LỜI HỌC
CẢM CẰN
ƠN THƠ
TRƯỜNG ĐẠI
KHOA LUẬT
Bộ MÔN THƯƠNG MẠI
Trải qua những năm cố gắng phấn
đấu00—
học tập trên giảng đường đại học. Đến
—ooCũ
hôm nay em đã được thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. Đó là niềm mơ
ước của em.
Nhưng để hoàn thành tốt luận văn này, em xin cảm om quý thầy cô Khoa Luật
đã truyền đạt cho em những kiến thức hữu ích trên lý thuyết cũng như những kinh
nghiệm thực tiễn trong học tập, và hôm nay em vận dụng những kiến thức đã tích
LUẬN
VĂN
TÓT
lũy được vào
việc thực
hiện đề
tài.
NGHIỆP cử NHÂN LUẬT
(Khóa: 2005- 2009)
Đề tài:
Em chân thành cảm ơn Thạc sĩ Kim Oanh Na- Bộ môn Thương mại- Khoa
Tác giả.
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
MỤC LỤC
Trang
......1
Lòi nói đầu
..........................
......3
Phần nội dung
YIỆT NAM VÈ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG...............................................................3
1.1 Một số vấn đề về nuôi trồng thủy sản...............................................................3
1.1.1 Các khái niệm liên quan.............................................................................. 3
1.1.2 Giới thiệu khái quát về ngành nuôi trồng thủy sản ở nước ta.....................6
1.1.3 Tình hình môi trường trong nuôi trồng thủy sản.........................................7
1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản...................... 11
CHƯƠNG 2. TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA TỔ CHỨC,
CÁ NHÂN TRONG NUÔI TRÒNG THỦY SẢN: THựC TRẠNG VÀ
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÈ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG....................................................................................................................18
2.1 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản trong việc bảo vệ môi
trường.....................................................................................................................18
2.1.1 Tuân thủ quy định của pháp luật về sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thuốc
»ữCOc«
Môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người. Môi trường trong
sạch lảnh mạnh thì con người mới có được cuộc sống khỏe mạnh để hoạt động lao
động phát triển kinh tế. Vì vậy, vấn đề bảo vệ môi trường luôn là một trong những
nhiệm vụ trọng yếu và cấp bách của mỗi quốc gia nhất là ở các quốc gia đang phát
triển.
Như chứng ta đã biết, hiện nay phong trào nuôi hồng thủy sản ở Việt Nam
đang rất phát triển. Nghề đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người nuôi, đồng
thời tạo hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, phải thừa nhận một thực tế là bấy lâu con
người chỉ chú trọng phát triển kinh tế hom là quan tâm đến bảo vệ môi trường. Do
đó, nghề nuôi trồng thủy sản hiện đã và đang gây ô nhiễm môi trường và ngày càng
trầm trọng horn.
Đe bảo vệ môi trường, Quốc hội đã thông qua luật bảo vệ môi trường 2005,
trong đó tại Điều 47 quy định trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân
trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. Quy định này nhằm ngăn ngừa, hạn chế tình
trạng ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường trong thời gian
qua bên cạnh một số kết quả đạt được vẫn cò đó những hạn chế chưa khắc phục do
việc am hiểu và chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản còn
hạn chế. Bên cạnh đó là trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong vấn đề thực
thi pháp luật còn nhiều bất cập. Vì vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là phải nghiên cứu
hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm đảm bảo cho công tác bảo vệ môi trường trong
nuôi trồng thủy sản được thuận lợi và tốt hơn.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy
sản với mục đích là nhằm nâng cao hiểu biết về những chính sách và pháp luật mà
nhà nước ta đã đề ra nhằm phục vụ hiệu quả công tác bảo vệ môi trường. Tiếp đến
là tim hiểu vấn đề thực thi pháp luật của các cán bộ và ý thức chấp hành pháp luật
của người dân có đạt được những kết quả khả quan hay không. Mục đích cuối cùng
môi trường.
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
2
SVTH: Tô Thị ủt
1
2
ThS. Nguyễn Anh Tuấn; TS. Nguyễn Thanh Phương - Bài giảng Ngư nghiệp đại cương năm
Nông ngihiệp và Sinh học
Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tẩ chức, cá nhân trong nuôi trồng thủy sản:
Đại học càn Thơ.
Thực trạng pháp luật và thực tiễn tại Đồng bằng sông Cửu Long
ThS. Nguyễn Anh Tuấn; TS.
Phương - Bài giảng Ngư
năm 2000 - Khoa
Nông nghiệp và Sinh
dụng trường Đại học
PHẨN NỘI DUNG
2000 - Khoa
ứng dụng trường
Nguyễn
Thanh
nghiệp đại cương
học
ứng
cần Thơ.
3
4
PTS. Nguyễn Khắc
phố Hồ Chí Minh.
ThS Kim Oanh Na; Võ
Giáo trình Luật môi
Đại học cần Thơ năm
Cường
Giáo
trình
môi
trường
và
bảo
vệ
tác động qua lại lẫn nhau;
"Môi trường" là sự kết họp toàn bộ hoàn cảnh hay điều kiện bên ngoài có ảnh
hưởng tới sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ;
"Môi trường" là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi
chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kỳ hay một xã hội;
"Môi trường" được hiểu là toàn bộ các hệ thống tự nhên và các hệ thống do
con người tạo ra xung quanh mình, ừong đó con người sinh sống và bằng lao động
của mình dã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
4
SVTH: Tô Thị ủt
thuật
thành
Hoàng
trường
2007.
Yến
Trường
Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tẩ chức, cá nhân trong nuôi trồng thủy sản:
Thực trạng pháp luật và thực tiễn tại Đồng bằng sông Cửu Long
1.1.2
Giói thiệu khái quát về ngành nuôi trồng thủy sản ở nước ta:
Ke từ hom hai thập kỷ qua, Việt Nam cũng từng bước tham gia vào phong trào
phát triển nuôi trồng thủy sản của thế giới và đã đạt được nhiều kết quả khả quan.
Năm 2003, sản lượng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam đạt 1.110.138 tấn và
còn nhiều khả năng tăng hom nữa ừong những năm tiếp theo5.
Năm 2005, diện tích nuôi trồng thủy sản toàn khu vực là 680.200 ha với sản
lượng thủy sản khoảng 983.384 tấn. Năm 2007 là 1.100.000 ha với sản lượng đạt
1.268.000 tấn, bằng khoảng 70% sản lượng nuôi trồng thủy sản của cả nước6.
Đồng bằng sông Cửu Long đặc trưng là vùng đất ngập nước, rất thuận lợi cho
việc phát triển nuôi trồng thủy sản. Vì vậy, các mô hình nuôi thủy sản nước lợ mặn tập trung ở một số tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Đồng Tháp... với các mô hình
nuôi trồng khác nhau như: nuôi tôm sinh thái, nuôi tôm tự nhiên, nuôi tôm bán thâm
canh, nuôi tôm thâm canh, nuôi tôm công nghiệp, nuôi tôm luân canh lúa - tôm,
luân canh lúa - cá... Các mô hình nuôi thủy sản nước ngọt tập trung ở một số ti nh
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
6
SVTII: Tô Thị ủt
7
8
/>
Trách nhiệm bảo vệ môi trường cửa tổ chức, cá nhân trong nuôi trồng thủy sản:
Thực trạng pháp ỉuệt và thực tiễn tại Đồng bằng sông Cửu Long
các kênh rạch vùng ngọt hóa đã có dấu hiệu nhiễm bần hữu cơ, các chất vô cơ và
các vi sinh trong nước như: coliíòrm, độ đục, amonỉac, N-NH3, H2S, SO4, Fe... ảnh
hưởng đến chất lượng nước trên sông rạch; còn vùng mặn, hàm lượng sắt trong
9
/> />
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
7
SVTH: Tô Thị ửt
10
11
Tạp chí Tài nguyên và môi trường, số 12 (50) tháng 12/2007
Tạp chí Tài nguyên và
Trách nhiệm bảo vệ môi
10 (48) tháng 10/
Môi trường, số
2007.
trường cửa tể chức, cá nhân trong nuôi trồng thủy sản:
Thực trạng pháp luật và thực tiễn tại Đồng bằng sông Cửu Long
tôm ven biển đã làm gia tăng nhanh quá trình xâm nhập mặn chưa được kiểm soát
chặt chẽ, tác động xấu đến các hệ sinh thái nước ngọt trong khu vực. Ví dụ: tại Cù
Lao Ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng (An Giang), tình trạng người dân đào mới, người
8
SVTII: Tô Thị ủt
12
13
/>
Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tẩ chức, cá nhân trong nuôi trồng thủy sản:
Thực trạng pháp luật và thực tiễn tại Đồng bằng sông Cửu Long
Hậu quả của quá trình tác động của nguồn thải độc hại từ nuôi trồng thủy sản
đã làm suy giảm chất lượng nước ừên sông rạch trong khu vực. Hàm lượng các chất
hữu cơ, amoniac, sun-fua hydro trong nước, chỉ số vi sinh như Coliíòrm, Ecoli... đã
gia tăng so với trước đây.
Những năm gần đây dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản phát sinh trên diện
rộng do ô nhiễm môi trường ở các mô hình nuôi thâm canh cá tra, cá basa... làm cá
chết hàng loạt làm thiệt hại kinh tế rất lớn. Điển hình là vừa qua đã có sự cố môi
trường xảy ra làm cá chết hàng loạt ở một số ao nuôi khi người dân sử dụng hóa
chất bảo vệ thực vật, chế phẩm độc hại để trị bệnh cho cá tra. Nhiều hộ nông dân,
trang trại, doanh nghiệp quy mô lớn... đã phải lâm vào cảnh điêu đứng do nợ nần, ở
một số nơi diện tích nuôi thủy sản phải bỏ hoang do bị ô nhiễm môi trường và dịch
bệnh phát sinh mà chưa khắc phục được12.
Một số ví dụ điển hình:
> Ở Thốt Nốt (Cần Thơ), vùng nước ô nhễm trên sông Hậu đã kéo dài trên
20km. Trong quá trình nuôi, người nuôi đã xả nước trong ao hồ ra sông ngòi. Lượng
cá tôm càng lớn thì chất thải càng nhiều, nước thải, bùn chứa phân của các loại thủy
sản, thức ăn dư thừa bị thối rửa, chất tồn dư của các loại vật tư sử dụng trong nuôi
trồng thủy sản như hóa chất, vôi, khoáng chất, khí hữu cơ, khí vô cơ H 2S, NH3... từ
đã làm cho tình hình ô nhiễm nguồn nước mặt trong vùng ngày càng trở nên nghiêm
trọng do chất thải sau nuôi tôm gây ảnh hưởng tới chất lượng nước. Sự chuyển dịch
ồ ạt diện tích trồng lúa sang nuôi tôm không theo đúng quy hoạch đã phần nào làm
cho mức độ tác động nghiêm ừọng của môi trường nước, hiệu quả nuôi và tác động
trực tiếp đến đời sống của nhiều người dân nuôi tôm trong vùng15.
Bên cạnh đó, tình trạng nhiễm Asen cũng đã được phát hiện ở Đồng Tháp, An
Giang, Vĩnh Long, Bạc Liêu16.
Những người nuôi cá ừa, cá basa không chỉ gây ô nhiễm môi trường nước mà
còn làm ô nhiễm nghiêm trọng môi trường không khí xung quanh khu vực nuôi17.
Vấn đề thủy lợi trong nuôi trồng thủy sản vẫn còn rất hạn chế, gây khó khăn
cho công tác bảo vệ môi trường: Theo viện Kinh tế- quy hoạch thủy sản, nuôi cá tra,
cá basa càn rất nhiều nước và phải thường xuyên thay đổi nước trong ao nuôi do
khả năng lây nhiễm dịch bệnh đối với cá nuôi trong ao là rất lớn. Tại vùng này, do
nguồn nước phục vụ nuôi cá chủ yếu dựa vào các công trình thủy lợi phục vụ sản
xuất nông nghiệp, cho nên các cống thường được thiết kế đáy cống cao hom đáy
kênh. Vì vậy, việc thoát nước ra sông lớn bị hạn chế, dẫn đến chất ô nhiễm đọng lại
đáy kênh, làm tăng ô nhiễm vùng nuôi cá tra, cá basa. Mặt khác, việc thực thi, ứng
dụng các công nghệ xử lý nước thải, bùn thải trong nuôi trồng thủy sản chưa đáp
ứng yêu cầu chất lượng của công tác bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, vẫn có một số hình thức nuôi trồng thủy sản vừa không gây ô
nhiễm môi trường hoặc ít gây ô nhiễm môi trường mà còn mang lại hiệu quả kinh tế
cao. Đó là ở một số hộ gia đình nuôi trồng thủy sản với mật độ nuôi thấp và số
lượng nuôi ít, nuôi thủy sản nhằm mục đích tạo nguồn lưcmg thực cơ bản cho gia
đình nên người nuôi dễ dàng kiểm soát vấn đề ô nhiễm môi trường, và ít tốn kém
hơn trong vấn đề kiểm soát bảo vệ môi trường;... Hoặc với hình thức nuôi thủy sản
kết họp ừên ruộng lúa là một trong những phương thức nuôi trồng thủy sản vừa
mang lại lợi ích kinh tế cao vừa bảo vệ tốt môi trường. Với phương thức này, hiện
nay có rất nhiều mô hình nuôi trồng kết hợp trong sản xuất nông nghiệp mang tính
/> />
17
1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản:
Vấn đề ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy sản hiện nay đã đến mức
báo động. Ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều tổ chức, cá nhân tự
phát đào ao nuôi trồng thủy sản với quy mô lớn. Mặt trái của việc phát triển quá
nóng diện tích nuôi trồng thủy sản ừong khi các điều kiện hỗ trợ cho nghề nuôi như
quy hoạch vùng nuôi, giống thủy sản, kỹ thuật nuôi... chưa đáp ứng được yêu càu
đã đe dọa đến sự phát triển bền vững của nghề nuôi trồng thủy sản và dẫn đến hậu
quả tất yếu là làm ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường.
Tình trạng lạm dụng hóa chất, thuốc chữa bệnh trong nuôi thâm canh, thuốc
bảo vệ thực vật... ngày càng nghiêm trọng (vì hầu hết người dân không am hiểu hết
kiến thức về thú y) đã gây ô nhiễm nguồn nước.
Trong khi quy hoạch vùng nuôi, nhất là quy hoạch thủy lợi chưa đáp ứng được
yêu cầu phát triển, vệ sinh ao nuôi chưa thật tốt nên nguồn nước ao nuôi ngày càng
xấu đi. Môi trường nước bị ô nhiễm kết họp với mật độ thả nuôi dày, chất lượng
giống chưa đảm bảo... đã gây nhiều chứng bệnh cho cá nuôi (khoảng 30- 35% cá
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
11
SVTII: Tô Thị ủt
20
Nông nghiệp và Nông thôn Vĩnh Long, số 72 tháng 9/2007
Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tẩ chức, cá nhân trong nuôi trồng thủy sản:
Thực trạng pháp luật và thực tiễn tại Đồng bằng sông Cửu Long
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
12
SVTII: Tô Thị ủt
Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tẩ chức, cá nhân trong nuôi trồng thủy sản:
Thực trạng pháp luật và thực tiễn tại Đồng bằng sông Cửu Long
trọng, song bảo vệ môi trường cũng không kém phần quan trọng hom vì một môi
trường trong sạch, lành mạnh chính là điều kiện thuận lợi mang lại sức khỏe cho
con người để hoạt động lao động phát triển kinh tế. Do đó, tổ chức, cá nhân nuôi
trồng thủy sản cần phải có ý thức ừách nhiệm trong vấn đề bảo vệ môi trường; về
phía các cơ quan nhả nước cần quan tâm hỗ trợ cho người nuôi về mặt kiến thức, kỹ
thuật nuôi, cơ sở hạ tầng trong nuôi trồng thủy sản nhất là việc ban hành những quy
định pháp luật điều chỉnh hành vi củ họ nhằm giúp cho việc nuôi hồng thủy sản
phát triển thuận lợi mà không gây ô nhiễm môi trường.
1.3 Khái quát về chính sách và pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường
trong
nuôi trồng thủy sản:
Ý thức bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản đóng
vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên pháp luật mới là nền tảng trong vấn đề điều chỉnh
hành vi của con người. Pháp luật thông qua các hệ thống quy phạm để điều chỉnh
hành vi xử sự của con người và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước,
sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ môi trường. Nhận thức được tầm quan trọng
của vấn đề này, Đảng và nhà nước ta rất chú trọng công tác xây dựng và ban hành
các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường và các văn bản khác có liên quan
làm cơ sở pháp lý để điều chỉnh vấn đề bảo vệ môi trường.
> Chính sách bảo vệ môi trường
về môi trường để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia có hiệu quả vào
quá trình toàn cầu hóa.
Những giải pháp chiến lược then chốt được lựa chọn bao gồm: nâng cao ý
thức bảo vệ môi trường; tăng cường quản lý nhà nước, pháp luật về bảo vệ môi
trường; áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường; xây dựng mối quan
hệ hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường; tăng cường đầu tư cho bảo
vệ môi trường; đẩy mạnh xã hội hóa cho công tác bảo vệ môi trường và tăng cường
họp tác quốc tế về bảo vệ môi trường nhằm đạt được các mục tiêu trên.
Ngày 15-11-2004, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW trong
chương trình hành động của Chính phủ và Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày
22/02/2005 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện
đại hóa đất nước, trong đó nhấn mạnh: bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản
không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội
của tất cả các cấp, các ngành; là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Vừa qua, Bộ Thủy sản đã ban hành Quyết định số 1031/QĐ-BTS ngày
30/7/2007, về việc phê duyệt “chương trình hành động” của ngành thủy sản thực
hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi
trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, với 8
nhiệm vụ và các hoạt động cơ bản sau đây:
— Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm về bảo vệ môi
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
14
SVTII: Tô Thị ủt
Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tẩ chức, cá nhân trong nuôi trồng thủy sản:
Thực trạng pháp luật và thực tiễn tại Đồng bằng sông Cửu Long
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
15
SVTII: Tô Thị ủt
Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tẩ chức, cá nhân trong nuôi trồng thủy sản:
Thực trạng pháp luật và thực tiễn tại Đồng bằng sông Cửu Long
về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Nghiêm cấm mọi
hoạt động làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường”.
Đây là hiến pháp đàu tiên quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà
nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện
các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường. Và như vậy, nghĩa vụ bảo vệ môi
trường đã trở thành nghĩa vụ hiến định của công dân và tố chức.
>Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường
Các chính sách về bảo vệ môi trường được cụ thể hóa trong các văn bản quy
phạm pháp luật điều chỉnh về bảo vệ môi trường.
Sau 12 năm thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, nay đã được thay thế
bằng Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Luật này đã được Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11
năm 2005 và có hiệu lực ngày 01/7/2006. Tinh thần nổi bật của Luật Bảo vệ môi
trường 2005 là nhằm đẩy mạnh công tác xã hôi hóa hoạt động bảo vệ môi trường
nhưng cũng đồng thời cho phép sử dụng nhiều biện pháp, công cụ, chế tài mạnh
hơn, có tính răn đe cao hơn. Trong luật 2005 quy định có hệ thống các hoạt động
bảo vệ môi trường, chính sách, biện pháp và nguồn lực bảo vệ môi trường; quyền và
nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân. Luật 2005 cũng đã giảm thiểu
các quy phạm giao cho Chính phủ quy định chi tiết hoặc hướng dẫn. Trong luật
2005, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh ngiệp, cộng đồng,
rất dễ bị ô nhiễm nếu người nuôi không tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo
vệ nguồn nước. Vì thế, nhằm bảo vệ môi trường nước trong hoạt động nuôi trồng
thủy sản. Quốc hội đã ban hành Luật tài nguyên nước (có hiệu lực thi hành ngày
01/01/1999), quy định về việc quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước;
phòng chống và khắc phục hậu quả do nước gây ra.
Nghị định số 34/2005/NĐ- CP ngàyl7/3/1005 về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực tài nguyên nước. Nghị định này quy định các hành vi vi phạm trong
lĩnh vực tài nguyên nước, hình thức xử phạt, mức phạt, thầm quyền xử phạt, thủ tục
xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả.
Nghị định số 137/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 6 năm 2004 của Chính phủ quy
định về xử phạt vi phạm hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bộ luật Dân sự 2005 quy định về bồi thường thiệt hại đối với tổ chức, cá nhân
gây ô nhiễm môi trường.
Bộ luật Hình sự 1999 quy định các tội phạm về môi trường như: tội hủy hoại
nguồn lợi thủy sản; các tội gây ô nhiễm nguồn nước; tội làm lây lan dịch bệnh nguy
hiểm cho người; tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật và thực vật.
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
17
SVTII: Tô Thị ủt
Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tẩ chức, cá nhân trong nuôi trồng thủy sản:
Thực trạng pháp luật và thực tiễn tại Đồng bằng sông Cửu Long
CHƯƠNG 2
2.1.1
Tuân thủ các quy định của pháp luật về sản xuất, nhập khẩu, kỉnh
doanh
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
18
SVTII: Tô Thị ủt
Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tẩ chức, cá nhân trong nuôi trồng thủy sản:
Thực trạng pháp luật và thực tiễn tại Đồng bằng sông Cửu Long
phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy
định khác của pháp luật có liên quan
Thuốc thú y, hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản là những sản phẩm có
khả năng gây ô nhiễm môi trường rất cao. Khi sử dụng thì ngoài những tác dụng
mong muốn, các hóa chất này còn gây ra nhiều tác hại ảnh hưởng xấu đến môi
trường như ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng của cá, tôm nuôi, khả năng
tiêu thụ mồi, làm giảm khả năng đề kháng dịch bệnh thủy sản, gây ô nhiễm môi
trường... Do đó tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thuốc thú y, hóa
chất, các chế phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thủy sản phải đảm bảo đạt tiêu
chuẩn
ngành, tiêu chuẩn Việt Nam theo quy định của pháp luật.
Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thức ăn và nguyên liệu lảm
thức ăn nuôi trồng thủy sản phải tuân theo quy định của pháp luật về vệ sinh thú y.
Nhà nước ta đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định về việc sản
xuất, nhập khẩu, kinh doanh thuốc thú y, hóa chất đùng trong nuôi trồng thủy sản như
Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tẩ chức, cá nhân trong nuôi trồng thủy sản:
Thực trạng pháp luật và thực tiễn tại Đồng bằng sông Cửu Long
— Chỉ được sản xuất, cung ứng cho người nuôi những mặt hàng đã được
cấp chứng nhận được phép sản xuất và tiêu thụ;
— Moi lô hàng trước khi đưa ra thị trường phải thực hiện chế độ ghi nhãn
theo Thông tư sổ 03/2000/TT-BTS ngày 22/9/2000 của Bộ Thủy sản hướng dẫn thực
hiện Quyết định 178/1999/QĐ-TTg ngày 30/8/1999 của Thủ tướng Chỉnh phủ và
Quyết định số 07/2005 ngày 4/02/2005 của Bộ Thủy sản và phải kèm theo phiếu
kiểm tra dư lượng khảng sinh;
— Chấp hành nghiêm túc hoạt động kiểm tra, kiểm soát của Chi cục quản lý
Chat lượng, an toàn vệ sinh và Thú y thủy sản vùng và cơ quan quản lý chất lượng
và Thủ y thủy sản các Tỉnh, Thành pho;
— sẵn sàng xuất trình tài liệu, giấy tờ liên quan đến quy định kiếm soát dư
lượng các chất độc hại trong hoạt động thủy sản khi cơ quan có thấm quyền yêu cầu.
Bộ Thủy sản đã thông qua quyết định số 07/2005/QĐ-BTS ngày 24 tháng 02
năm 2005 về việc ban hành danh mục hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng nêu tại phụ
lục 1 và danh mục hóa chất, kháng sinh hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh
thủy sản nêu tại phụ lục 2 sau đây21.
Danh mục hóa chất, kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng được quy định nhằm
khống chế dư lượng trong sản phẩm thủy sản thấp hom giới hạn dư lượng tối đa cho
phép nêu tại danh mục hóa chất, kháng sinh hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh
doanh thủy sản.
Quyết định số 07/2005/QĐ-BTS ngày 24 tháng 02 năm 2005 của Bộ Thủy sản
quy định như sau:
— Không cho phép ừộn lẫn 02 loại chất kháng sinh trong 01 sản phẩm
thuốc, hóa chất; không cho phép trộn lẫn các hoạt chất cùng nhóm Fluoroquinolone
với nhau. Trong trường họp một sản phẩm có chứa 02 loại hoạt chất kháng sinh, cơ
sở sản xuất phải có đủ bằng chứng khoa học và thực tiễn để bảo đảm trộn lẫn mà
ngoài
danh mục cho phép trong nuôi trồng thủy sản:
Thuốc thú y, hóa chất đã hết hạn sử dụng là thuốc thú y, hóa chất đã không
còn có tác dụng hoặc cỏ tác dụng không mong muốn đối với thủy sản.
Thuốc thú y, hóa chất ngoài danh mục cho phép trong nuôi trồng thủy sản là
thuốc thú y, hóa chất thuộc danh mục cấm sử dụng nêu ở phụ lục 1 trên đây22.
Các loại thuốc thú y, hóa chất đều có thời gian sử dụng, nghĩa là nó chỉ có tác
dụng trong một thời gian nhất định. Nếu quá thời gian sử dụng thì nó sẽ biến đổi về
chất lượng và có khi nó chuyển thành chất độc hại. Vì vậy tổ chức, cá nhân sản
xuất, nhập khẩu, kinh doanh thuốc thú y, hóa chất trong nuôi trồng thủy sản phải
tuân thủ quy định này. Neu tổ chức, cá nhân sử dụng thuốc thú y, hóa chất đã hết
hạn sử dụng thì khi người nuôi trồng thủy sản vô tình mua về sử dụng sẽ gây hại
cho thủy sản đồng thời làm ô nhiễm môi trường. Do đó tổ chức, cá nhân nuôi trồng
thủy sản chỉ được phép sử dụng thuốc thú y, hóa chất mà pháp luật không cấm sử
dụng và phải tuân thủ quy định pháp luật về cách sử dụng chúng. Thuốc thú y, hóa
chất ngoài danh mục cho phép trong nuôi trồng thủy sản thì không được sử dụng.
Chỉ thị số 03/2005/CT-BTS ngày 07 tháng 3 năm 2005 quy định đối với tổ
chức, cá nhân trực tiếp nuôi trồng thủy sản như sau:
— Sử dụng thuốc, hóa chất đúng mục đích; không tùy tiện sử dụng thuốc,
GVHD: ThS. Kim Oanh Na
21
SVTII: Tô Thị ủt