất hạn chế, NTD đa phần
còn chưa ý thức rõ được quyền năng và quy trình thực hiện quyền năng của mình.

ra cho NTD và việc thực tiễn giải quyết việc BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây
ra cho NTD. Qua việc nghiên cứu nhận diện, phát hiện những hạn chế, bất cập trong
các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm BTTH do hàng hóa
có khuyết tật gây ra cho NTD, từ đó tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục để
góp phần nâng cao trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức đối với CLSPHH,
BVQLNTD, thúc đẩy nền kinh tế sản xuất hàng hóa phát triển lành mạnh, ổn định
và bền vững.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích của việc nghiên cứu đề tài nêu trên, luận văn có các
nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có
khuyết tật gây ra cho NTD như khái niệm BTTH ngoài hợp đồng; khái niệm NTD;
khái niệm hàng hóa khuyết tật; khái niệm trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết
tật gây ra cho NTD; kinh nghiệm về trách nhiệm BTTH cho NTD của một số nước
trên thế giới.
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về trách nhiệm
BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD.

3


- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm trách nhiệm BTTH do hàng hóa có
khuyết tật gây ra cho NTD.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về trách nhiệm
BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD và việc áp dụng các quy định này
trong thực tế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trách nhiệm BTTH của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có khuyết tật

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Thông qua việc tiến hành phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Việt
Nam về trách nhiệm BTTH của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có khuyết tật
gây ra cho NTD, Luận văn chỉ ra những bất cập, hạn chế trong các quy định của
pháp luật Việt Nam hiện hành và đưa ra một số các giải pháp cần thiết để góp phần
hoàn thiện chính sách, quy định về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật
gây thiệt hại cho NTD.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Dựa trên việc phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về
trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD để có thể nâng cao
trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa đối với NTD nhưng vẫn
đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể này.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được cơ cấu gồm 03 chương, như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh
doanh đối với hàng hóa có khuyết tật.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng.
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có khuyết tật gây thiệt hại cho
người tiêu dùng ở Việt Nam.

5


CHƢƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM

khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác, thì ngoài việc chấm dứt hành vi
vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền cho người
bị thiệt hại [33, Điều 310]. BLDS năm 2005 tiếp tục được kế thừa tại quy định này
tại Điều 307 [34]. BLDS 2015 lại quy định ngắn gọn hơn về trách nhiệm BTTH do
vi phạm nghĩa vụ tại Điều 360 [38] và phân tích rõ hơn về thiệt hại do vi phạm
nghĩa vụ tại Điều 361[38] như sau: 1. Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt
hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần; 2. Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất
thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn
chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; 3. Thiệt hại về
tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể. Như vậy ta có thể
định nghĩa thiệt hại là tổn thất, mất mát về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng (TNBTTH) là một loại trách nhiệm dân sự bao gồm TNBTTH
về vật chất và TNBTTH về tinh thần, phát sinh khi người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô
ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các
quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của
pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên bị
thiệt hại trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng.
Theo BLDS năm 1995, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng được quy định như
sau: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm
phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại,
thì phải bồi thường” [33, Điều 609]. Như vậy, người gây thiệt hại cho người khác
về tài sản, về sức khỏe, tính mạng và các quyền nhân thân khác thì phải bồi thường
theo nguyên tắc của trách nhiệm dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 605 BLDS
1995. BLDS năm 2005 thay thế BLDS năm 1995 quy định căn cứ phát sinh trách

7

khác tạo thành các món ăn mới rồi đem bán) không được coi là hành vi tiêu dùng và
chủ thể thực hiện chúng không phải là NTD. Cũng cần lưu ý là NTD có thể không có
quan hệ trực tiếp với nhà cung cấp. Họ có thể được người mua tặng, cho, cấp phát.

9


1.2.2. Khái niệm về hàng hóa có khuyết tật
Định nghĩa của Luật BVQLNTD về hàng hóa có khuyết tật như sau: “Hàng
hóa có khuyết tật là hàng hóa không bảo đảm an toàn cho NTD, có khả năng gây
thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD, kể cả trường hợp hàng hóa đó
được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa
phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa được cung cấp cho NTD, bao gồm:
a) Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật; b) Hàng
hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu
giữ; c) Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng
không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho NTD [40, Điều 3].” Như vậy, quan
điểm của pháp luật Việt Nam về hàng hóa có khuyết tật đã thể hiện nội dung cơ bản
là hàng hóa không đảm bảo an toàn cho NTD vì những khuyết tật của hàng hóa phát
sinh do thiết kế, sản xuất hay việc hướng dẫn, cảnh báo, sử dụng.
Theo Chỉ thị số 85/374/EEC ngày 25 tháng 7 năm 1985 của Cộng đồng Châu
Âu về sự tương quan hóa các bộ luật, quy định và các điều khoản hành chính của các
quốc gia thành viên liên quan đến trách nhiệm pháp lý đối với các sản phẩm khuyết
tật (sau đây gọi tắt là Chỉ thị 85 về trách nhiệm sản phẩm) thì một sản phẩm được coi
là khiếm khuyết khi nó không an toàn mà người có liên quan mong đợi [7]. Theo
Luật trách nhiệm đối với sản phẩm Nhật Bản, sản phẩm khuyết tật xuất phát từ sự
thiếu an toàn mà sản phẩm ban đầu mang lại, phải kể đến bản chất của sản phẩm,
cách thức sử dụng sản phẩm có thể nhìn thấy trước được từ ban đầu, thời gian khi nhà
sản xuất phân phối sản phẩm và các hoàn cảnh khác liên quan đến sản phẩm.
Như vậy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận và giải thích khác nhau về hàng hóa

nguy hiểm tiềm ẩn trong sản phẩm mà nếu không được cảnh báo hoặc cảnh báo
không đầy đủ thì sản phẩm sẽ gây thiệt hại cho NTD. Sự cảnh báo thích hợp về sự
nguy hiểm tiềm ẩn trong sản phẩm phải thỏa mãn điều kiện: khi sử dụng sản phẩm
đó sẽ không phát sinh các rủi ro một cách vô lý cho người sử dụng. Hiện nay, có rất
nhiều hình thức cảnh báo và hướng dẫn sử dụng sản phẩm thể hiện được đặc tính
nguy cơ tiềm ẩn của sản phẩm để việc sử dụng sản phẩm không phát sinh rủi ro vô
lý cho NTD. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta bắt gặp rất nhiều những cảnh
báo và hướng dẫn ghi trên nhãn mác sản phẩm như: “Không sử dụng đối với phụ nữ

11


đang mang thai và cho con bú”, “Để xa tầm tay trẻ em”, “Không được uống”, “Hút
thuốc là có thể gây ung thư phổi”, “Không được để hóa chất tiếp xúc với da”…Do
đó, nếu một sản phẩm có ẩn chứa những nguy cơ gây nguy hiểm mà được cảnh báo
một cách thích hợp cho người sử dụng theo cách thức thông thường thì nhà sản xuất
không phải chịu trách nhiệm đối với các thiệt hại do nguồn nguy hiểm đó gây ra cho
NTD [30]. Ví dụ, theo tính toán của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm Việt
Nam có khoảng 40.000 người tử vong vì các bệnh liên quan đến sử dụng thuốc lá
[6] nhưng không có tổ chức, cá nhân kinh doanh nào bị khởi kiện về các thiệt hại to
lớn này vì các nhà sản xuất thuốc lá đã thực hiện những hình thức cảnh báo thích
hợp trên vỏ bao thuốc lá.

1.2.3. Khái niệm trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra
cho NTD
Theo quy định của Hiến pháp, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh làm thiệt
hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân
đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Nhà nước có chính sách bảo hộ quyền lợi
của người sản xuất và NTD [35, Điều 28]. Việc tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa đã cung cấp hàng hóa có khuyết tật gây thiệt hại cho NTD cũng là hành vi vi

quy định: “Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất, kinh doanh không bảo đảm
chất lượng hàng hóa mà gây thiệt hại cho NTD thì phải bồi thường” [34, Điều 630].
Như vậy, trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD là
những hậu quả bất lợi về mặt vật chất mà tổ chức, cá nhân phải gánh chịu do cung
cấp hàng hóa có khuyết tật gây ra thiệt hại cho NTD, không phụ thuộc vào tổ chức,
cá nhân đó có lỗi hay không trong việc tạo ra hàng hóa có khuyết tật.
1.3. Các bộ phận cấu thành trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh
đối với hàng hóa có khuyết tật
1.3.1.Căn cứ xác định trách nhiệm
Cũng giống như các trường hợp khác của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng,
trách nhiệm BTTH do vi phạm quyền lợi của NTD sẽ phát sinh khi thỏa mãn bốn
điều kiện:
- Có thiệt hại thực tế xảy ra;
- Có hành vi trái pháp luật;
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại đã xảy ra;

13


- Có lỗi của người gây ra thiệt hại.
Tuy nhiên, khi phân tích từng điều kiện ta sẽ thấy được nét khác biệt của trách
nhiệm BTTH do vi phạm quyền lợi của NTD so với các trường hợp khác của trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra trên thực tế: Có thể nói đây là điều kiện tiền đề
của trách nhiệm bồi thường bởi có “thiệt hại” thì mới cần “bồi thường”. Thiệt hại là
điều kiện xác định trách nhiệm dân sự và cũng là điều kiện cần thiết để ấn định mức
bồi thường cho bên gây ra thiệt hại. Mục đích của việc bồi thường là nhằm khôi
phục lại tình trạng trước khi xảy ra thiệt hại nên trách nhiệm gắn với việc bồi
thường những thiệt hại đã xảy ra. Vì vậy, thiệt hại là một điều kiện làm phát sinh
trách nhiệm bồi thường.

chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại do lỗi của họ gây ra. Vì vậy, nếu là
BTTH trong hợp đồng thì mức bồi thường có thể bằng hoặc cao hơn thiệt hại thực
tế vì trong hợp đồng các bên có thể thỏa thuận và quy định phạt vi phạm… nhưng
BTTH ngoài hợp đồng thì việc bồi thường phải tuân thủ theo những quy định của
pháp luật trên nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Nghĩa
là việc bồi thường phải ngang giá theo đúng quy luật hàng – tiền của nền sản xuất
hàng hóa, để đảm bảo rằng không ai được lợi không có căn cứ pháp luật từ việc bồi
thường. Mặt khác, ý nghĩa của việc bồi thường là nhằm khôi phục lại tình trạng
trước khi có thiệt hại, không nhằm mục đích trừng phạt, đảm bảo sự công bằng cho
các bên. Do vậy, BLDS cũng quy định người gây thiệt hại có thể được giảm mức
bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước
mắt và lâu dài của mình.
Hầu hết các trường hợp BTTH ngoài hợp đồng thì trước thời điểm phát sinh
trách nhiệm bồi thường các bên không có mối quan hệ với nhau về quyền và nghĩa
vụ pháp lý. Tuy nhiên trong trách nhiệm BTTH do vi phạm quyền lợi NTD thì trách
nhiệm lại thường phát sinh từ một hợp đồng trước đó (có thể là hợp đồng mua bán
hàng hóa, sử dụng dịch vụ…). Bởi vậy việc bồi thường cho NTD thường có sự đan
xen giữa trách nhiệm trong và ngoài hợp đồng. Vì vậy cần xác định cụ thể thiệt hại
nào thuộc về trách nhiệm BTTH do vi phạm quyền lợi NTD. Thiệt hại do vi phạm
quyền lợi NTD thường là những thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm.

15


Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được ghi nhận ở Điều 590, BLDS 2015:
Theo đó, “thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức
năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập
thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng

không thỏa thuận được thì sẽ căn cứ vào quy định tương ứng tại BLDS. Việc quy
định mức trần trong BLDS sẽ tạo điều kiện thực thi bản án trên thực tế. Nhìn chung
những quy định trong BLDS là khá đầy đủ và hợp lý. Bên cạnh đó, Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ban hành Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP
ngày 08/07/2006 hướng dẫn rất chi tiết về việc xác định, tính toán những khoản
thiệt hại kể trên nên ở đây tác giả chỉ xin bàn thêm một số vấn đề sau: Để đảm bảo
cho nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời thì những chi phí được nêu ở trên
phải là những “chi phí hợp lý”. Nghĩa là bên cạnh việc đảm bảo yếu tố cần thiết và
nhanh chóng (để giảm thiểu thiệt hại) thì những chi phí đó phải “là chi phí thực tế
cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá trung bình ở
từng địa phương tại thời điểm chi phí” (Nghị quyết 03).
Căn cứ vào hướng dẫn tại Điểm b, tiểu mục 1.1, mục 1, Phần 1, Nghị quyết số
03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của
những người thân thích của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh
thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong
cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại…
Tính mạng, sức khỏe của con người là vốn quý, nó chứa đựng những thuộc tính mà
các loại “tài sản” khác không có. Vì vậy, một khi tính mạng, sức khỏe con người đã
bị xâm phạm thì việc “khôi phục lại tình trạng ban đầu” là rất khó khăn nếu không
muốn nói là không thể. Tuy thuộc về mặt vật chất nhưng tính mạng và sức khỏe
không thể quy ra một “lượng” cụ thể để định giá bởi vậy việc bồi thường chỉ mang
tính chất khắc phục, nhằm bù đắp phần nào những tổn thất, mất mát mà người bị
thiệt hại và gia đình của họ phải gánh chịu. NTD là những người phải chịu những
hậu quả trực tiếp từ việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ kém chất lượng. Những sản
phẩm này đã có tác động không nhỏ đến sức khỏe, tính mạng NTD. Tuy nhiên,

17


NTD muốn được bồi thường thì phải chứng minh có thiệt hại và có những khoản



chính từ hành vi sản xuất, kinh doanh hàng hóa không đảm bảo chất lượng gây thiệt
hại cho NTD. Vậy hàng hóa như thế nào là không đảm bảo chất lượng?
Nhận thức rõ tầm quan trọng của chất lượng hàng hóa có ảnh hưởng đến cuộc
sống con người và sức cạnh tranh của nền kinh tế, Nhà nước ta đã ban hành nhiều
văn bản pháp luật để điều chỉnh trong lĩnh vực này như: Luật Đo lường số
04/2011/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2012; Luật Tiêu
chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006… Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa có
hiệu lực vào đầu năm 2008 thay thế cho Pháp lệnh Chất lượng hàng hóa năm 1999.
Theo Luật Chất lượng hàng hóa 2007 thì: “Người sản xuất thông báo sản phẩm của
mình phù hợp với tiêu chuẩn (sau đây gọi là công bố hợp chuẩn) hoặc với quy
chuẩn kỹ thuật (sau đây gọi là công bố hợp quy) [37. Khoản 1, Điều 24]. Tiêu
chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật được Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật giải
thích như sau: Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng
làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi
trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất
lượng và hiệu quả của các đối tượng này. Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới
dạng văn bản để tự nguyện áp dụng. Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới
hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, quá
trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân
thủ để đảm bảo an toàn, vệ sinh, sức khỏe con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi
trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của NTD và các yêu cầu thiết
yếu khác. Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới
dạng văn bản để bắt buộc áp dụng [37. Điều 3].
Cũng theo Luật này, các cơ sở sản xuất kinh doanh phải công bố tiêu chuẩn kỹ
thuật mà mình áp dụng và đảm bảo việc phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn
quốc tế tương ứng. Để cụ thể hóa những quy định của pháp luật thì các tổ chức, cơ
quan có thẩm quyền đã đưa ra các chỉ số để đánh giá chất lượng sản phẩm. Tổ chức
quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO, trong DIS 9000: 2000, đã đưa ra định nghĩa: “Chất

quả. Bởi vậy, việc xác định mối tương quan giữa chúng là một việc vô cùng phức
tạp. Muốn xác định đúng thiệt hại nào là hậu quả của hành vi trái pháp luật nào thì
trước hết cần phải có những căn cứ đầy đủ và khách quan làm cơ sở để đánh giá.
Sau đó cần xem xét, phân tích nó trong tổng thể những sự kiện, hoàn cảnh khi thiệt

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status