B ộ Tư ?HẲF
TRƯỜNG ĐẠI HỌC L llẠ l tì ' :«O.Ỉ
* *****
ĐÈ
í-
■'■ÍỬ O KHOA HỌí',' CAP TRUỜNĩí
■) Ể TÀ!
TRÁCHNH1Ệ :
i
TỐ CHÚC, CẢ NHÂN
KINH DOANH. TRONG VIỆC BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DỞỊSG THEO
PHÁP LUẬT
VÍỆXN
AM
/
íS
-■*
iầ
ỈI
Mí: sốĩ LH - 2015 - 413/ DHL - HN
THƯ KÝ ĐẺ TÀI
: ThS. Nguyễn Ngọc Quyên
ThS. Phạm Phương Thảo
I TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN
' TRƯỜNG ĐẠ! HỌC LUÂT HÀ NỘ;
Ị PHÒNG DỌC
3 n ^ } __ _
HÀ NỘI - 2016
m
NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỤC HIỆN ĐÈ TÀI
Chủ nhiệm đề tài: ThS, GVC. HOÀNG MINH CHIẾN
Trường Đại học Luật Hà Nội
Các tác giả chuyên đề khoa học:
1. PGS, TS. Nguyễn Thị Vân Anh & ThS. Nguyễn Ngọc Quyên
Chuyên đề 1
(Trường Đại học Luật Hà Nội)
2. Ngô Vĩnh Bạch Dương
Chuyên đề 2
(Viện Nhà nước và Pháp luật)
3. ThS. Nguyễn Ngọc Quyên
(Truờng Đại học Luật Hà Nội)
Chuyên đề 3
4. ThS. Phạm Phương Thảo
Bộ luật dân sự
Bộ khoa học công nghệ
BKHCN
BTTH
Bồi thường thiệt hại
Cục QLTT
Cục Quản lý thị trường
Cục QLCT
Cục Quản lý Cạnh tranh
CUTS
Tổ chức thống nhất và tín thác vì người tiêu dùng Ấn
Độ
Công ty TNHH
Công ty trách nhiệm hữu hạn
DN
UBND
ủy ban nhân dân
VINASTAS
Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ Người tiêu dùng
Việt Nam
MỤC LỤC
PHẦN I: TỐNG THUẬT KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u CỦA ĐÈ TÀI
"TRÁCH NHIỆM CỦA TỎ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH TRONG
VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT
•
•
•
•
VIỆT NAM ” ...................................................................................................................1
•
P H Ầ N II: C Á C C H U Y Ê N Đ Ề N G H I Ê N c ứ ư .......................................................... 54
Chuyên đề 1: TỒNG QUAN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA TÓ CHỨC, CÁ NHÂN
KINH DOANH TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI.......................................54
DOANH TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DỪNG........... 234
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................... 256
PHẦN I
TÓNG THUẶT KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u CỦA ĐÈ TÀI
"TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH
TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYÊN LỌÌ NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM"
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng (NTD) luôn đóng vai trò
trung tâm. Khi đã nhìn nhận vấn đề NTD là trung tâm của nền kinh tế, tức là
hàng hóa dịch vụ của thương nhân đưa ra luôn đặt ra mục tiêu là hướng tới sự
tiêu thụ, sử dụng của NTD và NTD sẽ đem lại lợi nhuận cho thương nhân khi
chi trả tiền cho hàng hóa dịch vụ họ sử dụng. Ngoài việc thu lợi nhuận chính
đáng khi kinh doanh của thương nhân, thì trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng
của họ cũng luôn phải đặt lên hàng đầu. Quan hệ giữa người tiêu dùng và tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (thương nhân) là một loại quan hệ
dân sự phổ biến trong xã hội. Chúng được thiết lập, thực hiện và bảo vệ theo các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là nguyên tắc tự do thỏa thuận và
nguyên tắc bình đẳng. Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa NTD và tổ chức cá
nhân kinh doanh, NTD thường ở vị trí yếu thế hơn về mặt kiến thức pháp lý, sự
hạn chế về thông tin chuyên sâu so với tổ chức, cá nhân kinh doanh. Trong khi
đó lợi nhuận luôn là mục tiêu cao nhất và cuối cùng của bất kỳ doanh nghiệp
kinh doanh nào. Việc theo đuổi mục tiêu này khiến nhiều doanh nghiệp bỏ qua
những quyền lợi của người tiêu dùng. Đây là mặt trái của kinh tế thị trường
đồng thời là mặt trái của hội nhập kinh tế quốc tế khi áp lực cạnh tranh gay gắt
nhiều và phổ biến như hiện nay. Do vậy, việc hoàn thiện chế định trách nhiệm
của tổ chức cá nhân kinh doanh trong pháp luật bảo vệ NTD Việt Nam là một
yêu cầu hết sức cấp thiết.
Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi cho rằng việc thực hiện đề tài:
“Trách nhiệm của tồ chức, cá nhăn kinh doanh trong việc bảo vệ người tiêu
dùng theo pháp luật Việt Nam” là rất cần thiết để lý giải cơ sở lý luận và thực
tế, nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về vấn đề này, từ đó đưa ra một số
giải pháp đảm bảo thực thi trách nhiệm bảo vệ NTD của tố chức, cá nhân kinh
doanh theo pháp luật bảo vệ người tiêu dùng.
Mặt khác, những nghiên cứu của đề tài này cũng rất thiết thực cho việc
giảng dạy các vấn đề quyền của NTD và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh
doanh đối với NTD, một trong những nội dung quan trọng của môn học Luật
cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi NTD tại trường Đại học Luật Hà Nội.
1.2.
Tình hình nghiên cứu
Sau một thời gian tương đối dài tìm hiểu tình hình nghiên cứu các vấn đề
về trách nhiệm bảo vệ NTD của tổ chúc, cá nhân kinh doanh theo pháp luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam, chúng tôi nhận thấy trong các công
trình khoa học đã được công bố hầu như chưa có công trình khoa học nào
nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ về vấn đề này.
Có thể kể đến một số một số đề tài nghiên cứu khoa học của Bộ tư pháp,
của Trường Đại học Luật nghiên cứu cơ chế bảo vệ người tiêu dùng trong đó có
đề cập đến trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh. Đó là:
-
Viện nghiên cứu khoa học pháp lí - Bộ tư pháp, ‘Trác/ỉ nhiệm sản
pháp luật cũng như tăng cường khả năng thực thi pháp luật về các trách nhiệm
bảo vệ người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh.
1.3. Mục đích nghiên cứu đề tài
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng
của tổ chức, cá nhân kinh doanh ;
- Làm sáng tỏ thực trạng pháp luật và thực tiễn về trách nhiệm bảo vệ
người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh ở Việt Nam;
- Đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện cơ sở trách nhiệm bảo vệ người
tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh đáp ứng yêu cầu hội nhập.
1.4. Nội dung, phạm vi nghiên cứu của Đe tài
- Cơ sở lý luận về vấn đề trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng của tổ
chức, cá nhân kinh doanh theo pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam
- Thực trạng pháp luật và thực trạng thực thi pháp luật về trách nhiệm
bảo vệ người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh theo pháp luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam;
- Kinh nghiệm các nước trong việc thừa nhận và bảo đảm thực hiện trách
nhiệm hảo vệ người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân kinh doanh.
Trong khuôn khổ một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, đề tài này
không có tham vọng nghiên cứu tất cả các khía cạnh chính trị, kinh tế mà tập
trung nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bảo vệ người
tiêu dùng của tố chức, cá nhân kinh doanh. Ngoài ra, còn nghiên cún pháp luật bảo
vệ người tiêu dùng về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh của một số quốc
gia khác từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Đe đạt được mục tiêu làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu, nhóm
khảo sát, các cộng tác viên tiến hành viết chuyên đề của đề tài.
2. PHẦN NỘI DƯNG
Sau thời gian nghiên cứu, nhóm tác giả đã hoàn thành công việc và kết quả
nghiên cứu được thể hiện ở những nội dung cơ bản được trình bày dưới đây:
2.1. Cơ sỏ’ lý luận về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ đối vói người tiêu dùng:
2.1.1. Khái niệm về người tiêu dùng
Dưới giác độ kinh tế, NTD (consumer) là một khái niệm chỉ những chủ thể
tiêu thụ của cải được tạo ra bởi nền kinh tế. NTD là người mua nhưng khác với
việc mua nguyên liệu hoặc mua hàng đế bán lại, họ là những người sử dụng
hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử
dụng đó. Dưới giác độ này, khái niệm NTD khác xa so với khái niệm người mua
hàng (customer). Khái niệm người mua hàng rộng hơn so với khái niệm NTD,
người mua hàng là bất cứ ai mua hàng hóa, dịch vụ nhằm bất cứ mục đích gì.
Dưới giác độ kinh tế, NTD là mọi chủ thể (cá nhân, tổ chức) tiêu thụ hàng hóa
cho mục đích tiêu dùng không phải cho mục đích kinh doanh kiếm lời.
Dưới giác độ pháp lý, việc xác định chủ thể nào là NTD rất quan trọng vì
đó là đối tượng được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD. Khái niệm NTD chỉ
xuất hiện với tư cách là chủ thể pháp luật từ khi lĩnh vực pháp luật về bảo vệ
NTD ra đời \
Theo pháp luật bảo vệ NTD, NTD được hưởng sự ưu tiên hơn so với chủ
thể luật dân sự khác trong các giao dịch với thương nhân bán hàng hóa, dịch vụ.
Sở dĩ, NTD được ưu tiên so với thương nhân trong quan hệ tiêu dùng bởi họ có
nhiều yếu thế hơn như thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, yếu về khả năng
đàm phán khi giao kết hợp đồng, yếu về khả năng chịu rủi ro phát sinh trong quá
trình tiêu dùng. Bởi vậy, dưới giác độ pháp lý việc xác định chủ thể nào là NTD
và là đối tượng được bảo vệ của pháp luật bảo vệ NTD có vai trò vô cùng quan trọng.
Khải niêm, đăc điểm trách nhiêm của tồ chức cả nhàn kinh
doanh đối với ngirời tiêu dùng
Trách nhiệm là một khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
2 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi NTD, Nxb Công an nhân dân, 2012, tr 11
3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi NTD, tr 14
Theo cách hiểu thông thường thể hiện trong từ điển tiếng Việt, “Trách
nhiệm là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho phải bảo đảm làm
tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả”4.
Dưới giác độ pháp lý, khái niệm trách nhiệm pháp lý, hiện nay còn nhiều
tranh luận khác nhau. Có ý kiến cho rằng, trách nhiệm pháp lý bao gồm hai loại
trách nhiệm, trách nhiệm theo nghĩa tích cực và trách nhiệm theo nghĩa tiêu
cực5. Trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tích cực là sự tự giác, chủ động của chủ
thể trong việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý phù hợp với yêu cầu của pháp luật cả
về nội dung, hình thức và đem lại những kết quả khả quan, tích cực cho đời sống
xã hội. Cũng có ý kiến cho rằng, trách nhiệm pháp lý chủ yếu được hiểu theo
nghĩa tiêu cực, theo đó: “trách nhiệm pháp lý là sự bắt buộc phải gánh chịu hậu
quá pháp lý bất lợi do có hành vi vi phạm pháp luật”6. Theo nghĩa này trách
nhiệm pháp lý luôn gắn liền với việc sự cưỡng chế của nhà nước.
Như vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm trách nhiệm pháp lý,
tuy nhiên, có thể hiểu trách nhiệm pháp lý là những ràng buộc mà chủ thể pháp
luật phải tuân thủ và gắn liền với việc áp dụng các chế tài do pháp luật quy định
khi chủ thể đó có hành vi vi phạm pháp luật.
Trong quá trình hoạt động, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ7
Ktham gia vào nhiều quan hệ pháp lý khác nhau nên cũng phải thực hiện nhiều
loại trách nhiệm trong các lĩnh vực khác nhau như trách nhiệm về thuế, trách
nhiệm về chứng từ, trách nhiệm về bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có
Thứ nhất, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
đối với NTD là loại trách nhiệm được pháp luật quy định, thể hiện thái độ của
nhà nước trong việc điều chỉnh mối quan hệ giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh
đối với NTD.
Thứ hai, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh phát sinh trong mối
quan hệ với NTD.
Thứ ba, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có
xu hướng bất lợi đổi với tổ chức, cá nhân kinh doanh và tùy thuộc vào hành vi vi
phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh mà họ phải chịu các chế tài khác nhau.
Thứ tư, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD được
điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau.
2.1.3. Cơ sở lý luận của việc xác định trách nhiệm của tổ chức, cả nhân
kinh doanh đối với người tiêu dùng
Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ra đời làm thay đổi những nguyên tắc
truyền thống của luật dân sự khi áp dụng đối với các giao dịch mang tính tiêu
dmg. Bên cạnh việc quy định thêm cho người tiêu dùng những quyền không có
tpng quan hệ dân sự truyền thống, lĩnh vực pháp luật này cỏn ràng buộc thương
mân thêm những trách nhiệm mới. Thay vì thuần túy thực hiện nghĩa vụ đã thỏa
tluận trong hợp đồng, các thương nhân còn phải gánh chịu những trách nhiệm
vri NTD cho dù giữa họ và NTD không tồn tại những giao dịch trực tiếp. Cơ sở
cia sự ràng buộc trách nhiệm này, cũng như cơ sở cho sự ra đời của Luật bảo vệ
qiyền lợi người tiêu dùng, được dựa trên các vấn đề chính trong giao dịch dân
Sĩ của tô chức, cá nhân kinh doanh với NTD:
Thứ nhất, sự bất cân xứng thông tin giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh
VI người tiêu dùng;
Thứ hai, chênh lệch khả năng đàm phán giữa các bên;
Thứ ba, khác biệt về khả năng gánh chịu rủi ro từ quá trình tiêu dùng.
Dò tin (signaling) là hoạt động của người mua, họ có thể tự mình tìm hiểu
hoặc thông qua các thực thể trung gian để lấy thông tin về hàng hóa, dịch vụ
cũng như thông tin về nhà cung cấp.
Trước thành tựu này của kinh tế học, giới lập pháp dường như tự tin hon
trong việc xác định nghĩa vụ báo tin của bên bán đối với hàng hóa, dịch vụ, các
nhán kinh doanh trong trường hợp này còn được hiểu là sự đáp ứng các quyền
về thông tin của NTD. Minh bạch thông tin là nghĩa vụ, trách nhiệm của tất các
các thương gia, đặc biệt khi nó liên quan đến hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng. Theo
đó, công khai thành phần nguyên liệu, nguồn gốc xuất xứ, hướng dẫn sử dụng
với những cảnh báo rủi ro chi tiết được xác định là trách nhiệm của người sản
xuất, phân phối. Đương nhiên, nếu một vụ việc được chỉ ra là bị che giấu thông
tin, người sản xuất, phân phối phải chịu trách nhiệm bồi thường theo pháp luật
bảc vệ người tiêu dùng.
Thông thường, các trách nhiệm này của thương nhân gồm các lĩnh vực:
Thông tin chất lượng sản phẩm, hàng hoá
Trình bày nhãn mác đúng quy cách, không gây nhầm lẫn
Thông tin hướng dẫn sử dụng, điều kiện bảo quản, hạn sử dụng
Cảnh báo các rủi ro hư hỏng hoặc biến chất hoặc gây tai nạn cháy, nổ,
phít tán chất độc.
Thông tin bảo hành, đổi trả sản phẩm.
ii. Chênh lệch khả năng đàm phán
Trong luật học, kinh tế và khoa học xã hội, “chênh lệch khả năng đàm
phán” là khái niệm chỉ trường hợp một bên trong một cuộc mặc cả có nhiều hơn
các lựa chọn thay thế và tốt hơn so với bên kia. Điều này dẫn đến tình trạng một
bên có quyền lực lớn hơn hơn các bên khác để có thể chọn ký hoặc không ký
kết. Điều này làm cho một bên sẽ đạt được điều kiện thuận lợi hơn trong giao
dịch so với phía bên kia. Chênh lệch khả năng đàm phán thường làm cho tự do hợp
thôiĩig tin hoặc bất cân xứng về khả năng đàm phán. Đó là rủi ro về an toàn trong
sử dụng sản phẩm, rủi ro về xử lý, giải quyết tranh chấp khi có sản phẩm lỗi, hư
hỏng hoặc gây thiệt hại ngoài ý muốn.
Trách nhiệm sản phẩm là một quy định có tính đặc thù của pháp luật bảo
vệ người tiêu dùng trong thế kỷ XX. Theo đó những người chịu trách nhiệm đối
với khuyết tật của sản phẩm tiêu dùng có thể không phải là người gây ra khuyết
tật đó nhưng có tham gia vào chuỗi hoạt động đưa sản phẩm đến tay người tiêu
dùng. Đó có thể là nhà sản xuất, người đại lý, người vận chuyển hoặc người bán
lẻ. Hầu hết các nước trên thế giới đều có luật trách nhiệm sản phẩm nằm trong
hoặc độc lập với luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Trong việc giải quyết tranh chấp, bên cạnh việc giảm nhẹ gánh nặng cho
NTD trong xử lý rủi ro trong quá trình sử dụng sản phẩm như giảm nhẹ nghĩa vụ
chứng minh tới mức đảo nghĩa vụ, nhà làm luật các nước đều quy định tổ chức,
cá nhân kinh doanh phải chứng minh điều ngược lại với cáo buộc của NTD. Họ
phải chứng minh không tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi sản xuất,
cung cấp hàng hóa, dịch vụ với những thiệt hại của NTD hay chứng minh mình
không có lỗi trong việc gây ra các khuyết tật của sản phẩm.
Trường hợp không thể chứng minh được mình được miễn trách nhiệm, họ
phải chịu trách nhiệm đối với những cáo buộc của nguyên đơn về khuyết tật của
hàng hóa, dịch vụ mà mình đã sản xuất, thiết kế hoặc cung cấp.
2.1.4.
người tiêu dùng
Các loai trách nhiêm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với
Đây là nội dung đặc thù của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Ngoài những nghĩa vụ theo thỏa thuận và được điều chỉnh bởi các ngành luật tư
thì người cung cấp, hàng hóa, dịch vụ cho NTD phải gánh chịu thêm nhiều
íỊghĩa vụ mang tính hành chính do pháp luật quy định để đảm bảo cho quyền lợi
dch chung: Hiện nay nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp có số
luợng khách hàng lớn đã lựa chọn giải pháp là đưa ra các quy định, hợp đồng
mẫu, điều kiện bán hàng áp dụng cho tất cả khách hàng của mình. Do NTD
không được trực tiếp đàm phán, thỏa thuận các điều khoản trong các hợp đồng
theo mẫu cũng như phải chấp nhận các điều kiện giao dịch chung một cách bị
đóng nên trong nhiều trường hợp NTD gặp rất nhiều rủi ro. Mặc dù, Bộ luật dân
sự năm 2005 hay Bộ luật dân sự 2015 đã có những quy định về hợp đồng theo
mẫu tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế khi áp dụng đối với NTD do đó Luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã kịp thời bổ sung những quy định về
trach nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc thực hiện hợp đồng theo
mẫu, điều kiện giao dịch chung như tại Điều 16 quy định về Điểu khoản của hợp
đong giao kết với người tiêu dùng, điều kiện giao dịch chung không cỏ hiệu lực
đó là các hợp đồng, các điều kiện giao dịch chung có nội dung xâm phạm quyền
lợi người tiêu dùng hay quy định về nghĩa vụ đăng ký hợp đồng theo mẫu và
điều kiện giao dịch chung với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền của tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thiết yếu do Thủ tướng Chính phủ
ban hành 9.
iv. Trách nhiệm bảo hành hàng hoá, linh kiện, phụ kiện: thông thường, khi
chào bán hàng hóa, tổ chức, cá nhân kinh doanh luôn đưa ra những cam kết, hứa
hẹn hấp dẫn về chế độ bảo hành. Tuy nhiên, khi đã xác lập giao dịch và phát
sinh nghĩa vụ bảo hành thì không phải lúc nào tổ chức, cá nhân kinh doanh cũng
thực hiện cam kết một cách nghiêm túc. Nhiều trường hợp, tổ chức, cá nhân
kinh doanh tìm mọi cách để từ chối nghĩa vụ bảo hành hoặc đổ lỗi cho NTD và
tìm lý do khác để trốn tránh nghĩa vụ bảo hành hoặc cố tình trì hoãn việc bảo
hành hoặc thực hiện việc bảo hành nhiều lần làm cho NTD chán nản và từ bỏ
việc bảo hành. Vì vậy Điều 21 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010
đã quy định vê trách nhiệm của tô chức, cá nhân đôi với việc bảo hành hàng hóa,
linh kiện tạo cơ sở pháp lý vũng chắc cho việc bảo vệ NTD.
nhiên, vấn đề này chỉ bắt đầu nhận được sự quan tâm từ khi Pháp lệnh bảo vệ
quyền lợi NTD năm 1999 ra đời.
*
Trước năm ỉ 999, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc
bảo vệ quyền lợi NTD đã được đề cập đến trong Luật thương mại 1997 tại Điều
9 và Bộ luật dân sự 1995. Tuy nhiên, các quy định về trách nhiệm của tổ chức,
cá nhân kinh doanh còn rất hạn chế, nằm rải rác, đồng thời chưa có biện pháp
bảo đảm thực hiện trên thực tế. Hai văn bản này đề cập đến trách nhiệm cung
cấp thông tin nhưng không quy định rõ phải cung cấp thông tin gì, hay đề cập
đến trách nhiệm sản phẩm của thương nhân nhưng chưa quy định rõ sản phẩm
nào, hàng hoá có khuyết tật là gì, quy định về hợp đồng theo mẫu nhưng chỉ
dừng lại ở khái niệm.
* Từ năm 1999 đến năm 2010:
Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo vệ quyền lợi
NTD lần đầu tiên được quy định tại một chương (chương III) trong văn bản
pháp luật là Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999. Theo đó, dù chưa quy
định đầy đủ nhưng về vấn đề cung cấp thông tin được quy định tại Điều 15,
trách nhiệm sản phẩm tại Điều 14, trách nhiệm bảo hành hàng hoá tại Điều 16,
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hoá có khuyết tật gây ra tại Điều 17.
Bên cạnh những quy định trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm
1999, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh với việc bảo vệ quyền lợi
NTD còn được đề cập gián tiếp trong các quy định của Bộ luật dân sự 2005 về
chất lượng của vật mua bán10, nghĩa vụ bảo hành n , nghĩa vụ cung cấp thông
tin12, các quy định về hợp đồng, bồi thường thiệt hại. Ngoài ra trách nhiệm của
tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với việc bảo vệ quyền lợi NTD còn được quy
định nằm rải rác trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như: Luật giao dịch
Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật... các nghị định, thông tư hướng dẫn
những Luật trên như:
Nghị định 177/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 11 năm 2013
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật giá.
Nghị định số 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 11 năm
2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản
xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi NTD
Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định
02/2012/QĐ-TTg ngày 13 tháng 01 năm 2012 về việc ban hành Danh mục hàng hóa,
dịch vụ thiết yểu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.
Thông tư số 19/2014/TT-BCT ngày 18 tháng 6 năm 2014 ban hành
mẫu hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt được ban hành nhằm
hướng dẫn cụ thể các nội dung được giao trong Luật.
2.2.2.
Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam hiện hành về trách
nhiệm của thương nhăn trong việc bảo vệ quyền lợi NTD
Pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh
doanh trong việc bảo vệ quyền lợi NTD tập trung quy định các nội dung cơ bản
sau:
Thứ nhảt, quy định cụ thê trách nhiệm của tô chức, cá nhân kinh doanh
đối với NTD từ điều 12 đến điều 23 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010, chi tiết
từng hành vi như sau:
- Quy định về trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch
Trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch là một chế định trách nhiệm
hết sức đặc biệt trong Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010. Cụ thể, tại Khoản 1