ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ QUỐC TẾ
KHÓA 2010 - 2014
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS. Võ Thị Mỹ Hương Bùi Thị Thu Hoài
Lớp: K34E - KTQT
Huế, 03/2014
Hoàn thành bài Khóa Luận tốt nghiệp
này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
đến Cô giáo - ThS. Võ Thò Mỹ Hương - người
đã tận tâm hướng dẫn, truyền đạt kinh
nghiệm và động viên em rất nhiều trong quá
trình thực hiện Khóa Luận.
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân
thành đến các Thầy giáo, Cô giáo của
Khoa Luật - Đại học Huế - những người đã
truyền đạt kiến thức cho em suốt thời gian
của khóa học.
Nhân đây, em cũng xin được cảm ơn Trung
tâm học liệu - Đại học Huế - nơi cho em môi
trường học tập và tìm kiếm tài liệu ngoài
giờ đến trường suốt thời gian qua.
Cuối cùng, em xin được gửi lời cảm ơn
đến gia đình và tất cả bạn bè vì đã luôn tin
NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG
HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 41
2.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về bảo vệ môi trường trong
hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam 41
2.2. Đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng
sản ở Việt Nam 46
2.2.1. Những kết quả đạt được 46
Trước những thách thức về môi trường do hoạt động KTKS mang lại, Nhà nước ta
đã tăng cường ban hành cũng như có nhiều biện pháp tổ chức thực hiện các quy
phạm pháp luật về BVMT trong hoạt động KTKS. Qua tìm hiểu tình hình xây
dựng và thực thi pháp luật về BVMT trong hoạt động KTKS của nước ta thời gian
qua, thấy rằng pháp luật về BVMT trong hoạt động KTKS đã đạt được một số kết
quả đáng ghi nhận. Bao gồm: 46
2.2.2. Những tồn tại, hạn chế của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động
khai thác khoáng sản 52
2.2.3. Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế 58
2.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
trong hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam 61
2.3.1. Cơ sở đề xuất giải pháp 61
2.3.2. Các giải pháp cụ thể 62
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVMT : Bảo vệ môi trường
KTKS : Khai thác khoáng sản
UBND : Ủy ban nhân dân
VBQPPL : Văn bản quy phạm pháp luật
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
BVMT trong hoạt động KTKS ở nước ta. Do đó, cần thiết phải hoàn thiện
pháp luật nhằm tạo ra khuôn khổ pháp lý phù hợp để nâng cao hiệu quả
công tác BVMT trong hoạt động KTKS.
Là một sinh viên Luật, tôi rất mong muốn nghiên cứu một cách đầy
đủ, hệ thống về pháp luật BVMT trong hoạt động KTKS ở Việt Nam để từ
đó đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần khắc phục tình trạng trên. Vì
vậy, tôi chọn đề tài: “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai
thác khoáng sản ở Việt Nam” làm đề tài cho Khóa luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đến nay, đã có một số bài viết của các nhà khoa học liên quan đến pháp
luật về BVMT trong hoạt động KTKS như: ThS. Trần Thanh Thủy & ThS.
Nguyễn Việt Dũng (2010), Khai thác khoáng sản và giảm nghèo: mối quan
hệ trái chiều và một số vấn đề chính sách, Bản tin chính sách quý II/2010,
Trung tâm con người và thiên nhiên, Hà Nội; ThS. Trần Thanh Thủy, ThS.
Nguyễn Lê Nguyên & ThS. Nguyễn Việt Dũng (2012), Khoáng sản - phát
triển - môi trường, Bản tin chính sách quý IV/2012, Trung tâm con người và
thiên nhiên, Hà Nội; TS. Nguyễn Văn Thuấn (2013), Đánh giá tình hình
thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25-04-2011 của Bộ Chính trị
khóa XI về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng
đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Chủ động ứng phó biến đổi khí
hậu, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường - một số vấn đề lý
luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, tr.155-167, Hà Nội;…
Bên cạnh đó còn có Khóa luận tốt nghiệp của Đỗ Thành Tâm (2010),
Trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác
khoáng sản - Pháp luật và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp Khoa Luật - Đại
học Cần Thơ.
8
Ngoài ra, trong một số tài liệu giảng dạy ở các cơ sở đào tạo Luật cũng
có đề cập khái quát đến pháp luật về BVMT trong hoạt động KTKS như: Đại
học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Môi trường, Nxb Công an nhân dân,
KTKS ở Việt Nam để chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những tồn
tại, hạn chế và luận giải nguyên nhân của chúng;
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về
BVMT trong hoạt động KTKS ở Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến
pháp luật về BVMT trong hoạt động KTKS đối với các loại khoáng sản trừ
khoáng sản là dầu khí, khoáng sản là nước thiên nhiên không phải là nước
khoáng, nước nóng thiên nhiên. Khóa luận không đi sâu nghiên cứu, tìm
hiểu cách thức, công nghệ nhằm BVMT trong hoạt động KTKS.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Khóa luận
sử dụng các phương pháp: phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp, để làm
sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
5. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
Đã có một số công trình nghiên cứu của các tác giả về pháp luật
BVMT trong hoạt động KTKS, tuy nhiên mỗi tác giả có cách tiếp cận và
hướng đến phạm vi khác nhau. Vì vậy, đề tài này sẽ mang ý nghĩa kế thừa
đồng thời đưa ra những điểm mới, điểm sáng tạo nhằm đóng góp vào các
công trình nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về BVMT trong hoạt động
KTKS. Các kết quả nghiên cứu của Khóa luận này có thể được sử dụng
làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về Luật học.
Một số kiến nghị của đề tài có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây
dựng và tổ chức thực hiện pháp luật về BVMT nói chung và BVMT trong
hoạt động KTKS nói riêng.
10
6. Kết cấu của Khóa luận
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh
mục từ viết tắt thì Khóa luận được chia làm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của pháp luật về bảo vệ môi trường trong
Khoản 1, Điều 2, Luật Khoáng sản Việt Nam năm 2010 quy định:
“Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể
rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả
12
khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”.
Từ những khái niệm đã nêu ở trên, có thể hiểu một cách cụ thể về
khoáng sản như sau:
i) Khoáng sản là những vật chất tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng
hoặc thể khí;
ii) Khoáng sản có nguồn gốc hữu cơ hoặc vô cơ, tồn tại ở trên mặt đất,
trong lòng đất;
iii) Khoáng sản là tài nguyên thiên nhiên có ích và có hạn. Khoáng
sản có thể được khai thác ở hiện tại hoặc tương lai và khoáng sản là tài
nguyên không tái tạo.
Từ thời cổ đại, con người đã biết sử dụng đá - một loại khoáng sản để
làm công cụ lao động và xây dựng những kim tự tháp. Thế kỷ thứ IV, thứ
III trước Công nguyên, con người phát hiện và sử dụng kim loại nguyên
chất trong thiên nhiên: đồng, vàng. Dần dần, con người đã phát hiện và sử
dụng quặng sắt cùng với những kim loại khác để phục vụ cho cuộc sống
của mình [34, tr. 179]. Ngày nay, khoáng sản được sử dụng rất nhiều trong
cuộc sống con người: từ nhiên liệu cho đến trồng trọt, xây dựng, chế tạo
các sản phẩm phục vụ cuộc sống… Muốn sử dụng khoáng sản thì cần phải
khai thác chúng.
Theo Khoản 7, Điều 2, Luật Khoáng sản Việt Nam năm 2010 thì khai
thác khoáng sản là “hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây
dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có
liên quan”.
Từ quy định trên, có thể hiểu về KTKS như sau:
i) KTKS là lấy khoáng sản ra khỏi mỏ để đáp ứng các nhu cầu của
con người;
thu lớn cho ngân sách nhà nước.
•KTKS tạo cơ hội việc làm
Để tiến hành KTKS, cần phải có nguồn nhân lực. Nhu cầu nhân lực
tạo ra cơ hội việc làm cho người lao động, giúp giải quyết tình trạng thất
14
nghiệp trong xã hội.
•KTKS thu hút đầu tư, giúp nâng cao trình độ khoa học công nghệ,
năng lực quản lý
Lợi nhuận của hoạt động KTKS đã thu hút ngày càng nhiều chủ thể
tham gia KTKS. Để thu được nhiều lợi nhuận hơn, các chủ thể đã mở rộng
quy mô, phạm vi hoạt động. Nhiều công ty KTKS đã đầu tư gắn khai thác
với chế biến sâu nhằm nâng cao lợi nhuận. Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu
hóa nền kinh tế, với mục tiêu cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các hoạt
động hạ nguồn trong nước, nhiều công ty đã đầu tư KTKS ở nước ngoài,
nhất là trong khai thác mỏ bô xít, mỏ thiếc và mỏ đồng. Trong quá trình
phát triển đầu tư KTKS, tất yếu các chủ thể KTKS sẽ tiến hành đầu tư máy
móc, công nghệ, thiết bị hiện đại cũng như tăng cường công tác quản lý.
Nhờ đó, trình độ khoa học công nghệ, năng lực quản trị của quốc gia, địa
phương nơi tiến hành KTKS sẽ được nâng lên.
•KTKS thúc đẩy các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác cùng
phát triển
Đầu ra của ngành khoáng sản là nguyên vật liệu đầu vào thiết yếu cho
các ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo và xây dựng. Đồng thời, trong quá
trình KTKS, các chủ thể cũng cần sử dụng nhiều dịch vụ như dịch vụ vận
tải, dịch vụ xây dựng, dịch vụ ăn uống, khám chữa bệnh, Do đó, KTKS
sẽ thúc đẩy các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác cùng phát triển.
•KTKS giúp phát triển cơ sở hạ tầng, giảm cách biệt giàu nghèo
Trong quá trình tiến hành KTKS, các chủ thể phải đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng để phục vụ cho hoạt động của mình (đường sá để vận chuyển, hệ
thống nhà máy,…). Đồng thời, các chủ thể này còn có nghĩa vụ thực hiện
Bảo vệ môi trường 2005. Bởi vì khái niệm trên đã chỉ ra được các bộ phận
cấu thành môi trường (bao gồm yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo), đồng
thời khẳng định có mối quan hệ qua lại giữa môi trường với cuộc sống con
người và sinh vật: môi trường bao quanh con người (chịu sự tác động của
16
con người) và có ảnh hưởng đến cuộc sống của con người.
Khoáng sản là một loại tài nguyên - là một bộ phận của môi trường và
cũng có mối quan hệ chặt chẽ với cuộc sống con người. Con người khai
thác khoáng sản để thỏa mãn những nhu cầu của mình đồng thời cũng gây
ra những tác động đến môi trường; đến lượt mình, những sự biến đổi trong
môi trường lại tác động trở lại đối với cuộc sống con người, sinh vật.
Từ xa xưa, với quan điểm mang màu sắc tôn giáo: “Thiên, địa, nhân
hợp nhất”, nhiều nơi đã hình thành những khu vực được coi là “linh
thiêng’’ (con người không được có bất cứ hoạt động nào tác động vào khu
vực này). Cùng với thời gian, con người ngày càng phát triển về mặt nhận
thức cũng như hành động để BVMT.
Theo Khoản 3, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2005 thì: “Hoạt động
bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp;
phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi
trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường;
khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa
dạng sinh học”.
Tài nguyên khoáng sản - một bộ phận của môi trường - có hạn và
không tái tạo. Đồng thời, hoạt động KTKS gây ra những tác động xấu tới
môi trường và khả năng gây ô nhiễm, suy thoái môi trường là không nhỏ. Do
đó, đòi hỏi phải có kế hoạch, biện pháp khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm
tài nguyên khoáng sản, giảm thiểu và khắc phục những tác động xấu tới môi
trường của hoạt động KTKS - tức là BVMT trong hoạt động KTKS.
Trên thực tế hiện nay, khái niệm “bảo vệ môi trường trong hoạt động
khai thác khoáng sản” vẫn chưa được định nghĩa khái quát trong một văn
nước phải xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về BVMT trong
hoạt động KTKS, cấp phép và thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về
BVMT trong hoạt động KTKS, phát hiện và xử lý kịp thời vi phạm,… Các
18
tổ chức, cá nhân KTKS phải tiến hành lập báo cáo đánh giá tác động môi
trường, kiểm soát các nguồn thải, cải tạo, phục hồi môi trường, thực hiện các
nghĩa vụ tài chính về BVMT trong hoạt động KTKS,…
Thứ ba, để thực hiện công tác BVMT trong hoạt động KTKS cần thiết
phải có sự đầu tư về kinh phí, khoa học kỹ thuật, nguồn nhân lực có trình
độ chuyên môn, Đồng thời, phải có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cũng như sử dụng kết hợp
nhiều biện pháp: kinh tế; chính trị; tuyên truyền, giáo dục; pháp lý…trong
quá trình BVMT trong hoạt động KTKS.
1.1.2.3. Vai trò của bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác
khoáng sản
Khoáng sản là tài nguyên có hạn và không tái tạo nên KTKS cũng có
nghĩa là đang làm vơi đi một lượng tài nguyên của môi trường, ảnh hưởng
đến sự cân bằng của các thành phần môi trường. Nếu khai thác ồ ạt, không
có kế hoạch thì tất yếu sẽ có những loại khoáng sản bị triệt tiêu.
Bên cạnh đó, KTKS còn gây những tác động tiêu cực đến các thành
phần môi trường khác. Đối với đất đai, hoạt động này làm phá hoại môi
trường đất, gây ra xói mòn, hoang hóa, sạt lở đất. Hoạt động KTKS sử
dụng nước với khối lượng lớn; ngoài ra nước thải, các chất thải rắn cũng
như việc sử dụng hóa chất trong quá trình KTKS,… là những nguyên nhân
gây ô nhiễm và suy thoái nguồn nước. Bụi, khí độc, khí nổ, tiếng ồn trong
KTKS cũng làm cho môi trường không khí bị ảnh hưởng không nhỏ. Ngoài
ra, hoạt động KTKS là một trong những nguyên nhân làm cho các loại thực
vật, động vật bị giảm số lượng hoặc tuyệt chủng do các điều kiện sinh sống
ở rừng cây, đồng cỏ và sông nước xấu đi [35, tr. 357].
Từ đó, có thể khẳng định rằng, bên cạnh mang lại lợi ích về kinh tế, xã
đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội quốc gia
Ngày nay, các quốc gia đều theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững,
theo đó phát triển kinh tế phải gắn liền với ổn định chính trị và BVMT.
Nếu việc BVMT trong hoạt động KTKS được tiến hành một cách hiệu quả,
tài nguyên khoáng sản được khai thác hợp lý thì các quốc gia có tiềm năng
20
khoáng sản sẽ không phải nhập khẩu khoáng sản từ nước ngoài mà còn có
thể cung cấp được khoáng sản cho các quốc gia khác để thu lợi. Đồng thời,
BVMT trong hoạt động KTKS giúp giảm thiểu việc sử dụng các nguồn lực
(chi phí, thời gian, nhân lực,…) để giải quyết các sự cố môi trường cũng
như ứng phó với các dịch bệnh do ô nhiễm môi trường trong KTKS gây ra,
từ đó các quốc gia sẽ tập trung những nguồn lực này để phục vụ cho công
cuộc phát triển kinh tế, xã hội.
1.2. Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi
trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, những nội dung cơ bản của pháp luật
về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
1.2.1.1. Khái niệm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động
khai thác khoáng sản
Đời sống xã hội bao gồm rất nhiều lĩnh vực, với nhiều quan hệ xã hội
khác nhau. Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý, nhà nước ban
hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ trong xã hội theo
trật tự phù hợp với ý chí của mình. Bên cạnh các quy phạm pháp luật về
hình sự, dân sự, hành chính, để giải quyết tốt vấn đề môi trường, hiện nay
các quốc gia đã quan tâm xây dựng những quy phạm pháp luật về BVMT.
Theo Tài liệu học tập Lý luận về nhà nước và pháp luật, phần 2, Khoa
Luật - Đại học Huế năm 2013 thì: “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự
mang tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện
ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, được nhà nước
bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp
có ảnh hưởng đến môi trường. Căn cứ vào địa vị pháp lý của các chủ thể,
có thể phân chia đối tượng điều chỉnh của pháp luật về BVMT trong hoạt
động KTKS thành hai nhóm chính: Nhóm quan hệ có một bên tham gia là
cơ quan quản lý nhà nước về BVMT trong KTKS (gồm những quan hệ
phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước về khoáng sản và BVMT như: xây
22
dựng và thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch về khai thác,
bảo vệ khoáng sản; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động khoáng sản; kiểm tra,
thanh tra việc xử lý vi phạm pháp luật về BVMT trong hoạt động KTKS;…)
và nhóm quan hệ mà các bên tham gia không mang quyền lực nhà nước (gồm
những quan hệ như: tham vấn cộng đồng dân cư trong quá trình lập báo cáo
đánh giá tác động môi trường; chuyển nhượng giấy phép KTKS, )
Thứ ba, mục đích điều chỉnh của pháp luật về BVMT trong hoạt động
KTKS là nhằm: phòng chống và khắc phục ô nhiễm; phục hồi và cải thiện
môi trường; khai thác hợp lý, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản thông qua
việc tạo dựng khung pháp lý quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà
nước trong việc quản lý nhà nước về BVMT trong hoạt động KTKS; quyền
và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động KTKS.
Thứ tư, pháp luật về BVMT trong hoạt động KTKS sử dụng kết hợp
phương pháp điều chỉnh mệnh lệnh, quyền uy và phương pháp bình đẳng.
Tùy thuộc địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia vào quan hệ mà pháp
luật về BVMT trong hoạt động KTKS sử dụng phương pháp mệnh lệnh,
quyền uy (khi có cơ quan nhà nước có thẩm quyền tham gia quan hệ) hay
phương pháp bình đẳng (khi các chủ thể tham gia quan hệ không mang
quyền lực nhà nước).
1.2.1.3. Những nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường
trong hoạt động khai thác khoáng sản
Pháp luật về BVMT trong hoạt động KTKS bao gồm nhiều quy
phạm pháp luật. Nghiên cứu một cách có hệ thống, thấy rằng nội dung cơ
bản của pháp luật về BVMT trong hoạt động KTKS bao gồm:
•Trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch,
chính sách, kế hoạch, biện pháp về BVMT trong hoạt động KTKS
Chiến lược khoáng sản, chiến lược BVMT là một bộ phận của chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội, được hoạch định theo thời gian tương đối
dài: 10 năm, tầm nhìn 20 năm theo kỳ chiến lược phát triển kinh tế, xã hội.
24
Các chiến lược này vạch ra những phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát
triển bền vững ngành công nghiệp khai khoáng, gắn KTKS với BVMT. Bộ
Tài nguyên và Môi trường là cơ quan được giao trách nhiệm chù trì phối
hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ liên quan và các địa phương lập, trình
Chính phủ phê duyệt chiến lược khoáng sản, chiến lược BVMT.
Luật Bảo vệ môi trường 2005 yêu cầu các loại tài nguyên phải được
lập quy hoạch sử dụng, phải gắn với quy hoạch bảo tồn thiên nhiên nhưng
không quy định rõ mà quy định viện dẫn việc áp dụng pháp luật về tài
nguyên để lập quy hoạch sử dụng tài nguyên đó. Luật Khoáng sản 2010 (từ
Điều 10 đến Điều 15) và Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 09/03/2012
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản
(Chương II) đã quy định về các loại quy hoạch, thẩm quyền, căn cứ lập, nội
dung, thủ tục lập, điều chỉnh, lấy ý kiến và công bố quy hoạch khoáng sản.
Theo đó, có 4 loại quy hoạch khoáng sản gồm: Quy hoạch điều tra cơ bản
địa chất về khoáng sản; Quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản chung cả
nước; Quy hoạch khai thác, sử dụng từng loại, nhóm khoáng sản làm vật
liệu xây dựng và quy hoạch sử dụng từng loại, nhóm khoáng sản khác cả
nước; Quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (được lập đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng
thông thường, than bùn; khoáng sản ở khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ
lẻ đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường khoanh định và công bố; khoáng
sản ở bãi thải của mỏ đã đóng cửa). Kỳ quy hoạch điều tra cơ bản địa chất
về khoáng sản là 10 năm, tầm nhìn 20 năm; kỳ quy hoạch đối với các loại
quy hoạch còn lại là 5 năm, tầm nhìn 10 năm. Việc lập quy hoạch khoáng