Luận văn trách nhiệm
bảo vệ môi trường
của tổ chức, cá nhân,
hoạt động của khai
thác khoáng sản
MỤC LỤC
Luận văn trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân, hoạt động của khai thác khoáng
sản 1
MỤC LỤC 2
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của đời
sống con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, của dân
tộc và nhân loại, sự biến đổi một số thành phần môi trường sẽ gây tác động đáng kể đối
với các hệ sinh thái. Vì vậy, vấn đề bảo vệ môi trường luôn là một trong những nhiệm
vụ trọng yếu và cấp bách của mỗi quốc gia nhất là ở các quốc gia đang phát triển.
Như chúng ta đã biết, hiện nay hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam
đang rất phát triển. Hoạt động này đã mang lại thu nhập đáng kể cho người khai thác,
đồng thời tạo hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, phải thừa nhận thực tế là bấy lâu con
người chỉ chú trọng phát triển kinh tế hơn là quan tâm đến bảo vệ môi trường. Do đó,
hoạt động khai thác khoáng sản hiện và đang gây ô nhiễm môi trường và ngày càng
nghiêm trọng hơn.
Để bảo vệ môi trường, Đảng và Nhà nước ta có những chủ trương, biện pháp
giải quyết các vấn đề môi trường như là nghị quyết 41-NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm
2004 về bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước… Và
ngày 29 tháng 11 năm 2005 Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ môi trường 2005, trong
đó tại điều 44 quy định trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động
khai thác khoáng sản. Quy định này nhằm ngăn ngừa, hạn chế tình trạng ô nhiễm môi
trường. Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường trong thời gian qua bên cạnh một số kết
quả đạt được vẫn còn đó những hạn chế chưa khắc phục do việc am hiểu và chấp hành
pháp luật của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản còn hạn chế. Bên cạnh đó là trách
hợp với tình hình xã hội và yêu cầu bảo vệ môi trường ở nước ta.
5. Cấu trúc của đề tài
Để thuận tiện cho việc theo dõi, nghiên cứu cũng như tránh bỏ sót những vấn đề
quan trọng cần đề cập, người viết phân chia luận văn làm ba chương, bao gồm:
Chương 1. Những lý luận cơ bản về môi trường và hoạt động khai thác khoáng
sản
Chương 2. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức,
cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản
Chương 3. Thực tiễn và các giải pháp bảo vệ môi trường hoạt động khai thác
khoáng sản
Qua đây người viết xin gởi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể quý thầy cô
Khoa Luật, trường Đại học Cần Thơ đặc biệt là thầy Kim Oanh Na – người đã tận tình
hướng dẫn cho người viết hoàn thành đề tài nghiên cứu này. Mặc dù đã có nhiều cố
gắng, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được của đề tài vẫn còn những thiếu sót nhất
định do người viết còn hạn chế về trình độ, khả năng và điều kiện nghiên cứu chưa
thuận lợi. Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng bạn đọc!
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ HOẠT ĐỘNG
KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
Để nghiên cứu thành công một vấn đề cụ thể trong khoa học pháp lý, thì việc
nghiên cứu vấn đề lý luận là một nền tảng vững chắc, làm cơ sở để nhận định luật thực
định, có phương hướng đề ra cách thức giải quyết những vấn đề cần hoàn thiện về mặt
pháp lý cũng như về thực tiễn một cách phù hợp nhất.
1.1 Khái quát về môi trường
1.1.1 Khái niệm môi trường
Thuật ngữ “môi trường” có thể được dùng trong rất nhiều các trường hợp khác
nhau như môi trường sư phạm, môi trường xã hội, môi trường pháp lý,…Tất cả các
thuật ngữ trên đều có điểm chung là: “là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài
có một ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện nào đó”.
của nó. Tuy nhiên môi trường, cái mà loài người hiện nay phải đối mặt và nghiên cứu
bảo vệ nó là môi trường sống bao quanh con người.
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh
học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con
người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả không khí, động, thực vật, đất,nước…
Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn
nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng cần cho sản xuất, tiêu thụ và
là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh để giải trí, làm cho cuộc
sống con người thêm phong phú.
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ xã hội giữa người với người, đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định… Ở các cấp khác nhau như: Liên Hiệp Quốc,
hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm,
các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể… Môi trường xã hội định hướng hoạt động của
con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự
phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác.
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và
phát triển
4
.
1.1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là một khái niệm được nhiều ngành khoa học định nghĩa.
Dưới góc độ sinh học, khái niệm này chỉ tình trạng của môi trường trong đó những yếu
tố hóa học, lý học của nó thay đổi theo chiều hướng xấu đi. Dưới góc độ kinh tế học, ô
nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật
lí, hóa học, sinh học mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khỏe
của con người, các loài động thực vật và các điều kiện sống khác. Dưới góc độ pháp lý.
ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành môi trường không phù hợp với tiêu
chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (khoản 6 điều 3 Luật
bảo vệ môi trường năm 2005).
trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo môi trường sinh thái, ngăn chặn,
khắc phục những hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai
thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
5
.
Theo khoản 3 điều 6 của Luật Bảo vệ môi trường 2005 có quy định: “Hoạt động
bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa,
hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô
nhiễm, suy thối, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết
kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”.
Thế giới ngày càng phát triển đã gây nên tác động xấu đến môi trường, làm cho
môi trường ngày càng biến đổi sâu sắc, rộng lớn, bị ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa sự
sống còn của hành tinh chúng ta. Vì vậy vấn đề môi trường và phát triển đã trở thành
vấn đề hết sức cấp bách của chúng ta. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã sớm nhận rõ
tầm quan trọng và mối quan hệ gắn kết giữa phát triển kinh tế - xã hội và công tác bảo
vệ môi trường, đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Chỉ thị 36-CT/TW, ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam “Về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ
5
/>công nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước” đã chỉ rõ: “Bảo vệ môi trường là vấn đề sống
còn của đất nước, của nhân loại, là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc
đấu tranh xóa đối giảm nghèo của mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ
xã hội trên phạm vi toàn thế giới”. Mục tiêu của công tác bảo vệ môi trường là “ngăn
ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường ở các nơi, những vùng đã
bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở
các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền
vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
1.1.4 Chức năng và vai trò của môi trường
1.1.4.1 Chức năng của môi trường
Trong quá trình sinh sống và phát triển xã hội, con người một mặt khai thác các
nguồn tài nguyên để sinh hoạt và sản xuất các loại hàng hóa khác nhau nhưng lại thải
vào môi trường các chất thải trong quá trình sinh hoạt và sản xuất.
1.1.4.2 Vai trò của môi trường đối với đời sống kinh tế - xã hội
Từ việc nhận thức chức năng của môi trường cho thấy môi trường có vai trò đặc
biệt đối với đời sống kinh tế - xã hội.
Môi trường là không gian chứa đựng các cơ thể sống bao hàm xã hội loài người,
giới sinh vật (động vật và thực vật). Mỗi cơ thể sống không thể tồn tại ở ngoài môi
trường được. Vì vậy nói tới vai trò của môi trường đối với đời sống xã hội điều đầu
tiên cần phải nhấn mạnh: Môi trường là không gian sống của mọi loài sinh vật (kể cả
con người),các loài sinh vật sinh ra, lớn lên, trưởng thành và tiêu vong đều ở trong môi
trường. Nếu không gian môi trường trong sạch sẽ làm cho chất lượng cuộc sống được
nâng cao, mọi loài sinh vật sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển tốt, ngược lại nếu
không gian môi trường bị ô nhiễm, môi trường bị suy thoái sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng của cuộc sống và như vậy sẽ cản trở sự phát triển bình thường của mọi loài
sinh vật, trong đó có xã hội loài người. Do đó bảo vệ môi trường, giữ cho môi trường
trong sạch có tác dụng trực tiếp đến việc bảo tồn và duy trì sự sống của mọi sinh vật ở
trong môi trường.
Môi trường là nơi cung cấp các yếu tố cần thiết, các điều kiện cần thiết cho sự
sống của tất cả các loài sinh vật. Ăngghen nói “con người là sản phẩm của tự nhiên”,
con người tồn tại trong môi trường tự nhiên, cùng phát triển với môi trường tự nhiên,
vật chất trong cơ thể con người do môi trường tự nhiên cung cấp, không khí mà con
người hít thở, nước mà con người uống… cũng đều từ môi trường tự nhiên và thức ăn
của con người xét cho cùng cũng từ môi trường tự nhiên: lúa gạo, hoa màu, rau xanh,
trái cây đều mọc từ đất, tôm cá lớn lên từ ao nước sông, hồ, biển… Con người và môi
trường luôn thống nhất với nhau, sống trong môi trường con người một mặt chịu sự
ảnh hưởng của môi trường, mặt khác con người lại tác động vào môi trường làm cho
môi trường biến đổi, sự biến đổi của môi trường lại ảnh hưởng trở lại đối với con
người. Những thứ mà môi trường tự nhiên cung cấp cho con người bao gồm những thứ
có khả năng tái tạo được và những thứ không có khả năng không có khả năng tái tạo.
người sẽ phải khai thác môi trường, do vậy ở đây nảy sinh mâu thuẫn giữa việc phát
triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Trong phạm vi một quốc gia, cũng như trên toàn thế giới, luôn luôn tồn tại hai
hệ thống: Hệ thống kinh tế - xã hội và hệ thống môi trường. Hệ thống kinh tế - xã hội
cấu thành bởi các khâu: Sản xuất, lưu thông phân phối, tiêu thụ, tạo nên một dòng luân
chuyển nguyên liệu, năng lượng, hàng hóa, phế thải giữa các phần tử của hệ thống. Hệ
thống môi trường với các thành phần thiên nhiên và xã hội cùng tồn tại trên một địa
6
Xem Báo cáo phát triển thế giới 1992 của Ngân hàng thế giới
bàn với hệ thống kinh tế - xã hội. Mối quan hệ hay mâu thuẫn đều được biểu hiện rất rõ
ràng.
Hệ thống kinh tế lấy nguyên liệu, năng lượng từ hệ thống môi trường. Đây là
một chức năng của môi trường: cung cấp nguyên, nhiên liệu cho cuộc sống con người.
Nếu vì phát triển kinh tế mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên không tái tạo
được hoặc khai thác quá khả năng phục hồi đối với tài nguyên tái tạo được thì sẽ dẫn
tới không còn nguyên liệu, năng lượng, từ đó phải đình chỉ sản xuất, giảm sút hoặc triệt
tiêu hệ thống kinh tế. Chất thải là thứ mà cuộc sống sinh hoạt của con người và các
hoạt động kinh tế thải ra môi trường nhều nhất. Hầu hết các phế thải đều độc hại đối
với sức khỏe và sinh mệnh con người, tác động xấu đến không khí, nước, đất, các nhân
tố môi trường và tài nguyên thiên nhiên khác. Những chất độc hại đó làm tổn hại chất
lượng môi trường khiến cho hệ thống kinh tế không thể hoạt động một cách bình
thường được.
Để cho sự phát triển được bền vững, việc xây dựng và phát triển kinh tế của đất
nước đòi hỏi mỗi quốc gia phải có tính toán, phải căn cứ vào tình hình tài nguyên và
trình độ phát triển của đất nước mà định ra chiến lược chung của quốc gia. Môi trường
và phát triển kinh tế - xã hội có mối quan hệ khắng khít bền chặt và bao hàm cả mâu
thuẫn gay gắt. Vấn đề quan trọng là phải giải quyết được mâu thuẫn đó một cách hợp
lý và có lợi nhất.
1.2 Khái quát về hoạt động khai thác khoáng sản
1.2.1 Khái niệm về khoáng sản
đúc.v.v…).
- Khoáng sản nước: Là các loại nước được dùng cho sinh hoạt và công nghiệp
như nước khoáng, bùn khoáng sử dụng trong y tế và sinh hoạt.
1.2.3 Khái niệm khai thác khoáng sản
Khai thác khoáng sản là hoạt động xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, sản xuất và
các hoạt động có liên quan trực tiếp nhằm thu hồi khoáng sản (khoản điều 3 Luật
khoáng sản 1996).
Theo Luật khoáng sản 2010 thì khai thác khoáng sản lả hoạt động nhằm thu hồi
khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, làm giàu và các hoạt động có liên
quan.
Đây là hoạt động được tiến hành sau khi đã có giấy phép khai thác khoáng sản
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được tính từ khi mỏ bắt đầu xây dựng cơ bản
(hay còn gọi là mở mỏ), khai thác bình thường theo công thức thiết kế, cho đến khi mỏ
mỏ kết thúc khai thác (đóng cửa mỏ - phục hồi môi trường).
Trước đây, trong thời kỳ bao cấp hoạt động khai thác khoáng sản chủ yếu do các
tổng công ty, công ty Nhà nước thực hiện tại các mỏ đã được tìm kiếm, thăm dò bằng
nguồn vốn của Nhà nước như apatit, quặng sắt, than, đá vôi, sét làm nguyên liệu xi
măng, thiếc… với số lượng rất ít. Sau năm 1996 khi Luật khoáng sản được ban hành,
với chính sách đầu tư của Nhà nước, hoạt động khai thác đã phát triển nhanh cả về quy
mô và thành phần kinh tế tham gia hoạt động khoáng sản, nhất là trong vài năm trở lại
đây.
1.2.4 Vai trò của khoáng sản
Tuy không có vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của loài như các thành
phần môi trường nước, đất và không khí… nhưng tài nguyên khoáng sản cũng là
những yếu tố hết sức quan trọng trong việc bảo đảm sự duy trì và phát triển xã hội. Xét
từ phương diện cá nhân, con người có thể tồn mà không cần đến tài nguyên khoáng
sản, nhưng trên bình diện chung thì một xã hội không thể phát triển bền vững và toàn
diện nếu không có bất kì một tài nguyên khoáng sản nào. Vai trò và tầm quan trọng của
khoáng sản được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
Về phương diện kinh tế: Khoáng sản là nguồn nguyên liệu chính cho nhiều
Địa chất đã tìm kiếm, phát hiện hơn 5000 mỏ và điểm quặng của khoảng 60 loại
khoáng sản khác nhau. Một số khoáng sản đã được phát hiện và được khai thác từ rất
lâu như vàng, thiếc, chì, kẽm, than đá và các loại vật liệu xây dựng; số khác mới được
phát hiện và được khai thác như dầu khí, sắt đồng… Một số nơi, có những mỏ tập
trung như than ở Quảng Ninh, bôxit ở Tây Nguyên và apatit, đất hiếm ở miền Bắc.
+ Nhu cầu của cuộc sống đã tạo nên áp lực của việc khai thác khoáng sản
- Nhu cầu về vật liệu xây dựng:
Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng của ngành Xây dựng có bước đột phá
lớn, đòi hỏi khối lượng lớn khoáng sản, vật liệu xây dựng để đáp ứng. Vì vậy, hàng
loạt mỏ mới với các quy mô vừa và nhỏ được mở ra trên khắp mọi miền đất nước.
- Nhu cầu xuất khẩu khoáng sản:
Một số khoáng sản được khai thác chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu như: Quặng
ilmenit, chì-kẽm, crôm, thiếc, mangan, quặng sắt Sản phẩm xuất khẩu dưới dạng
quặng thô, quặng tinh hoặc đã được chế biến thành kim loại. Nhu cầu xuất khẩu quặng
có xu hướng gia tăng trong đó có than sạch. Chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Trung
Quốc, Nhật Bản và một số nước khác.
- Nhu cầu giải quyết công ăn việc làm:
Nước ta lực lượng lao động trẻ, khoẻ, phần lớn là lao động phổ thông, cần có
việc làm đang ngày càng gia tăng. Tài nguyên khoáng sản của nước ta phân bố trên
diện rộng, đa dạng, phong phú về chủng loại và nhu cầu đáp ứng cho thị trường ngày
một tăng, nên một bộ phận lớn lao động còn chưa có việc làm đã tham gia hoạt động
khai thác khoáng sản.
- Các nhu cầu khác:
Việc chuyển đổi cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường đã làm
xuất hiện nhiều thành phần kinh tế. Ngoài các doanh nghiệp nhà nước, còn có các
thành phần kinh tế khác. Trong số các doanh nghiệp được thành lập có nhiều doanh
nghiệp đăng ký ngành nghề kinh doanh liên quan đến hoạt động khoáng sản. Một lực
lượng khác là các tổ hợp kinh doanh, khai thác khoáng sản hình thành ở hầu hết các
huyện, xã. Lực lượng này chủ yếu tham gia kinh doanh, khai thác các loại khoáng sản
làm vật liệu xây dựng thông thường (đá, cát, sỏi ), hình thức khai thác rất linh hoạt,
môi trường, gây ô nhiễm không khí.
1.3.2 Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nước, các hoạt động
khai thác khoáng sản đã và đang góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới đất
nước. Ngành công nghiệp khai thác mỏ đã và đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng
trong nền kinh tế của Việt Nam.
Trong những năm qua, hoạt động khai khoáng sản đã đóng góp tới 5,6% GDP.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đạt được, chúng ta cũng đang phải đối mặt với
nhiều vấn đề về môi trường. Quá trình khai thác mỏ phục vụ cho lợi ích của mình, con
người đã làm thay đổi môi trường xung quanh. Yếu tố chính gây tác động đến môi
trường là khai trường của các mỏ, bãi thải, khí độc hại, bụi và nước thải… làm phá vỡ
cân bằng điều kiện sinh thái, đã được hình thành từ hàng chục triệu năm, gây ra sự ô
nhiễm nặng nề đối với môi trường và là vấn đề cấp bách mang tính chất xã hội và
chính trị của cộng đồng.
+ Ô nhiễm không khí, nước
Các hoạt động khai thác khoáng sản thường sinh ra bụi, nước thải với khối
lượng lớn, gây ô nhiễm không khí và nước.
Tác động hoá học của hoạt động khai thác khoáng sản tới nguồn nước: Sự phá
vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến hành đào bới và khoan nổ sẽ thúc đẩy các
quá trình hoà tan, rửa lũa các thành phần chứa trong quặng và đất đá, quá trình tháo
khô mỏ, đổ các chất thải vào nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải không được quản lý,
xử lý chặt chẽ, tham gia vào thành phần nước mưa, nước chảy tràn cung cấp cho nguồn
nước tự nhiên, là những tác động hoá học làm thay đổi tính chất vật lý và thành phần
hoá học của nguồn nước xung quanh các khu mỏ. Nước ở các mỏ than thường có hàm
lượng các ion kim loại nặng, á kim, các hợp chất hữu cơ, các nguyên tố phóng xạ cao
hơn so với nước mặt và nước biển khu vực đối chứng và cao hơn TCVN từ 1-3 lần.
Trong các mỏ thiếc sa khoáng, biểu hiện chính của ô nhiễm hoá học là làm đục
nước bởi bùn - sét lơ lửng, tăng hàm lượng các ion sắt và một số khoáng vật nặng. Việc
khai thác và tuyển quặng vàng phải dùng đến thuốc tuyển chứa Hg. Ngoài ra, các
nguyên tố kim loại nặng như asen, antimoan, các loại quặng sunfua, có thể rửa lũa hoà
khoáng sản cũng làm cho thực vật, động vật bị giảm số lượng hoặc tuyệt chủng do các
điều kiện sinh sống ở rừng cây, đồng cỏ và sông nước xấu đi. Một số loài thực vật bị
giảm số lượng, động vật phải di cư sang nơi khác.
Do đặc thù của khai thác mỏ là một hoạt động công nghiệp không giống các
hoạt động công nghiệp khác về nhiều mặt, như phải di dời một khối lượng lớn đất đá ra
khỏi lòng đất tạo nên một khoảng trống rất lớn và rất sâu. Một khối lượng lớn chất thải
rắn được hình thành do những vật liệu có ích thường chỉ chiếm một phần nhỏ của khối
lượng quặng được khai thác, dẫn đến khối lượng đất đá thải vượt khối lượng quặng
nằm trong lòng đất. Chất thải rắn, không sử dụng được cho các mục đích khác, đã tạo
nên trên bề mặt đất địa hình mấp mô, xen kẽ giữa các hố sâu và các đống đất, đá. Đặc
biệt ở những khu vực khai thác "thổ phỉ", tình hình còn khó khăn hơn nhiều. Một số
diện tích đất xung quanh các bãi thải quặng có thể bị bồi lấp do sạt lở, xói mòn của đất
đá từ các bãi thải, gây thoái hoá lớp đất mặt. Việc đổ bỏ đất đá thải tạo tiền đề cho mưa
lũ bồi lấp các sông suối, các thung lũng và đồng ruộng phía chân bãi thải và các khu
vực lân cận. Khi có mưa lớn thường gây ra các dòng bùn di chuyển xuống vùng thấp,
vùng đất canh tác, gây tác hại tới hoa màu, ruộng vườn, nhà cửa, vào mùa mưa lũ
thường gây ra lũ bùn đá, gây thiệt hại tới môi trường kinh tế và môi trường xã hội.
Tóm lại: Các hoạt động khai thác khoáng sản đã gây ra rất nhiều tác động xấu
đến môi trường xung quanh, nhưng có thể nói tóm lại trong một số tác động như sau:
sử dụng chưa thực sự có hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên; tác động đến cảnh
quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải rắn, làm ảnh hưởng đến
nguồn nước, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất, gây tiếng ồn và chấn
động; gây ảnh hưởng đến sức khỏe và an toàn của người lao động.
1.3.3 Sự cần thiết bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Xuất phát từ việc nhận thức rõ tầm quan trọng của môi trường, cùng với việc
phân tích sự tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến mối trường cho thấy môi
trường trong hoạt động này bị ảnh hưởng rất lớn, do đó đòi hỏi cần phải bảo vệ môi
trường trong hoạt động này là vệc làm hết sức cần thiết.
Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản là sử dụng tổng hợp
các biện pháp nhằm giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác
tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại đất nước.
Tiếp theo là quyết định số 256/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc
phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020. Chiến lược xác định các thách thức đối với môi trường Việt Nam trong
những năm tới là: Nhiều vấn đề môi trường bức xúc chưa được giải quyết; thách thức
trong việc lựa chọn các lợi ích phát triển kinh tế và môi trường; cơ sở hạ tầng yếu kém,
lạc hậu; gia tăng dân số, di dân và đói nghèo; nhận thức về môi trường còn thấp; tổ
chức và năng lực quản lý chưa đáp ứng yêu cầu; hội nhập kinh tế quốc tế và tác động
của các vần đề môi trường khu vực và toàn cầu.
Với quan điểm phát triển kinh tế phải kết hợp hài hòa, chặt chẽ với bảo vệ môi
trường; bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội; phòng ngừa là chủ yếu và bảo
vệ môi trường phải kết hợp giữa nội lực và hợp tác quốc tế, chiến lược đặt ra mục tiêu
đến năm 2010 là hạn chế tốc độ gia tăng ô nhiễm và định hướng mục tiêu đến 2020 là
ngăn chặn về cơ bản tốc độ gia tăng ô nhiễm, bảo đảm cân bằng sinh thái ở mức ổn
định và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về môi trường để chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế và tham gia có hiệu quả vào quá trình toàn cầu hóa.
Những giải pháp chiến lược then chốt được lựa chọn bao gồm: Nâng cao ý thức
bảo vệ môi trường; tăng cường quản lý Nhà nước; pháp luật về bảo vệ môi trường; áp
dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường; xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa
phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường; tăng cường đầu tư cho bảo vệ môi trường; đẩy
mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường và tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ
môi trường.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
Trong chương này người viết tập chung phân tích một số trách nhiệm mà tổ chức,
cá nhân khai thác khoáng sản phải thực hiện như: lập báo cáo đánh giá tác động môi
trường; cam kết bảo vệ môi trường; lập các dự án cải tạo, phục hồi môi trường; ký quỹ
cải tạo, phục hồi môi trường, tuân thủ các quy định về quản lý chất thải; nghĩa vụ về tài
chính và một số trách nhiệm pháp lý mà tổ chức, cá nhân có hành vi phạm pháp luật về
để kiểm soát các hoạt ảnh hưởng đến môi trường hiệu quả nhất.
Hiện nay việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định tại Nghị
định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày
28/02/2008 của chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006
ngày 9/8/2006 của Chính phủ; Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 8/12/2008 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá
tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.
Theo quy định thì tổ chức, cá nhân là chủ dự án đầu tư thuộc đối tượng phải lập
báo cáo đánh giá tác động môi trường (sau đây gọi là chủ dự án) tự tiến hành hoặc thuê
tổ chức tư vấn có đủ điều kiện về cán bộ chuyên môn, cơ sở vật chất – kỹ thuật cần
thiết để tiến hành đánh giá tác động môi trường và lập báo cáo đánh giá tác động môi
trường. Chủ dự án gửi văn bản thông báo về các hạng mục đầu tư chính, các vấn đề
môi trường, các giải pháp bảo vệ môi trường của dự án và đề nghị Ủy ban nhân dân,
Ủy ban mặt trận tổ quốc cấp xã đại diện cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án tham
gia ý kiến (theo quy định tại khoản 2 mục III Thông tư 05/2008/TT-BTNMT); chủ dự
án gửi hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá tấc động môi trường đến Bộ Tài
nguyên và Môi trường, Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh (theo quy định tại khoản 3 mục III Thông tư 05/2008/TT-BTNMT),
thời điểm gửi hồ sơ đề nghị thẩm định, phê duyệt báo cáo tác động môi trường của các
dự án được quy định tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 21/2008/NĐ-CP (trường hợp hồ
sơ chưa hợp lệ, trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhân được hồ sơ,
cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm thông báo để chủ dự án bổ sung hoàn chỉnh).
Một bản báo đánh giá tác động môi trường muốn được phê duyệt phải đảm bảo các nội
dung sau (quy định tại điều 20 Luật Bảo vệ môi trường 2005 và phụ lục 4 thông tư
05/2008/TT-BTNMT):
- Liệt kê tên công trình và mô tả chi tiết các công trình trong dự án (không gian,
thời gian, khối lượng thi công, công nghệ vận hành…) cũng như mô tả cho cả dự án.
- Đánh giá chung về hiện trạng môi trường nơi thực hiện dự án và vùng kế cận.
kèm với đánh giá chi tiết tác động môi trường có khả năng xảy ra khi dự án được thực
Đánh giá tác động môi trường là việc làm hữu ích, có ý nghĩa thiết thực đối với
các hoạt động phát triển. Tuy nhiên do ĐTM là một quá trình nghiên cứu, phân tích
tổng hợp phức tạp, đòi hỏi chuyên gia kinh nghiệm, tốn kém về thời gian, kinh phí. Vì
vậy đối với các dự án phát triển việc ĐTM đầy đủ chỉ tiến hành đối với các dự án phát
triển quan trọng, còn đối với các dự án ít quan trọng hơn thì không được quan tâm
đúng mức.
Sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt thì chủ dự án có
trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi thực hiện dự án về nội dung quyết
định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; niêm yết công khai địa điểm
thực hiện dự án về các loại chất thải, cộng nghệ xử lý, thông số tiêu chuẩn về chất thải
các giải pháp bảo vệ môi trường để cộng đồng dân cư biết, kiểm tra, giám sát; thực
hiện đúng, đầy đủ các nội dung bảo vệ môi trường nêu trong báo cáo đánh giá tác động
môi trường và các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động; thông
báo cho cơ quan phê duyệt báo cáo tác động môi trường để kiểm tra, xác nhận việc đã
thực hiện các nội dung của báo cáo và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh
giá tác động môi trường; chỉ được đưa công trình vào sử dụng sau khi đã được cơ quan
có thẩm quyền kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đầy đủ yêu cầu quy định trên (theo
quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 và khoản 11 mục III
Thông tư 05/2008/TT-BTNMT).
2.1.2 Tuân thủ các quy định về lập và thưc hiện các nội dung trong cam kết
bảo vệ môi trường
Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng không thuộc đối tượng lập báo cáo đánh giá
tác động môi trường có trách nhiệm lập bản cam kết bảo vệ môi trường để đăng ký với
Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã được ủy quyền xem xét, xác
nhận.
Theo tinh thần của Điều 24 Luật bảo vệ môi trường và Nghị định 21/2008/NĐ-CP
thì các dự án hoạt động khai thác khoáng sản sau đây phải lập bản cam kết bảo vệ môi
trường (CKBVMT):
- Dự án khai thác khoáng sản (trên đất liền) làm vật liệu xây dựng có công suất
khai thác dưới 50.000m
+ Biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực: Xử lý chất thải; giảm thiểu các tác động
khác;
+ Các công trình xử lý môi trường, chương trình giám sát môi trường: Các công
trình xử lý môi trường; chương trình giám sát môi trường;
+ Cam kết thực hiện.
Chủ dự án có trách nhiệm gửi hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường đến
Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp
huyện) nơi có dự án hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thuộc huyện (sau đây
gọi chung là cấp xã) được ủy quyền để đăng ký và cấp giấy xác nhận. Thời điểm đăng
ký bản cam kết bảo vệ môi trường là trước khi xin cấp giấy phép khai thác khoáng sản.
Sau khi bản cam kết bảo vệ môi trường đã được xác nhận thì tổ chức, cá nhân
khai thác khoáng sản có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung đã ghi
trong bản cảm kết bảo vệ môi trường.
2.1.3 Tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết
bị, vật liệu thân thiện với môi trường
Một trong những đặc điểm của hoạt động khai thác khoáng sản là thường gây ảnh
hưởng rất lớn tới môi trường và sức khỏe của người lao động cũng như người dân vùng
lân cận. Vì vậy, để bảo vệ môi trường và sức khỏe con người cũng như đảm bảo hoạt
động khai thác khoáng sản được thực hiện có hiệu quả, an toàn, tiết kiệm thì mọi tổ
chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết bị, vật
liệu phù hợp, thân thiện với môi trường.
Theo khoản 1 Điều 16 Luật khoáng sản 1996 có hiệu thi hành 01/9/1996 thì: “Tổ
chức, cá nhân hoạt động khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết bị, vật liệu và thực
hiện các quy định khác của Luật bảo vệ môi trường để hạn chế tối đa tác động xấu đến
các thành phần môi trường; thực hiện việc phục hồi môi trường, môi sinh và đất đai sau
khi kết thúc từng giai đoạn hoặc toàn bộ hoạt động khoáng sản”.
Vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Đổi mới và hiện đại hóa công
nghệ trong ngành công nghiệp khai khoáng đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”.
Theo đề án này, ngành khai khoáng ưu tiên lựa chọn thiết bị, công nghệ mới theo
hướng sản xuất sạch với các tiêu chí cao, ít tiêu hao nguyên, nhiên liệu, an toàn và thân
đến nguồn nước xung quanh khu vực khai thác cũng đáng kể. Do đó chủ thể tiến hành
hành khai thác khoáng sản phải tuân thủ các quy định về quản lý nước thải, thu gom và
xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường.
Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi
trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan