BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
TÊN ĐỀ TÀI
TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA TỔ CHỨC,
CÁ NHÂN KINH DOANH HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ THEO PHÁP
LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TRỊNH VĂN HƯNG
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA TỔ CHỨC,
CÁ NHÂN KINH DOANH HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ THEO PHÁP
LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM
TRỊNH VĂN HƯNG
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ
: 60380107
Chữ viết tăt
BVNTD
Xin đọc là
Bảo vệ người tiêu dùng
Tổ chức quốc tế người tiêu dùng ( Consumers
2
CI
3
NTD
Người tiêu dùng
4
LHQ
Liên hợp quốc
5
Thương nhân
Tổ chức và cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
6
NGƯỜI TIÊU DÙNG .................................................................................................1
1.1. Cơ sở xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng ...................................................................................1
1.1.1. Quan hệ giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và người
tiêu dùng ...............................................................................................................1
1.1.2. Thói quen tiêu dùng và năng lực tự bảo vệ của NTD ................................5
1.1.3. Nhu cầu bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng..........................................7
1.2. Vai trò của pháp luật đối với việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.............10
1.2.1. Khái quát về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng........................10
1.3. Kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng và vận hành cơ chế pháp lý bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng ......................................................................................17
1.3.1. Khái quát về tình hình bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên thế giới ...17
1.3.2. Những nỗ lực quốc tế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng .........................19
1.3.3. Kinh nghiệm xây dựng và vận hành cơ chế pháp lý BVNTD ở một số
nước trên thế giới ...............................................................................................21
1.3.4. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam ...................................................23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KINH
DOANH HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM ................................................26
2.1. Những nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bảo vệ quyền
lợi NTD của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ................................26
2.1.1. Trách nhiệm đối với việc cung cấp thông tin trung thực về hàng hóa, dịch
vụ cho NTD ........................................................................................................26
2.1.2. Trách nhiệm trong việc đảm bảo chất lượng, số lượng hàng hóa, dịch vụ ...32
2.1.3. Trách nhiệm trong việc bảo đảm trung thực về giá cả hàng hóa, dịch vụ35
2.1.4. Trách nhiệm trong việc đảm bảo quyền và lợi ích của NTD đối với các
hợp theo đồng mẫu, các điều kiện giao dịch chung ...........................................39
2.1.5. Trách nhiệm đối với hoạt động quảng cáo, khuyến mại không trung thực,
3.2.2. Sửa đổi bổ xung các quy định về ghi nhãn hàng hoá ...............................76
3.2.3. Sửa đổi bổ xung các quy định về trách nhiệm đảm bảo chất lượng, số
lượng hàng hoá, dịch vụ. ....................................................................................76
3.2.4. Sửa đổi, bổ xung các quy định về trách nhiệm quảng cáo trung thực,
chính xác.............................................................................................................77
3.2..5. Sửa đổi, bổ xung các quy định về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao
dịch chung ..........................................................................................................77
3.2..6. Sửa đổi, bổ xung các quy định về trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh
kiện, phụ kiện .....................................................................................................78
3.2.7. Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm sản phẩm của tổ chức, cá nhân
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.............................................................................79
3.2.8. Hoàn thiện thiết chế thực thi pháp luật BVQLNTD ................................86
3.2.9. sửa đổi, bổ xung các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền lợi
NTD bằng biện pháp hành chính và dân sự .......................................................90
KẾT LUẬN ..............................................................................................................93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................95
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thời đại nào cũng vậy, con người luôn là chủ thể xây dựng và là khách thể
được quan tâm bảo vệ của hệ thống pháp luật. Với mong muốn xây dựng một xã hội
công dân, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh” thì ngoài việc tạo ra một khung pháp lý cho sự tự do cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp, pháp luật còn có một nhiệm vụ hết sức quan trọng là bảo vệ quyền
lợi của NTD.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận thấy tầm quan trọng và sự cấp thiết của
công tác BVNTD, đã có chính sách tôn trọng các quyền của NTD, có biện pháp
chống lại sự lạm dụng của các nhà sản xuất, kinh doanh. Kể từ sau năm 1986, khi
Việt Nam thừa nhận nền kinh tế thị trường, hội nhập với nền kinh tế quốc tế đã làm
Long (2007); Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Nghiên cứu vai trò của Hội
BVNTD trong việc BVNTD ở Việt Nam” do TS. Nguyễn Thị Vân Anh làm chủ
nhiệm đề tài (2011); Bài viết “Bảo vệ quyền lợi NTD trong pháp luật cạnh tranh”
của Thạc sỹ Ngô Vĩnh Bạch Dương, tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11/2000; Bài
viết “Pháp luật và vấn đề BVNTD” của tác giả Đặng Vũ Huân đăng trên tạp chí Dân
chủ và Pháp luật, số chuyên đề về pháp luật và tiêu dùng 1/2005; Bài viết “Gian lận
chuyện thực thi pháp luật BVNTD” của tác giả Nguyễn Ngọc Anh đăng trên tạp chí
Nhà nước và pháp luật số 11/2007; Bài viết “NTD và pháp luật BVNTD” của tác giả
Nguyễn Ngọc Sơn đăng trên Nghiên cứu lập pháp số 1/2009; Tham luận “Pháp luật
về các thiết chế BVNTD” của GS.TS. Lê Hồng Hạnh tại Hội thảo khoa học của Viện
Konrad Adenauer và Bộ Tư pháp Việt Nam (7/2010, tại TP Hồ Chí Minh); Bài viết
“Một số vấn đề lý luận xung quanh Luật Bảo vệ quyền lợi NTD” của PGS. TS.
Nguyễn Như Phát đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2/2010 v.v. Các bài
viết nói trên chỉ dừng lại ở mức độ thông tin cho người đọc về thực trạng pháp luật
BVNTD; hoặc xem xét vấn đề BVNTD dưới góc độ của Luật Cạnh tranh, Luật
Thương mại v.v.
Tạp chí NTD và một số báo điện tử như: Vietnamner, Vietnamexpress v.v.
có một số bài viết giới thiệu chung những thông tin đơn thuần về những vụ vi phạm
pháp luật BVNTD. Những bài viết này chưa mang tính nghiên cứu cao.
Từ những phân tích trên có thể thấy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống
và toàn diện về “ Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
trong việc bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam hiện nay” là thực sự cần thiết cả về
phương diện lý luận và thực tiễn.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu hệ thống lý luận, quan điểm, tài liệu khoa học về trách nhiệm
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
- Hệ thống các quy định pháp luật về trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người
pháp hoàn thiện, thực thi có hiệu quả pháp luật bảo vệ quyền lợi nguời tiêu dùng ở
Việt Nam.
Để thực hiện được những mục đích đó, nhiệm vụ đặt ra đối với luận văn là:
- Làm rõ cơ sở xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với
quyền lợi NTD;
- Phân tích vai trò của pháp luật về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh
doanh đối với việc bảo vệ quyền lợi NTD;
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng và vận hành cơ chế
pháp lý BVNTD và bài học đối với Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm của tổ
chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo vệ quyền lợi NTD;
- Từ những nghiên cứu, phân tích trên, luân văn đưa ra giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật cũng như thực thi có hiệu quả pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng.
6. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình chuyên khảo tương đối hệ thống về chế định trách
nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ trong việc bảo vệ quyền
lợi NTD ở nước ta hiện nay. Bằng việc nghiên cứu khá sâu chế định này, luận văn
đem đến cái nhìn khái quát nhất về vai trò, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh
doanh đối với việc BVNTD, trên cơ sở những đánh giá, phân tích bằng những ví dụ
thực tế luận văn hy vọng sẽ góp phần thiết thực vào việc thực thi có hiệu quả Luật
Bảo vệ quyền lợi NTD trong thời gian tới.
7 Kết cấu luận văn
Kết cấu luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi
nghiên cứu. Ngoài phần lời nói đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và kết
luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
tiêu dùng sản xuất không phải là mục đích cuối cùng của hoạt động kinh tế của loài
người mà chỉ là phương tiện làm cho tiêu dùng đời sống có thể liên tục phát triển.
Với ý nghĩa ấy, tiêu dùng sản xuất cần phải dựa vào tiêu dùng đời sống, phục vụ
1
cho tiêu dùng đời sống. Đương nhiên, không có sản xuất thì cũng không thể có tiêu
dùng thực sự. Nhưng không có tiêu dùng đời sống của loài người thì sản xuất cũng
mất hết ý nghĩa và trở thành sản xuất không có mục đích, biến thành sản xuất dự trữ
lãng phí. Chính vì thế, sản xuất cần có tiêu dùng đời sống, đó là một quá trình, tiêu
dùng đời sống là một mặt đối lập với với sản xuất đồng thời lại là sợi dây liên kết
giữa sản xuất và tiêu dùng [55, tr.8]. Điều đó cũng cho thấy mối quan hệ biện
chứng, không thể tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng và trong trong mối quan hệ ấy
thương nhân và NTD đã xuất hiện.
Trong quá trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa thương nhân và NTD, tác
giả luận văn đã nhận thấy rằng, mối quan hệ này luôn gắn liền với quan điểm của
Nhà nước Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới về “tính yếu thế” của NTD
trong quan hệ với nhà sản xuất, người cung cấp hàng hóa, dịch vụ (thường được gọi
chung là “thương nhân”1).
Tính yếu thế đó thể hiện ở 4 khía cạnh quan trọng sau:
- Yếu thế trong việc tiếp cận, xử lý và hiểu các thông tin về hàng hóa, dịch vụ
trong quan hệ mua bán, trao đổi. Trong quan hệ giao dịch trên thị trường, mối quan
hệ giữa bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ và NTD thường có sự không cân xứng về
thông tin, hiểu biết về chất lượng, tính năng, công dụng, độ bền, các ích lợi của
hàng hóa, dịch vụ. Người mua hàng hóa, dịch vụ, do không được trực tiếp tham gia
vào quá trình sản xuất hàng hóa, dịch vụ, cũng như do hạn chế trong hiểu biết về
chuyên môn, kỹ thuật thường không hiểu được đầy đủ về tính năng, công dụng, chất
lượng, các rủi ro liên quan tới quá trình tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ khi so sánh với
nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ.
hợp lý
- Yếu thế về khả năng chịu rủi ro trong quá trình tiêu dùng sản phẩm. Do
tiềm lực tài chính có hạn, khi xảy ra các rủi ro (tai nạn) phát sinh trong quá trình sử
dụng hàng hóa, dịch vụ, NTD sẽ rơi vào tình trạng khó khăn khi phải tự mình trang
trải các chi phí khắc phục các loại rủi ro này. Trong khi đó, nếu gánh nặng chi phí
ngăn ngừa, gánh chịu rủi ro trong quá trình tiêu dùng sản phẩm (mà NTD không có
lỗi) được chuyển sang cho nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ, thì khả năng
trang trải các chi phí này sẽ cao hơn.
Ngoài ra, trong quan hệ mua bán, giao dịch với các thương nhân, NTD còn
có thể gặp các bất lợi khác như không nắm bắt được các thông tin về giá cả của các
3
loại hàng hóa, dịch vụ tương tự, chất lượng dịch vụ hậu mãi, hiểu biết pháp luật
thấp, không nắm bắt được các thông tin về uy tín của chính thương nhân trên thị
trường, v.v.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010, thì “NTD là người
mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia
đình, tổ chức”. Như vậy, quan hệ giữa NTD và người bán, người cung cấp hàng
hóa, dịch vụ phát sinh trên cơ sở hợp đồng dân sự và tranh chấp từ quan hệ đó cần
được hai bên tự giải quyết theo nguyên tắc hòa giải hoặc theo thủ tục tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, bên cạnh pháp luật tố tụng dân sự hay pháp luật trọng tài, trong hệ thống
pháp luật của nhiều quốc gia chúng ta còn tìm thấy nhóm quy phạm pháp luật về
bảo vệ quyền lợi NTD với quy định về trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ và quyền lợi, trách nhiệm của NTD. Sự tồn tại của nhóm quy
phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD cho thấy sự “can thiệp” của Nhà nước vào
quan hệ kinh doanh của các chủ thể dân sự.
Mục tiêu trước hết của Pháp luật Bảo vệ quyền lợi NTD là bảo đảm sự cân
bằng về lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật. Ai cũng biết, trong quan
kinh doanh. Quyền phát sinh trên cơ sơ hợp đồng là quyền thứ phát, là cấp độ thể
hiện thứ hai của quyền công dân và được tạo ra trên cơ sở năng lực pháp luật và từ
sự thể hiện năng lực hành vi của công dân. Ở đây, quyền lợi của NTD trong quan hệ
với người bán, người cung cấp dịch vụ được bảo vệ theo các nguyên tắc của hợp
đồng, luật Dân sự, luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa… Và tranh chấp, thiệt hại
phát sinh từ quan hệ đó được giải quyết theo các nguyên tắc và thủ tục của pháp luật
Tố tụng dân sự hoặc luật Trọng tài. Sự tồn tại của Pháp luật Bảo vệ quyền lợi NTD
bên cạnh pháp luật về quyền công dân và bảo vệ quyền công dân như Hiến pháp,
luật Dân sự, luật Tố tụng dân sự… chính là một trong những hiện tượng cho thấy sự
bảo vệ của Nhà nước đối với NTD trong quan hệ giữa họ với người bán, người cung
cấp dịch vụ.
1.1.2. Thói quen tiêu dùng và năng lực tự bảo vệ của NTD
Qua quá trình nghiên cứu có thể rút ra một số đặc điểm của NTD Việt Nam
hiện nay như sau:
5
Thứ nhất, tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế giúp cho mức sống
của người dân Việt Nam ngày càng được cải thiện, nhu cầu tiêu dùng cũng tăng lên.
Sự phân hóa giàu nghèo cũng ngày càng gia tăng và tạo ra nhu cầu tiêu dùng khác
nhau. Tâm lý sính ngoại khá phổ biến cho mọi loại hàng hoá sử dụng và xu thế thay
thế hàng sử dụng ngày một tăng so với các thế hệ trước. Việc mua hàng hóa qua
thông tin quảng cáo, truyền miệng khá phổ biến. Bên cạnh đó, nhiều người mua
hàng đắt tiền nhưng hiệu quả sử dụng thấp (như điện thoại, ô tô…) đang trở thành
một xu thế tiêu dùng. Với thực trạng này, nguy cơ bị xâm phạm quyền lợi của NTD
ở Việt Nam là rất lớn.
Thứ hai, nhận thức về quyền của NTD rất thấp. Cho đến nay, số người nắm
rõ những quyền cơ bản của NTD không nhiều và cũng không có sự quan tâm thực
sự đến những quyền này. Quyền được thông tin đầy đủ của NTD còn bị hạn chế,
hàng hóa, nhiều trường hợp không dám khiếu kiện vì nghĩ là không thể thắng; thói
quen của NTD trong việc không giữ hóa đơn hoặc cố tình không lấy hóa đơn để có
thể trốn thuế VAT cũng làm cho việc khiếu nại của NTD khó khăn hơn bởi không
có chứng cứ. Bên cạnh đó, thực tế có nhiều khiếu nại không thể xử lý được, bản
thân nhận thức của NTD cũng còn yếu (theo đánh giá chủ quan của các cán bộ được
khảo sát thì chỉ khoảng 60% NTD khi mua hàng thực phẩm có biết thông tin quan
trọng nhất cần quan tâm là hạn sử dụng).
1.1.3. Nhu cầu bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng
Sản xuất và tiêu dùng là hai mặt thiết yếu của bất cứ nền kinh tế và xã hội
nào. Muốn có tiêu dùng thì phải có sản xuất nhưng sản xuất là để tiêu dùng. Chính
vì thế, ngay từ thưở bình mình của lịch sử, NTD đã tồn tại. “NTD” với tư cách là
một khái niệm pháp lý, được coi là đối tượng quan tâm bảo vệ đặc biệt của pháp
luật chỉ mới xuất hiện vào khoảng những năm 1950 – 1960 của thế ký trước khi các
đạo luật BVNTD ra đời [64]. Điều này cho thấy, nhu cầu BVNTD bằng pháp luật
chỉ mới xuất hiêun một cách cấp thiết vài chục năm trước ở các quốc gia công
nghiệp phát triển và với Việt Nam thì hiện nay, dưới sự tác động mạnh mẽ của quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyên môn hóa trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế, nhu cầu đó ngày càng hiện hữu. Pháp luật BVNTD, vì thế, là sản phẩm
có tính chất lịch sử.
7
Trước thế chiến thứ Hai (nhất là giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20), ở
các nước công nghiệp phát triển (Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật v.v.), nguyên tắc
2 – còn được gọi là học thuyết tự do cạnh tranh hoặc đôi khi có thể
dịch là thứ kinh tế thị trường hoang dã. “Nhà nước không cần và không nên can
thiệt vào quyền tự quyết của các tác nhân kinh tế, không can thiệtp vào các quan hệ
thị trường mà để các bên tự do thương lượng, thỏa thuận” được các quốc gia ứng
dụng khá triệt để trong tổ chức nền kinh tế của mình. Tinh thần của nguyên tắc này
khi xem xét vấn đề của NTD là < caveat emptor > (tức là: hãy để người mua tự ý
mại điện tử đang càng làm cho quá trình chuyên môn hóa có những bước nhảy vọt
hơn nữa về chất, khoảng cách giữa nhà sản xuất và NTD ngày càng xa nhau, sự
chênh lệch giữa hiểu biết của nhà sản xuất về sản phẩm với kiến thức mà NTD biết
về sản phẩm ngày càng lớn, quy mô kinh tế giữa thương nhân với NTD càng có sự
chênh lệch. Điều đó càng làm cho nhà sản xuất với NTD có độ chênh lệch lớn về vị
thế thực tế. Trong bối cảnh ấy, nếu NTD không có các công cụ hỗ trợ, việc NTD bị
nhà sản xuất, phân phối lạm dụng là hoàn toàn có khả năng xảy ra. Nếu chỉ trông
chờ vào khả năng tự bảo vệ của mình, NTD sẽ khó có thể phòng ngừa và khắc phục
được những rủi ro trong quá trình tham gia giao dịch với nhà sản xuất, phân phối
hàng hóa, dịch vụ cũng như trong quá trình sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó. Điều này
đã được thực tiền của không chỉ ở các quốc gia công nghiệp phát triển mà còn ở
chính Việt Nam chứng minh.
Đó chính là lý do vì sao, sự hiện diện của Nhà nước, sự can thiệp của Nhà
nước bằng pháp luật là cần thiết để quan hệ giữa thương nhân với NTD trở nên lành
mạnh, công bằng hơn. Khi xã hội càng phát triển, lĩnh vực pháp luật BVNTD sẽ
càng cần thiết và càng cần được quan tâm.
Kinh tế thị trường càng phát triển thì vấn đề BVNTD càng trở nên bức thiết.
Sự can thiệp của Nhà nước sẽ góp phần đảm bảo sự vận hành lành mạnh của thị
trường hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo công bằng xã hội [56]. Đây cũng là quan điểm
được các chuyên gia quốc tế thừa nhận. Từ kinh nghiệm BVNTD ở Canada, ông
Yvan Turcotter, Chủ tịch Văn phòng BVNTD bang Québec (Canada) cho rằng: Lý
do của sự can thiệp bằng pháp luật là nhằm đảm bảo cho nhà sản xuất, phân phối
không lợi dụng sự bất bình đẳng về vị thế của mình với NTD để có hành vi lạm
dụng, hiện thực hóa tính bình đẳng trong giao dịch đồng thời tái thiết niềm tin của
NTD vào thị trường. thêm vào đó, ông Yvan Turcotte còn nhấn mạnh sự can thiệp
của Chính phủ vào nền kinh tế để BVNTD (thông qua việc khắc phục các yếu thế
của NTD) hoàn toàn không mâu thuẫn với nguyên tắc hoạt động của thị trường tự
do và việc đảm bảo sự bình đẳng của mọi người trước pháp luật [56].
9
10
Trên tinh thần đó, pháp luật BVNTD là loại pháp luật mang tính can thiệp
vào quyền tự do của các nhà cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và như thế,
không có sự tự do và bình đẳng trong quan hệ pháp luật về BVNTD.
Cũng cần lưu ý rằng, các lĩnh vực pháp luật khác như luật Cạnh tranh, luật
An toàn thực phẩm, luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và rộng ra là cả pháp luật
Dân sự, Hình sự đều có thêm mục đích là BVNTD. Tuy nhiên, nếu như những lĩnh
vực pháp luật này BVNTD theo phương pháp can thiệp vào hành vi của nhà sản
xuất, kinh doanh, cung cấp sản phẩm hàng hóa, dịch vụ thông qua những hạn chế
hoặc cấm đoán hành vi thì pháp luật BVNTD (với tính cách là một lĩnh vực pháp
luật độc lập) lại xuất hiện ở phía NTD. Theo đó, pháp luật bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng trực tiếp quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ đối với người tiêu dùng, tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng trong
việc bảo vệ quyền lợi của mình khi bị xâm phạm.
Có thể định nghĩa khái quát “ Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là hệ thống
các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận để điều chỉnh các
quan hệ khi người tiêu dùng mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ”. Theo quan niệm này, pháp luật BVQLNTD
gồm hệ thống các quy phạm thuộc nhiều nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, song
có chung mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD, trong đó Luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng giữ vai trò chủ đạo.
Vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD liên quan đến hầu hết các lĩnh vực trong đời
sống – kinh tế xã hội. Do đó, một văn bản pháp luật không thể bao trùm hết tất cả
các lĩnh vực. Hay nói cách khác, để bảo vệ quyền lợi NTD phải sử dụng một hệ
thống quy phạm pháp luật điều chỉnh. Pháp luật BVNTD của hầu hết các nước trên
thế giới cũng cho thấy điều đó, ví dụ: tại Nhật Bản, ngoài Luật Bảo vệ quyền lợi
NTD còn gần 30 Luật chuyên ngành khác liên quan đến hoạt động BVNTD như:
Luật hợp đồng tiêu dùng, Luật giao dịch thương mại đặc định, Luật sinh học thực
1999 (chẳng hạn: tội sản xuất, buôn bán hàng giả tại điều 156, Điều 157 và Điều
158; tội lừa dối khách hàng tại điều 162; tội quảng cáo gian dối tại Điều 168; tội vi
phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm tại Điều 244 v.v.).
12