Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản – Pháp luật và thực tiễn - Pdf 31

Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của đời
sống con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, của dân
tộc và nhân loại, sự biến đổi một số thành phần môi trường sẽ gây tác động đáng kể đối
với các hệ sinh thái. Vì vậy, vấn đề bảo vệ môi trường luôn là một trong những nhiệm vụ
trọng yếu và cấp bách của mỗi quốc gia nhất là ở các quốc gia đang phát triển.
Như chúng ta đã biết, hiện nay hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam đang
rất phát triển. Hoạt động này đã mang lại thu nhập đáng kể cho người khai thác, đồng
thời tạo hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, phải thừa nhận thực tế là bấy lâu con người chỉ
chú trọng phát triển kinh tế hơn là quan tâm đến bảo vệ môi trường. Do đó, hoạt động
khai thác khoáng sản hiện và đang gây ô nhiễm môi trường và ngày càng nghiêm trọng
hơn.
Để bảo vệ môi trường, Đảng và Nhà nước ta có những chủ trương, biện pháp giải
quyết các vấn đề môi trường như là nghị quyết 41-NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004
về bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước… Và ngày
29 tháng 11 năm 2005 Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ môi trường 2005, trong đó tại
điều 44 quy định trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai
thác khoáng sản. Quy định này nhằm ngăn ngừa, hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường.
Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường trong thời gian qua bên cạnh một số kết quả đạt
được vẫn còn đó những hạn chế chưa khắc phục do việc am hiểu và chấp hành pháp luật
của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản còn hạn chế. Bên cạnh đó là trách nhiệm của
các cơ quan chức năng trong vấn đề thực thi pháp luật còn nhiều bất cập.
Xuất phát từ tầm quan trọng của môi trường và nhiệm vụ mà Đảng đề ra trong
quá trình cộng nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước như đã nêu trên, người viết đã chọn
nghiên cứu đề tài: “Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động
khai thác khoáng sản – Pháp luật và thực tiễn”, nhằm phục vụ cho công tác bảo vệ
môi trường hoạt động khai thác khoáng sản có hiệu quả và thực hiện nhiệm vụ đã đề ra.
2. Mục đích nghiên cứu

sản
Chương 2. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức,
cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản
Chương 3. Thực tiễn và các giải pháp bảo vệ môi trường hoạt động khai thác
khoáng sản
Qua đây người viết xin gởi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể quý thầy cô Khoa
Luật, trường Đại học Cần Thơ đặc biệt là thầy Kim Oanh Na – người đã tận tình hướng
dẫn cho người viết hoàn thành đề tài nghiên cứu này. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, bên
GVHD: ThS Kim Oanh Na 2 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
cạnh những mặt tích cực đã đạt được của đề tài vẫn còn những thiếu sót nhất định do
người viết còn hạn chế về trình độ, khả năng và điều kiện nghiên cứu chưa thuận lợi. Rất
mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng bạn đọc!

GVHD: ThS Kim Oanh Na 3 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ HOẠT ĐỘNG
KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
Để nghiên cứu thành công một vấn đề cụ thể trong khoa học pháp lý, thì việc
nghiên cứu vấn đề lý luận là một nền tảng vững chắc, làm cơ sở để nhận định luật thực
định, có phương hướng đề ra cách thức giải quyết những vấn đề cần hoàn thiện về mặt
pháp lý cũng như về thực tiễn một cách phù hợp nhất.
1.1 Khái quát về môi trường
1.1.1 Khái niệm môi trường
Thuật ngữ “môi trường” có thể được dùng trong rất nhiều các trường hợp khác
nhau như môi trường sư phạm, môi trường xã hội, môi trường pháp lý,…Tất cả các thuật
ngữ trên đều có điểm chung là: “là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài có một

GVHD: ThS Kim Oanh Na 4 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
Như vậy bất cứ một sự vật hiện tượng nào cũng tồn tại trong một môi trường của
nó. Tuy nhiên môi trường, cái mà loài người hiện nay phải đối mặt và nghiên cứu bảo vệ
nó là môi trường sống bao quanh con người.
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh
học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con
người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả không khí, động, thực vật, đất,nước…
Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn
nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng cần cho sản xuất, tiêu thụ và là
nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh để giải trí, làm cho cuộc
sống con người thêm phong phú.
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ xã hội giữa người với người, đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định… Ở các cấp khác nhau như: Liên Hiệp Quốc,
hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các
tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể… Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con
người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát
triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác.
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và
phát triển
4
.
1.1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là một khái niệm được nhiều ngành khoa học định nghĩa.
Dưới góc độ sinh học, khái niệm này chỉ tình trạng của môi trường trong đó những yếu
tố hóa học, lý học của nó thay đổi theo chiều hướng xấu đi. Dưới góc độ kinh tế học, ô
nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật
lí, hóa học, sinh học mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khỏe của

3
. Như vậy không khí khu dân cư đó đã bị ô
nhiễm khí SO
2
.
1.1.3 Khái niệm về bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường được hiểu là những hoạt động nhằm giữ cho môi trường
trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo môi trường sinh thái, ngăn chặn,
khắc phục những hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai
thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
5
.
Theo khoản 3 điều 6 của Luật Bảo vệ môi trường 2005 có quy định: “Hoạt động
bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa,
hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm,
suy thối, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài
nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”.
Thế giới ngày càng phát triển đã gây nên tác động xấu đến môi trường, làm cho
môi trường ngày càng biến đổi sâu sắc, rộng lớn, bị ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa sự
sống còn của hành tinh chúng ta. Vì vậy vấn đề môi trường và phát triển đã trở thành
vấn đề hết sức cấp bách của chúng ta. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã sớm nhận rõ tầm
quan trọng và mối quan hệ gắn kết giữa phát triển kinh tế - xã hội và công tác bảo vệ
môi trường, đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Chỉ thị 36-CT/TW, ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam “Về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước” đã chỉ rõ: “Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của
đất nước, của nhân loại, là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh
xóa đối giảm nghèo của mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên
phạm vi toàn thế giới”. Mục tiêu của công tác bảo vệ môi trường là “ngăn ngừa ô nhiễm
5

tượng lao động sản xuất và hình thành các nguồn lực cần thiết cho việc sản xuất ra của
cải vật chất của loài người. Trong số này một số có thể tái tạo được, một số khác không
thể tái tạo được. Trong quá trình khai thác, nếu mức độ khai thác nhanh hơn mức độ tái
tạo thì gây ra tình trạng khan hiếm, suy kiệt hoặc khủng hoảng đối với môi trường. Với
chức năng thứ hai này môi trường là nơi cung cấp nguyên liệu và năng lượng phục vụ
hoạt động sản xuất kinh tế và đời sống của con người. Để tồn tại và phát triển, con người
phải dựa vào các tài nguyên sẵn có trong tự nhiên và môi trường là nơi cung cấp các yếu
tố đó.
GVHD: ThS Kim Oanh Na 7 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
- Thứ ba: Môi trường là nơi chứa đựng chất thải của quá trình sinh hoạt trong
cuộc sống của con người và của quá trình sản xuất.
Trong quá trình sinh sống và phát triển xã hội, con người một mặt khai thác các
nguồn tài nguyên để sinh hoạt và sản xuất các loại hàng hóa khác nhau nhưng lại thải
vào môi trường các chất thải trong quá trình sinh hoạt và sản xuất.
1.1.4.2 Vai trò của môi trường đối với đời sống kinh tế - xã hội
Từ việc nhận thức chức năng của môi trường cho thấy môi trường có vai trò đặc
biệt đối với đời sống kinh tế - xã hội.
Môi trường là không gian chứa đựng các cơ thể sống bao hàm xã hội loài người,
giới sinh vật (động vật và thực vật). Mỗi cơ thể sống không thể tồn tại ở ngoài môi
trường được. Vì vậy nói tới vai trò của môi trường đối với đời sống xã hội điều đầu tiên
cần phải nhấn mạnh: Môi trường là không gian sống của mọi loài sinh vật (kể cả con
người),các loài sinh vật sinh ra, lớn lên, trưởng thành và tiêu vong đều ở trong môi
trường. Nếu không gian môi trường trong sạch sẽ làm cho chất lượng cuộc sống được
nâng cao, mọi loài sinh vật sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển tốt, ngược lại nếu
không gian môi trường bị ô nhiễm, môi trường bị suy thoái sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng của cuộc sống và như vậy sẽ cản trở sự phát triển bình thường của mọi loài
sinh vật, trong đó có xã hội loài người. Do đó bảo vệ môi trường, giữ cho môi trường
trong sạch có tác dụng trực tiếp đến việc bảo tồn và duy trì sự sống của mọi sinh vật ở

trường. Tự bản thân máy móc, công cụ sẽ không phát huy tác dụng nếu không có nguyên
vật liệu, nhiên liệu; con người dù thông minh sáng tạo đến bao nhiêu cũng sẽ không thể
có không gian để tồn tại và sản xuất nếu không có môi trường. Không thể tách sự phát
triển kinh tế - xã hội khỏi môi trường, môi trường và phát triển có mối quan hệ khăng
khít với nhau. “Nếu không bảo vệ môi trường một cách chính đáng, phát triển sẽ bị yếu
dần. Ngược lại, không có phát triển, bảo vệ môi trường sẽ thất bại”
6
.
Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh
thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng
cao chất lượng văn hóa. Phát triển là xu hướng chung của từng cá nhân và cả loài người
trong quá trình sống, giữa môi trường và phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: Môi
trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên
các biến đổi tích cực và tiêu cực đối với môi trường. triển kinh tế - xã hội là nhu cầu tất
yếu của loài người và tất nhiên trong quá trình phát triển kinh tế con người sẽ phải khai
thác môi trường, do vậy ở đây nảy sinh mâu thuẫn giữa việc phát triển kinh tế và bảo vệ
môi trường.
Trong phạm vi một quốc gia, cũng như trên toàn thế giới, luôn luôn tồn tại hai hệ
thống: Hệ thống kinh tế - xã hội và hệ thống môi trường. Hệ thống kinh tế - xã hội cấu
thành bởi các khâu: Sản xuất, lưu thông phân phối, tiêu thụ, tạo nên một dòng luân
chuyển nguyên liệu, năng lượng, hàng hóa, phế thải giữa các phần tử của hệ thống. Hệ
thống môi trường với các thành phần thiên nhiên và xã hội cùng tồn tại trên một địa bàn
với hệ thống kinh tế - xã hội. Mối quan hệ hay mâu thuẫn đều được biểu hiện rất rõ ràng.
Hệ thống kinh tế lấy nguyên liệu, năng lượng từ hệ thống môi trường. Đây là một
chức năng của môi trường: cung cấp nguyên, nhiên liệu cho cuộc sống con người. Nếu
vì phát triển kinh tế mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được hoặc
khai thác quá khả năng phục hồi đối với tài nguyên tái tạo được thì sẽ dẫn tới không còn
6
Xem Báo cáo phát triển thế giới 1992 của Ngân hàng thế giới
GVHD: ThS Kim Oanh Na 9 SVTH: Đỗ Thành Tâm

1.2.1 Phân loại khoáng sản
Theo tính chất của công dụng, Khoáng sản được chia ra làm bốn nhóm: Khoáng
sản kim loại, khoáng sản phi kim, khoáng sản nhiên liệu và khoáng sản nước.
- Khoáng sản kim loại là những quặng, qua quá trình chế luyện, lấy ra kim loại
hoặc hợp chất của chúng, thuộc nhóm này gồm: Nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt
(sắt, Mangan, Crôm…); Nhóm kim lại cơ bản (Thiếc, Đồng, Chì, Kẽm…); Nhóm kim
loại nhẹ (Nhôm, Titan, Magiê…); Nhóm kim loại phóng xạ (Uran, thori, rađi) và nhóm
kim loại hiếm và đất hiếm.
GVHD: ThS Kim Oanh Na 10 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
- Khoáng sản phi kim là những quặng được sử dụng trực tiếp hoặc qua chế biến
để lấy ra đơn chất hoặc hợp chất không kim loại: nhóm khoáng sản hóa chất và phân bón
(lưu huỳnh, apatit, phôtphorit…); Nhóm nguyên liệu gốm sứ - chịu lửa (sét, kaolin…) và
nhóm nguyên liệu kiến trúc xây dựng (cát, đá vôi, đá hoa…).
- Khoáng sản nhiên liệu gồm các đá có nguồn gốc sinh vật (than bùn, than đá,
dầu…). Loại khoáng sản này ngoài việc làm chất đốt, khoáng sản nhiên liệu còn để sản
xuất ra hóa phẩm, dược phẩm và các thành phần khác (sợi nhân tạo, vật liệu khuôn
đúc.v.v…).
- Khoáng sản nước: Là các loại nước được dùng cho sinh hoạt và công nghiệp
như nước khoáng, bùn khoáng sử dụng trong y tế và sinh hoạt.
1.2.3 Khái niệm khai thác khoáng sản
Khai thác khoáng sản là hoạt động xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, sản xuất và
các hoạt động có liên quan trực tiếp nhằm thu hồi khoáng sản (khoản điều 3 Luật khoáng
sản 1996).
Theo Luật khoáng sản 2010 thì khai thác khoáng sản lả hoạt động nhằm thu hồi
khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, làm giàu và các hoạt động có liên
quan.
Đây là hoạt động được tiến hành sau khi đã có giấy phép khai thác khoáng sản
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được tính từ khi mỏ bắt đầu xây dựng cơ bản

yếu là từ khai khoáng: Bruei, Cooet, Veneduela là những ví dụ điển hình.
Về phương diện chính trị: Khoáng sản tạo cho các quốc gia có một vị trí quan
trọng trong giao lưu quốc tế. Nó góp phần không nhỏ vào việc làm tăng tính độc lập, tự
chủ của mỗi quốc gia. Thậm chí trong một số trường hợp, nó còn làm tăng các ảnh
hưởng về mặt chính trị của quốc gia này đối với quốc gia khác, các quốc gia không có
tài nguyên khoáng sản thường phụ thuộc rất nhiều về kinh tế cũng như chính trị đối với
các quốc gia có ưu thế trong vấn đề này.
Vai trò, tầm quan trọng của tài nguyên khoáng sản còn thể hiện trong các ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của các hoạt động khoáng sản tới môi trường xung quanh.
Thực tế cho thấy các ảnh hưởng của hoạt động khoáng sản tới các thành phần môi
trường khác như đất, nước, không khí, hệ sinh thái… thường rất nghiêm trọng. Điều này
bắt nguồn từ đặc điểm của hoạt động khoáng sản là thường được tiến hành trên quy môi
rộng lớn, với số lượng khai thác nhiều, thời gian hoạt động kéo dài và thường phải sử
dụng nhiều phương tiện và hóa chất trợ giúp. Phạm vi và mức độ ảnh hưởng tới môi
trường càng nghiêm trọng khi đó là những hoạt động khai thác khoáng sản độc hại.
1.3 Khai thác khoáng sản và tác động đến môi trường
1.3.1 Hiện trạng khai khoáng sản ở nước ta
Việt Nam là nước có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản. Cho đến nay ngành
Địa chất đã tìm kiếm, phát hiện hơn 5000 mỏ và điểm quặng của khoảng 60 loại khoáng
sản khác nhau. Một số khoáng sản đã được phát hiện và được khai thác từ rất lâu như
vàng, thiếc, chì, kẽm, than đá và các loại vật liệu xây dựng; số khác mới được phát hiện
và được khai thác như dầu khí, sắt đồng… Một số nơi, có những mỏ tập trung như than
ở Quảng Ninh, bôxit ở Tây Nguyên và apatit, đất hiếm ở miền Bắc.
+ Nhu cầu của cuộc sống đã tạo nên áp lực của việc khai thác khoáng sản
- Nhu cầu về vật liệu xây dựng:
GVHD: ThS Kim Oanh Na 12 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng của ngành Xây dựng có bước đột phá
lớn, đòi hỏi khối lượng lớn khoáng sản, vật liệu xây dựng để đáp ứng. Vì vậy, hàng loạt

năng lực công nghệ, thiết bị, quản lý. Hoạt động sản xuất, kinh doanh đã có sự gắn kết
chặt chẽ giữa mục tiêu lợi nhuận, kinh tế với trách nhiệm bảo vệ môi trường, bảo vệ tài
nguyên khoáng sản. Do khả năng đầu tư còn hạn chế nên các mỏ khai thác quy mô công
GVHD: ThS Kim Oanh Na 13 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
nghiệp ở nước ta hiện chưa đồng đều về hiệu quả kinh tế, về việc chấp hành các quy
định của pháp luật về khoáng sản, về bảo vệ môi trường.
- Khai thác khoáng sản quy mô nhỏ, tận thu
Hình thức khai thác này đang diễn ra phổ biến ở hầu hết các địa phương trong cả
nước và tập trung chủ yếu vào các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng Ngoài ra nhiều
tỉnh còn khai thác than, quặng sắt, antimon, thiếc, chì, kẽm, bôxit, quặng ilmenit dọc
theo bờ biển để xuất khẩu. Do vốn đầu tư ít, khai thác bằng phương pháp thủ công hoặc
bán cơ giới là chính, nên trong quá trình khai thác đã làm ảnh hưởng đến môi trường,
cảnh quan.
- Khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản
Việc khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản, kéo theo các hậu quả nghiêm
trọng như tàn phá môi trường, làm thất thoát, lãng phí tài nguyên. Việc khai thác trái
phép tài nguyên khoáng sản gây hậu quả lớn đến môi trường, chủ yếu là nạn khai thác
vàng, sử dụng cyanur, hoá chất độc hại để thu hồi vàng đã diễn ra ở Quảng Nam, Lâm
Đồng, Đà Nẵng; khai thác chì, kẽm, thiếc, than ở các tỉnh miền núi phía Bắc; khai thác
quặng ilmenit dọc bờ biển, đã phá hoại các rừng cây chắn sóng, chắn gió, chắn cát ven
biển; khai thác cát, sỏi lòng sông gây xói lở bờ, đê, kè, ảnh hưởng các công trình giao
thông, gây ô nhiễm nguồn nước; khai thác đá vật liệu xây dựng phá hoại cảnh quan, môi
trường, gây ô nhiễm không khí.
1.3.2 Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nước, các hoạt động
khai thác khoáng sản đã và đang góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới đất
nước. Ngành công nghiệp khai thác mỏ đã và đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng
trong nền kinh tế của Việt Nam.

v.v... mà nguyên nhân chính là do nước thải, chất thải rắn không được xử lý đổ bừa bãi
ra khai trường và khu vực tuyển quặng.
Việc khai thác vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho sản xuất phân bón và hoá chất
như đá vôi cho nguyên liệu xi măng, đá xây dựng các loại, sét, cát sỏi, apatit, ... đã gây
những tác động xấu đến môi trường như làm ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước. Nhìn
chung quy trình khai thác đá còn lạc hậu, không có hệ thống thu bụi, nhiều khí hàm
lượng bụi tại nơi làm việc lớn gấp 9 lần với tiêu chuẩn cho phép.
+ Ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên khác
Khai thác khoáng sản là quá trình con người bằng phương pháp khai thác lộ thiên
hoặc hầm lò đưa khoáng sản từ lòng đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Các hình
thức khai thác bao gồm: khai thác thủ công, khai thác quy mô nhỏ và khai thác quy mô
vừa.
Bất cứ hình thức khai thác khoáng sản nào cũng dẫn đến sự suy thoái môi
trường. Nghiêm trọng nhất là khai thác ở các vùng mỏ, đặc biệt là hoạt động của các mỏ
khai thác than, quặng và vật liệu xây dựng. Năm 2006 các mỏ than của Tập đoàn Công
nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam đã thải vào môi trường tới 182,6 triệu m
3
đất đá
và khoảng 70 triệu m
3
nước thải từ mỏ. Quá trình khai thác khoáng sản thường qua ba
bước: mở cửa mỏ, khai thác và đóng cửa mỏ. Như vậy, tất cả các công đoạn khai thác
đều tác động đến tài nguyên và môi trường đất. Hơn nữa, công nghệ khai thác hiện nay
chưa hợp lý, đặc biệt các mỏ kim loại và các khu mỏ đang khai thác hầu hết nằm ở vùng
GVHD: ThS Kim Oanh Na 15 SVTH: Đỗ Thành Tâm
Luận văn: Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn
núi và trung du. Vì vậy, việc khai thác khoáng sản trước hết tác động đến rừng và đất
rừng xung quanh vùng mỏ.
Hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những nguyên nhân làm giảm độ

biện pháp nhằm giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động
xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục tình trạng ô nhiễm, suy thoái,
GVHD: ThS Kim Oanh Na 16 SVTH: Đỗ Thành Tâm

Trích đoạn Trách nhiệm hành chính Trách nhiệm dân sự Hợp nhất 3 tội gây ô nhiễm (không khí,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status