Pháp luật trách nhiệm bồi thường nhà nước của một số nước và một số nước và kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của nhà nước - Pdf 34

Bài tập lớn bồi thường nhà nước

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.Pháp luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước của một số nước trên
thế giới
1.Pháp luật trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Canada
2.Pháp luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước Cộng hòa Liên bang Đức
3.Pháp luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước của Trung Quốc
4.Pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước của CHDCND Lào
5.Pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Nhật Bản
6.Pháp luật về trách nhiệm bồi thường Nhà nước ở Việt Nam
II.Một số khó khăn trong thực hiện việc bồi thường theo Luật
Trách nhiệm bồi thường của nhà nước
III.Ý kiến về xây dựng LBTNN của Việt Nam
KẾT LUẬN


Bài tập lớn bồi thường nhà nước
ĐẶT VẤN ĐỀ
Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là đạo luật có ý nghĩa quan
trọng, quy định trách nhiệm của nhà nước đối với những thiệt hại do hành vi
trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra cho cá nhân, tổ chức. Luật
trách nhiệm bồi thường của nhà nước tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi bị người thi hành công vụ gây thiệt
hại đồng thời là cơ sở để xử lý nghiêm minh, kịp thời những vi phạm pháp
luật từ phía các cơ quan nhà nước, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm cad
đạo đức của đội ngũ công chức nhà nước, giữ vững ổn định chính trị xã hội,
góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ViệtNam.

2. Pháp luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước Cộng hòa Liên bang
Đức.
Ở CHLB Đức, pháp luật về bồi thường Nhà nước là một chế định pháp
luật hết sức phức tạp và thiếu vắng tính hệ thống. Hình thức tồn tại chủ yếu
của pháp luật về bồi thường Nhà nước đến nay vẫn là án lệ và được hình
thành trên cơ sở các quyền khởi kiện của công dân trước sự xâm hại của các
hành vi công quyền trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Cộng hoà liên bang Đức không có Luật liên bang về trách nhiệm bồi
thường nhà nước. Cơ sở pháp lý cho việc bồi thường nhà nước là những điều
khoản lẻ tẻ và không hệ thống được quy định rải rác trong Hiến pháp; Bộ luật
dân sự; Luật phòng, chống lây nhiễm; Luật bồi thường đối với các biện pháp
hình sự…Khi chủ thể của hành vi công quyền trong lĩnh vực luật công mà
hành vi của họ vi phạm quyền lợi của công dân, Hiến pháp Đức bảo đảm cho
công dân sự bảo vệ pháp lý khi công chức nhà nước có hành vi vi phạm
quyền lợi của họ. Theo đó, công dân khả năng được đề nghị thẩm định tính
hợp pháp của hành vi nói trên (bảo vệ pháp lý nguyên phát). Sự bảo vệ pháp
lý ấy còn được bổ sung bởi Luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước (ở một
số bang mới sáp nhập) vì bên cạnh việc thẩm định hành vi công quyền qua
Toà án, Luật này đưa ra khả năng đòi bồi thường hậu quả của sự vi phạm trên
(bảo vệ pháp lý thứ phát).
* Về quyền khởi kiện của công dân.
Vì ở Đức không có đạo luật về trách nhiệm nhà nước. Cơ sở pháp lý
quan trọng nhất của các quyền khởi kiện được quy định tại các điều khoản
riêng lẻ trong các luật chuyên ngành như:


Bài tập lớn bồi thường nhà nước
- Quyền khởi kiện yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi
vi phạm nghĩa vụ công vụ. Người bị thiệt hại có thể khởi kiện đòi bồi thường
toàn bộ thiệt hại, kể cả thu nhập (lãi) bị mất và tiền bồi thường cho thiệt hại

thì cơ quan nhà nước đó có trách nhiệm bồi thường cho đối tượng bị tổn hại.
Việc bồi thường nhà nước được đặt ra trong hai lĩnh vực: hành chính và
hình sự (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự). Đối với các thiệt hại do
các cơ quan nhà nước thực hiện trong các hoạt động tố tụng như xét xử và thi
hành án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, thương mại, hành chính gây ra,
việc bồi thường được áp dụng tương tự như trong lĩnh vực hình sự. Tuy
nhiên, Luật Bồi thường nhà nước Trung Quốc chưa đề cập đến các thiệt hại
do các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, lập quy gây ra.
Ở Trung Quốc, quy định cách xác định trách nhiệm bồi thường nhà
nước theo hình thức liệt kê. Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm bồi thường cho
những thiệt hại gây ra bởi những hành vi nhất định đã được quy định trong
Luật Nhà nước bồi thường thiệt hại.
Pháp luật Bồi thường Nhà nước của Trung Quốc quy định rất rõ các
loại thiệt hại được bồi thường cũng như hình thức bồi thường.
Điều 25 của Luật Nhà nước bồi thường thiệt hại của Trung Quốc quy
định, hình thức bồi thường chủ yếu sẽ là bồi thường bằng tiền. Trường hợp
tài sản bị thu giữ trái pháp luật vẫn còn hoặc có thể khôi phục nguyên trạng
được thì tài sản này sẽ được trả lại và khôi phục lại nguyên trạng.
Trường hợp sức khoẻ bị xâm phạm thì tiền chi phí y tế và thu nhập bị
mất do không lao động được sẽ được bồi thường.
Trong trường hợp người bị thiệt hại chết thì mức bồi thường là 20 lần
tiền lương năm trung bình của người lao động trong năm trước đó. Tiền mà
người bị chết có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người khác cũng được bồi thường.
Theo quy định của Luật Nhà nước bồi thường thiệt hại của Trung
Quốc, cơ quan nào gây thiệt hại thì cơ quan đó có trách nhiệm bồi thường.
Cụ thể, trong lĩnh vực bồi thường hành chính, Luật quy định tại Điều 7 :
“Cơ quan hành chính hoặc cán bộ của các cơ quan hành chính trong khi thi
hành công vụ vi phạm quyền lợi hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, tổ chức





Bài tập lớn bồi thường nhà nước
nhà nước , xã hội và công dân do lỗi hoặc do không thực hiện nghĩa vụ của
cơ quan hành chính.
Cho đến nay tòa án chưa nhận được hoặc xét xử bất kì khiếu kiện nào
của công dân về trách nhiệm của nhà nước. Tuy nhiên tất cả những thiệt hại
do Nhà nước gây ra và bị công dân khiếu kiện hiện nay được cơ quan hành
chính giả quyết tùy từng trường hợp cụ thể và bằng các biện pháp hành
chính.
Nhà nước đã xây dựng một hệ thống pháp luật riêng biệt về chế độ trách
nhiệm này để đảm bảo niềm tin của công dân.
5. Pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Nhật Bản
Bản chất của trách nhiệm BTNN: BTNN được hiểu là bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng và đa số học giả Nhật Bản cho rằng trách nhiệm BTNN
mang bản chất của pháp luật dân sự. Do vậy, cơ chế giải quyết bồi thường là
cơ chế dân sự, tức là thông qua việc thương lượng hoặc giải quyết các vụ
kiện theo trình tự thủ tục dân sự.
Cơ quan đại diện cho Nhà nước thực hiện trách nhiệm bồi thường: Luật
về trách nhiệm BTTH không quy định về nội dung này mà nội dung này
được quy định trong Luật về nhiệm vụ quyền hạn của Bộ Tư pháp trong các
vụ việc liên quan đến lợi ích của Nhà nước và Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người bị hại muốn được bồi thường thì phải có đơn gửi tới Bộ trưởng
Bộ Tư pháp thông qua Ban thư ký tranh tụng dân sự thuộc Ban thư ký Bộ
trưởng. Nếu như vụ kiện phải đưa ra Toà án để giải quyết thì Bộ trưởng Bộ
Tư pháp là người đại diện cho Nhà nước để tham gia tranh tụng. Sở dĩ quy
định cho Bộ Tư pháp thực hiện nhiệm vụ này là vì, các chuyên gia Nhật Bản
cho rằng: Bộ Tư pháp là cơ quan quản lý nhà nước vê các vấn đề pháp lý,
thực thi pháp lý, vì vậy, Bộ là cơ quan có chuyên môn pháp lý tốt nhất; Bộ
Tư pháp tham gia tố tụng sẽ bảo đảm yêu cầu khách quan của vụ kiện vì Bộ

điểm và điều kiện chính trị- kinh tế- xã hội cụ thể của đất nước trong giai
đoạn hiện nay cũng như tham khảo kinh nghiệm nước ngoài trong việc xây
dựng và hoàn thiện chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật
TNBTNN 2009 đã xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
trong 3 lĩnh vực – hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án,


Bài tập lớn bồi thường nhà nước
nghĩa là chỉ loại trừ trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực xây
dựng pháp luật.
* Đối tượng
Mọi cá nhân, tổ chức bị thiệt hại trong các trường hợp thuộc phạm vi
trách nhiệm bồi thường nhà nước theo quy định của Luật này thì được Nhà
nước bồi thường.
* Quyền yêu cầu bồi thường
Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan giải quyết bồi thường nhà
nước thực hiện việc giải quyết bồi thường khi cho rằng mình bị thiệt hại do
hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra mà hành vi đó đã
được xác định tại văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc bị oan
trong hoạt động tố tụng hình sự.
Nhà nước không bồi thường đối với thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của
người bị thiệt hại; trường hợp người thi hành công vụ và người bị thiệt hại
cùng có lỗi thì Nhà nước chỉ bồi thường một phần thiệt hại tương ứng với
phần lỗi của người thi hành công vụ.
* Về xác định chủ thể trực tiếp thực hiện trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước.
Một trong những biểu hiện rõ nét của trách nhiệm Nhà nước tôn trọng
và bảo đảm thực thi quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức chính là ở
việc Luật TNBTNN 2009 đã xác định ngay trong Luật chủ thể trực tiếp phải
thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đặc biệt là trong các trường

quyết không thoả đáng. Quy trình này đảm bảo tôn trọng quyền chủ động của
người bị thiệt hại; tôn trọng ý chí và khuyến khích sự thoả thuận giữa các
bên- người bị thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm bồi thường đồng thời đảm
bảo nguyên tắc khi người dân có yêu cầu, vụ việc phải được xét xử bằng một
toà án độc lập theo thủ tục tố tụng tư pháp công khai, minh bạch, bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan. Đó cũng chính là một cách thức
để thực hiện sự phân công, kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền hành
pháp và tư pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và Nhà
nước đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần phụng công thủ pháp
của công chức, viên chức nhà nước.


Bài tập lớn bồi thường nhà nước
II.Một số khó khăn trong thực hiện việc bồi thường theo Luật Trách
nhiệm bồi thường của nhà nước
Việc triển khai pháp luật về trách nhiệm bồi thường Nhà nước của cơ
quan, đơn vị cũng còn một số hạn chế nhất định:
Khó khăn về kinh phí: Hiện nay, kinh phí bồi thường theo quy định
của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước tùy theo từng trường hợp.
Ngân sách nhà nước được tạo thành chủ yếu từ tiền thuế do nhân dân đóng
góp. Vì vậy, nếu dùng một phần ngân sách này để đảm bảo việc bồi thường
mà không được hoàn trả lại hoặc hoàn trả không bằng mức cơ quan nhà nước
đã bồi thường thì suy cho cùng, đó chính là đang làm giảm đi một phần ngân
sách mà lẽ ra có thể dùng để phát triển đất nước.
Khó khăn về nhân sự: phần lớn các ngành đều đang gặp khó khăn
chung là cán bộ làm công tác giải quyết bồi thường thiệt hại phải kiêm nhiệm
những công việc khác, khối lượng công việc lớn, chưa có kinh nghiệm về
giải quyết bồi thường nên công tác này còn nhiều hạn chế; chưa có văn
bản hướng dẫn nào về tổ chức, bộ máy, biên chế phụ trách vấn đề bồi thường
trong từng cơ quan. Ngoài ra, bắt đầu từ ngày 1.7.2011, Luật Tố tụng hành

- Người bị thiệt hại còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyền
yêu cầu bồi thường do các quy định của Luật TNBTCNN, do sự chồng chéo
giữa các Luật. Điều 4 Luật TNBTCNN quy định người bị thiệt hại chỉ có
quyền yêu cầu bồi thường khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Vì thế,
mặc dù đã có thiệt hại thực tế xảy ra nhưng người bị thiệt hại không có quyền
yêu cầu bồi thường ngay mà phải thực hiện các thủ tục để có được văn bản
xác định nêu trên. Nhưng để có được văn bản xác định hành vi trái pháp luật
của người thi hành công vụ, người bị thiệt hại còn phải vượt qua biết bao
"cửa ải” thủ tục nữa và phải mất nhiều thời gian, tiền bạc. Mặt khác quy định
về thời hiệu yêu cầu bồi thường của Luật TNBTCNN là 2 năm kể từ ngày có
văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ nhưng
quy định của pháp luật dân sự thì thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại là 2
năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân bị xâm
phạm. Nên có trường hợp người bị thiệt hại còn đang thực hiện thủ tục xác


Bài tập lớn bồi thường nhà nước
định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ cũng không thể thực
hiện quyền yêu cầu bồi thường do đã hết thời hiệu giải quyết khiếu nại hoặc
thời hiệu giải quyết vụ án hành chính.
- Việc triển khai Luật TNBTCNN bất cập còn do cơ quan có trách
nhiệm bồi thường lúng túng trong hoạt động giải quyết bồi thường, chi trả
tiền bồi thường và thực hiện trách nhiệm hoàn trả. Công chức được giao công
tác bồi thường nhà nước chưa nắm vững các quy định của pháp luật về thủ
tục giải quyết BTNN... Qua thực tế triển khai trên địa bàn TP.HCM, ông
Trần Thật - Trưởng phòng Kiểm sát điều tra án kinh tế chức vụ (Viện Kiểm
sát TP.HCM), đề nghị có quy định cụ thể trường hợp bồi thường đối với
người bị oan là doanh nghiệp, người nước ngoài… việc xác định thu nhập bị
mất ra sao, bồi thường về thiệt hại phi vật chất (uy tín, thương hiệu, tổn thất

ngwoif bị hại không tin tưởng vào Nhà nước, như vậy sẽ làm tăng thêm mâu
thuẫn giữa quyền lực công và lợi ích tư.
Thứ tư, việc quy định thủ tục thương lượng – hòa giải trong luật bồi
thường nhà nước Việt Nam là một chế định đươc coi là rất tiến bộ. Nhưng
quy định thủ tục thương lượng hào giải phải giải quyết 3 vấn đề: một là, phải
đảm bảo được nguồn kinh phí đầy đủ, hai là, người giả quyết thương lượng
hòa giải vụ kiện bồi thường phải được giao cho thẩm quyền một cách đầy đủ;
ba là, quy định rõ mức tiền bồi thường, các việc được phép thương lượng hòa
giải..nếu luật bồi thường Nhà nước Việt Nam không đáp ứng được 3 điều
kiện nêu trên, thì việc quy định thủ tục thương lượng hòa giải cũng chỉ mang
tính hình thức.
Thứ năm, trách nhiệm bồi hoàn của nhân viên công vụ không nên quy
định quá nặng, quá tỷ mỉ. Trách nhiệm bồi hoàn của nhân viên công vụ có
thể quy định thành các nguyên tắc chung, trong đó chỉ nên nhấn mạnh yếu tố
lỗi do cố ý chủ quan và sơ xuất để xảy ra hậu quả nghiêm trọng thì mới bồi
hoàn.
Thứ sáu, cần xác định rõ mức bồi thường nhà nước. Phải có cán bộ có
trình độ luật pháp khá tốt để xử lý đơn từ, hồ sơ khiếu kiện, đủ năng lực xác
định thẩm quyền để biết tiếp nhận giải quyết hay từ chối ngay và hướng dẫn
cụ thể người khiếu nại đến đúng cơ quan thẩm quyền giải quyết, để không
làm lãng phí thời gian của người hoặc tổ chức có yêu cầu bồi thường.


Bài tập lớn bồi thường nhà nước
Thứ bảy, Luật Bồi thường nhà nước Việt Nam nên nghiên cứu kỹ để thành lập
hệ thống cơ quan bồi thường nhà nước theo mô hình tập trung, nghĩa là nên quy định
cho một hệ thống hoặc một số ít cơ quan thực hiện xử lý việc bồi thường nhà nước
(như dự thảo Luật Bồi thường nhà nước Việt Nam).

Thứ tám, để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác giải quyết bồi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status