ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN TUYẾT MINH
TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO HÀNG
HÓA CÓ KHUYẾT TẬT GÂY RA CHO NGƢỜI TIÊU
DÙNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật Dân sự
Mã số : 60 38 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Minh Tuấn Mục Lục
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU……………………………………………………………… 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRÁCH
NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO HÀNG HÓA CÓ KHUYẾT
TẬT GÂY RA CHO NGƢỜI TIÊU DÙNG Error! Bookmark not defined.
1.1. Những vấn đề chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho
người tiêu dùng Error! Bookmark not defined.
1.1.1. Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Error!
Bookmark not defined.
1.1.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho
người tiêu dùng Error! Bookmark not defined.
1.2. Sơ lược các quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng Error!
Bookmark not defined.
1.2.1. Giai đoạn trước năm 1999 Error! Bookmark not defined.
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1999 đến nay Error! Bookmark not defined.
1.3. Kinh nghiệm pháp luật quốc tế và một số nước trên thế giới về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu
dùng Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO HÀNG HÓA CÓ
KHUYẾT TẬT GÂY RA CHO NGƢỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM
Error! Bookmark not defined.
2.1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có
Bookmark not defined.
3.1. Thực tiễn giải quyết bồi thường thiệt hại về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng Error! Bookmark not
defined.
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng Error! Bookmark not
defined.
3.2.1. Giải pháp tiếp tục nghiên cứu lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng Error! Bookmark not
defined.
3.2.2. Hoàn thiện cơ sở pháp lý về trách nhiệm trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng Error! Bookmark not
defined. 3.2.3. Giải pháp cơ chế thực thi pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng Error! Bookmark not
defined.
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật dân sự
BTTH
: Bồi thường thiệt hại
chế ngăn chặn các sản phẩm, hàng hóa kém chất lượng, không bảo đảm an
toàn để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD), bảo vệ sản xuất trong
nước và lợi ích quốc gia. Vì yêu cầu đó nên liên tục những năm gần đây, nhà
nước ta đã ban hành các đạo luật chuyên ngành để quản lý chất lượng sản
phẩm, hàng hoá (CLSPHH).
Trong những năm gần đây, pháp luật về CLSPHH nước ta không
ngừng được hoàn thiện cho phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và bối cảnh hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Thực tiễn ở Việt Nam, đã có rất nhiều hàng hóa (máy móc, thiết bị đồ gia
dụng, thực phẩm, dược phẩm…) được sản xuất (kể cả từ nước ngoài cung cấp
tại Việt Nam) không đảm bảo chất lượng, gây nguy hại hoặc gây thiệt hại cho
người tiêu dùng (NTD) không chỉ về tài sản mà còn về tính mạng, sức khỏe.
Đây là vấn đề bức xúc lớn trong xã hội. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam không
có đạo luật đặc thù để buộc nhà sản xuất, nhà kinh doanh, nhà phân phối, nhà
cung cấp, người bán lẻ và những người khác cung cấp hàng hóa phải chịu
trách nhiệm về những thiệt hại do khuyết tật trong hàng hóa của họ gây ra cho
NTD. Vấn đề này mới chỉ được Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 quy định
có tính nguyên tắc là: “Cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác sản xuất, kinh
doanh không bảo đảm chất lượng hàng hoá mà gây thiệt hại cho người tiêu
dùng thì phải bồi thường” [34, Điều 630]. Đây là quy định mới mang tính
nguyên tắc và trên thực tế NTD chưa có công cụ pháp lý hữu hiệu để bảo vệ
mình. Cho nên, nếu nhà sản xuất cung cấp sản phẩm nguy hại cho tài sản, sức
2
khỏe, tính mạng của NTD thì cũng không có đủ cơ sở pháp lý để đòi bồi
thường thiệt hại (BTTH).
Vì vậy, để nâng cao hiệu lực điều chỉnh của pháp luật với các quan hệ
xã hội về CLSPHH tương xứng với vai trò quan trọng của nó trong sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhà nước đã ban hành Luật Tiêu
sự và luật thương mại.
Bảo đảm CLSPHH có ý nghĩa rất quan trọng với NTD, người sản xuất
và nhà nước trong việc duy trì an ninh, trật tự công cộng và lợi ích quốc gia.
Nhà nước thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các công cụ quản lý khác và kiểm tra việc thực
hiện các quy định này, tác động đến các yếu tố hình thành CLSPHH để bảo
đảm an toàn cho sản phẩm, hàng hoá được đưa ra thị trường sử dụng như
BLDS (2005), Bộ luật hình sự (1999), Luật Cạnh tranh (2004), Luật Tiêu
chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (2006), Luật Dược (2005), Luật An toàn thực
phẩm (năm 2010), Luật BVQLNTD (2011).
Như vậy có thể khẳng định rằng, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
quy định trách nhiệm BTTH do hàng hóa kém chất lượng gây ra cho NTD
không ít, vấn đề chỉ còn ở chỗ các địa phương, cơ quan có trách nhiệm bảo vệ
NTD sẽ thực thi như thế nào mà thôi.
Chúng ta đã có nhiều luật, nghị định, thông tư hướng dẫn về bảo vệ
quyền lợi của NTD, nhưng việc thực thi còn rất hạn chế, xa rời thực tế. Nhiều
cơ quan, địa phương chưa tham gia bảo vệ NTD như trong luật đã quy định.
Khả năng tiếp cận các điểm khiếu nại của của NTD (đặc biệt là NTD ở nông
thôn, miền núi, vùng biên giới, hải đảo) còn rất hạn chế, NTD đa phần còn rất
mù mờ về quyền lợi của mình.
4
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đó, sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã
chọn đề tài luận văn thạc sĩ luật học: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng theo pháp luật Việt
Nam”
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước tới nay, nghiên cứu về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có
khuyết tật gây ra cho NTD vẫn đang còn đang bỏ ngỏ để các nhà nghiên cứu
trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD; nội dung các
quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm BTTH do hàng
hóa có khuyết tật gây ra cho NTD và việc thực tiễn giải quyết việc BTTH do
hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD. Qua việc nghiên cứu nhận diện, phát
hiện những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD, từ đó
tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục để góp phần nâng cao trách nhiệm
của các cá nhân, tổ chức đối với CLSPHH, BVQLNTD, thúc đẩy nền kinh tế
sản xuất hàng hóa phát triển lành mạnh, ổn định và bền vững.
Xuất phát từ mục đích của việc nghiên cứu đề tài nêu trên, luận văn có
các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có
khuyết tật gây ra cho NTD như khái niệm BTTH ngoài hợp đồng; khái niệm
NTD; khái niệm hàng hóa khuyết tật; khái niệm trách nhiệm BTTH do hàng
hóa có khuyết tật gây ra cho NTD; kinh nghiệm về trách nhiệm BTTH cho
NTD của một số nước trên thế giới.
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về trách
nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm trách nhiệm BTTH do hàng
hóa có khuyết tật gây ra cho NTD.
6
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về trách
nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD và việc áp dụng các
quy định này trong thực tế.
5. Phạm vi nghiên cứu
Trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD là một
đề tài rộng, được nhiều ngành luật điều chỉnh như hình sự, hành chính, dân
Thông qua việc tiến hành phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật
Việt Nam về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD và
thực tiễn áp dụng các quy định đó trong thực tế. Luận văn còn chỉ ra những
điểm còn bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật hiện hành và đưa ra
một số các giải pháp cần thiết để góp phần hoàn thiện chính sách, quy định về
trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây thiệt hại cho NTD, nhằm
nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa
đối với NTD nhưng vẫn đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng của các chủ
thể này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được cơ cấu gồm 03 chương, như sau:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa
khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng
Chƣơng 2: Các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng
8
Chƣơng 3: Thực tiễn giải quyết bồi thường thiệt hại và phương hướng
hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có
khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng
chất của các quan hệ pháp luật dân sự là những quan hệ mang tính tài sản.
Ngày nay, những tư tưởng pháp lý này của các luật gia La Mã đã được các
nhà lập pháp kế thừa. Ví dụ, Điều 1149 của BLDS Cộng hoà Pháp quy định
“những thiệt hại phải bồi thường cho người có quyền gồm những khoản mà
họ mất và mức lợi mà họ không được hưởng” [27]. Hơn nữa, các nhà lập
pháp ngày nay còn phát triển, và xác định thêm thiệt hại còn bao gồm cả thiệt
hại phi vật chất (thiệt hại về tinh thần). BLDS Nhật Bản quy định tại Điều 707
thì một người chịu trách nhiệm BTTH cả những thiệt hại phi vật chất bất kể
thiệt hại như vậy xảy ra đối với quyền lợi, uy tín hay tài sản của người khác [20].
Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu hiểu thông thường thì “thiệt hại
là những mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của” [25, tr. 1570]. Theo
quan điểm pháp lý của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam thì: “thiệt hại là
10
tổn thất về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức
được pháp luật bảo vệ” [47, tr. 118].
Ở Việt Nam thì truớc khi có BLDS chính thức quy định về vấn đề này
thì tồn tại hai quan điểm trái ngược về xác định thiệt hại phi tài sản - thiệt hại
về tinh thần…Quan điểm thứ nhất cho rằng, thiệt hại tinh thần không thể bồi
thường vì tính mạng, tình cảm của con người là vô giá, do đó không có căn cứ
để xác định mức thiệt hại. Quan điểm thứ hai cho rằng, thiệt hại cả về vật chất
và tinh thần đều phải bồi thường vì mọi tính toán chỉ mang tính tương đối, mà
bản chất của BTTH đều là nhằm khắc phục hậu quả của thiệt hại đã xảy ra.
Đến khi nước ta chính thức có BLDS năm 1995 thì thiệt hại được chính thức
xác định bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần thông qua quy
định về trách nhiệm BTTH như sau:
1. Trách nhiệm BTTH bao gồm trách nhiệm BTTH về vật chất
và trách nhiệm BTTH về tinh thần;
2. Trách nhiệm BTTH về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn
Ở nước ta, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đã được qui định trong
Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Pháp luật mỗi nước có thể có
những qui định khác nhau liên quan đến xác định mức bồi thường, tuy nhiên
một nguyên tắc cơ bản luôn tồn tại - đó là: Người gây thiệt hại phải có trách
nhiệm BTTH cho người bị thiệt hại. Bộ luật Hồng Đức [41] và Bộ luật Gia
Long [17] đều chưa có sự phân biệt rõ nét về trách nhiệm bồi thường dân sự.
Sự phân biệt rạch ròi giữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự chỉ ra
đời trên cơ sở ba bộ dân luật đầu tiên Bộ Dân luật Bắc Kỳ, Bộ Dân luật Trung
Kỳ, Bộ Dân luật Sài Gòn đề cập về trách nhiệm bồi thường dân sự.
Tại BLDS năm 1995, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng: “Người nào
do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm
12
phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây
thiệt hại, thì phải bồi thường” [33, Điều 609]. Như vậy, người gây thiệt hại
cho người khác về tài sản, về sức khỏe, tính mạng và các quyền nhân thân
khác thì phải bồi thường theo nguyên tắc của trách nhiệm dân sự được quy
định tại khoản 3 Điều 605 BLDS 1995.
Khi BLDS năm 2005 được ban hành thay thế BLDS năm 1995, căn cứ
phát sinh trách nhiệm BTTH được quy định tại Điều 604 và nguyên tắc bồi
thường được quy định tại Điều 605, cũng tương tự như những quy định trong
BLDS năm 1995. Điều 604 BLDS hiện hành quy định căn cứ phát sinh trách
nhiệm BTTH khi một người có lỗi cho dù vô ý hoặc cố ý xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp
khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản, của pháp nhân hoặc chủ
thể khác mà gây thiệt hại phải bồi thường. Ngoài ra, trong trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng trong một số trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt
hại phải bồi thường cả trong trường hợp không cần điều kiện lỗi. Đó là trách
NTD bao gồm cả các doanh nghiệp khi mua sản phẩm, dịch vụ không nhằm
mục đích hoạt động kinh doanh, tuy nhiên, Tòa Công lý Châu Âu đã bác bỏ
đề nghị này và cho rằng, NTD chỉ được hiểu là các cá nhân NTD, không bao
gồm các chủ thể khác [63, tr. 365]. Khái niệm NTD trong các văn bản pháp
luật về bảo vệ NTD của Liên minh Châu Âu đã được giải thích trong Chỉ thị
số 1999/44/EC ngày 25/5/1999 về việc mua bán hàng hóa tiêu dùng và các
bảo đảm có liên quan [61]. Chỉ thị này giải thích: “NTD là bất cứ tự nhiên
nhân (tức là cá nhân) nào … tham gia vào các hợp đồng điều chỉnh trong Chỉ
thị này… vì mục đích không liên quan tới hoạt động kinh doanh hoặc nghề
nghiệp của mình.” [62, tr.359]. NTD theo quan niệm của pháp luật Cộng hòa
Pháp cũng chỉ là các cá nhân nhưng không bao gồm các cá nhân khi thực hiện
14
hành vi mua sắm hàng hóa, dịch vụ để phục vụ hoạt động kinh doanh hoặc
hoạt động có tính nghề nghiệp cho mình [30, tr. 6].
Tại Hoa Kỳ, các quy định về bảo vệ NTD nằm cả trong pháp luật của
liên bang và pháp luật của các bang. Tuy không có một đạo luật chung thống
nhất về BVNTD mà trong đó khái niệm NTD được giải thích rõ ràng, nhưng
theo các chuyên gia pháp luật của Hoa Kỳ, khái niệm NTD chỉ được quan
niệm là cá nhân NTD tham gia giao dịch với mục đích chủ yếu vì nhu cầu cá
nhân hoặc sinh hoạt hộ gia đình.
Việc bảo vệ NTD ở Canada chủ yếu được quy định trong các đạo luật
về bảo vệ người tiêu dùng của các bang ở quốc gia này. Trong các đạo luật
này, NTD cũng chỉ được giải thích là các cá nhân.
Luật Tiêu dùng Pháp định nghĩa: “NTD được hiểu là người không phải
chủ doanh nghiệp, tức là thể nhân mua các sản phẩm và dùng các dịch vụ
không nhằm mục đích hoạt động nghề nghiệp, kiếm lợi nhuận để phục vụ cho
gia đình hoặc bản thân” [32, tr.24].
“NTD là người mua hàng hóa hoặc dịch vụ để sử dụng cho cá nhân, gia
luật của Đài Loan, Thái Lan, Hàn Quốc quy định NTD bao gồm cả tổ chức là
suy diễn không chính xác.
Do đó, các giao dịch mà tổ chức tham gia sẽ được bảo vệ theo pháp luật
hợp đồng, mặc dù đối tượng của giao dịch là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng. Các
tổ chức chỉ có thể kiện nhà cung cấp với tư cách người mua trong quan hệ
hợp đồng thông thường hoặc có thể trở thành đại diện của NTD mà thôi.
Một số trường hợp cá biệt coi các doanh nghiệp rất nhỏ cũng là NTD.
Ví dụ, theo Luật thực hành thương mại Ôxtrâylia, các giao dịch về hàng hóa,
dịch vụ có giá trị nhỏ hơn 40.000 đôla Ôxtrâylia thì người mua cũng được đối
xử như là NTD trong chế độ bảo hành, kể cả khi người mua là tổ chức. Trong
trường hợp, giá trị giao dịch lớn hơn 40.000 đôla Ôxtrâylia, để được coi là
16
NTD, người mua phải chứng minh mục đích sử dụng là tiêu dùng của mình.
Tuy vậy, chúng ta nên nhìn nhận đây là một đối xử tương đương như là NTD
của pháp luật đối với trường hợp cá biệt này. Bởi lẽ, pháp luật BVQLNTD
được đặt ra để hỗ trợ luật dân sự và thương mại, để khắc phục những hạn chế
của quyền tự do khế ước khi có sự không cân xứng về điều kiện kinh tế, trình
độ hiểu biết giữa các bên trong giao dịch chứ pháp luật BVQLNTD không
thay thế luật dân sự và thương mại.
Thứ ba, việc mua hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng, sinh
hoạt cho cá nhân, hộ gia đình.
Mục đích tiêu dùng, sinh hoạt ở đây có nghĩa là NTD mua hàng hóa,
dịch vụ để sử dụng cho các nhu cầu của cá nhân và gia đình mình. Mục đích
tiêu dùng, sinh hoạt không phải là phục vụ cho việc bán lại, hoạt động sản
xuất kinh doanh khác hoặc các hoạt động nghề nghiệp. Việc mua sản phẩm
phục vụ tiêu dùng nhằm bán lại (ví dụ: mua bánh mỳ từ nhà sản xuất để về
bán lẻ), hoặc chế biến thành sản phẩm khác để bán (ví dụ: mua bánh mỳ từ
nhà sản xuất, thêm các gia vị, thức ăn khác tạo thành các món ăn mới rồi đem
Động sản không bảo đảm sự an toàn mà người ta có thể trông
đợi một cách chính đáng. Nếu khiếm khuyết của sản phẩm gây thiệt
hại đến người hoặc tài sản khác, thì người sản xuất, người phân
phối, người bán hoặc người cho thuê sản phẩm đó có trách nhiệm
bồi thường thiệt hại [28, tr. 709].
Theo Black’s Law Dictionary thì sản phẩm có khuyết tật (defective
products) là sản phẩm gây ra nguy hiểm một cách bất hợp lý trong điều kiện
sử dụng bình thường, không đáp ứng được yêu cầu mà người sử dụng mong
đợi, không phù hợp với tiêu chuẩn thiết kế ban đầu hoặc có lỗi kỹ thuật trong
thiết kế, sản xuất sản phẩm [61, tr. 1225].
Định nghĩa của Luật BVQLNTD về hàng hóa có khuyết tật như sau:
18
3. Hàng hóa có khuyết tật là hàng hóa không bảo đảm an toàn
cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức
khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả trường hợp hàng hóa đó
được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện
hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa
được cung cấp cho người tiêu dùng, bao gồm:
a) Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết
kế kỹ thuật;
b) Hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản
xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ;
c) Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình
sử dụng nhưng không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho người
tiêu dùng [40, Điều 3].
Như vậy, quan điểm của pháp luật Việt Nam về hàng hóa có khuyết tật
đã thể hiện nội dung cơ bản là hàng hóa không đảm bảo an tòan cho NTD vì
những khuyết tật của hàng hóa phát sinh do thiết kế, sản xuất hay việc hướng
sử dụng sản phẩm.
Khuyết tật do thiết kế, do sản xuất là những khuyết tật phát sinh do việc
thiết kế hoặc hoạt động sản xuất mà tạo ra những “thiếu sót vốn có trên sản
phẩm”, làm cho sản phẩm có “đặc tính” nguy hiểm cho người sử dụng. Sự
khác nhau cơ bản giữa khuyết tật do sản xuất và khuyết tật do thiết kế là
khuyết tật trong giai đoạn sản xuất sản phẩm xuất hiện khi thành phẩm không
tuân theo dự kiến hoặc quy cách chất lượng mà nhà sản xuất đề ra. Ví dụ, khi
sản xuất đã sử dụng những vật liệu không đúng tiêu chuẩn. Trong khi đó,
khuyết tật do thiết kế (design defect) xảy ra khi sản phẩm được sản xuất theo
đúng thiết kế, nhưng tự thân sản phẩm có những dấu hiệu có thể gây ra nguy