ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
==========
NGUYỄN VĂN NGHĨA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU, BẢO HIỂM
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CHỦ TÀU TRONG LĨNH VỰC
HÀNG HẢI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – NĂM 2005
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN NGHĨA
HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CHỦ TÀU: 12
1.1 Sơ lƣợc lịch sử phát triển của pháp luật về bảo hiểm hàng hải: 12
1.2 Một số khái niệm cơ bản: 15
1.2.1 Bảo hiểm, bảo hiểm hàng hải: 15
1.2.2 Bảo hiểm thân tàu: 16
1.2.3 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu: 16
1.2.4 Pháp luật về bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của
chủ tàu: 16
1.2.5 Ngƣời bảo hiểm và ngƣời tham gia bảo hiểm: 17
1.2.6 Sự kiện bảo hiểm: 18
1.2.7 Rủi ro trong bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của
chủ tàu: 18
1.2.8 Đối tƣợng bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của
chủ tàu: 19
1.2.9 Phí bảo hiểm, giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm: 20
1.2.9.1 Phí bảo hiểm: 20
1.2.9.2 Giá trị bảo hiểm: 20
1.2.9.3 Số tiền bảo hiểm: 21
1.2.10 Khiếu nại bồi thƣờng bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm
dân sự chủ tàu: 22
1.2.11 Tranh chấp trong bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm
dân sự chủ tàu: 23
1.2.12 Tổn thất và giám định bồi thƣờng: 24
Nguyễn Văn Nghĩa – CH Luật Biển và Quản lý biển k1 - Khoa Luật - ĐHQGHN
2
1.2.12.1 Tổn thất: 24
1.2.12.2 Giám định: 26
1.2.12.3 Bồi thƣờng: 26
1.3 Vai trò của bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự
2.2.2 Hình thức của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu: 81
2.2.3 Trách nhiệm của các bên trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm
trách nhiệm dân sự chủ tàu: 82
2.2.3.1 Bên mua bảo hiểm: 82
2.2.3.2 Bên bảo hiểm: 85
2.3 Giải quyết tranh chấp bồi thƣờng bảo hiểm thân tàu và bảo
hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu: 91
2.3.1 Thời hiệu khiếu nại giải quyết tranh chấp: 91
2.3.2 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp: 92
2.3.3 Luật áp dụng giải quyết tranh chấp: 93
CHƢƠNG 3: HIỆN TRẠNG THỰC THI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM
THÂN TÀU, BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CHỦ TÀU:94
3.1 Hiện trạng thực thi pháp luật về bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm
trách nhiệm dân sự chủ tàu trong lĩnh vực hàng hải và một số
vấn đề pháp lý đặt ra: 94
3.1.1 Những kết quả đạt đƣợc: 94
3.1.2 Một số hạn chế, vƣớng mắc trong quá trình thực hiện: 100
3.1.3 Một số vấn đề pháp lý đặt ra: 114
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hiểm
Nguyễn Văn Nghĩa – CH Luật Biển và Quản lý biển k1 - Khoa Luật - ĐHQGHN
4
thân tàu và bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu trong lĩnh
vực hàng hải: 124
3.2.1 Những nguyên tắc cơ bản: 124
3.2.1.1 Đảm bảo tính kế thừa trong các quy định của pháp luật
bảo hiểm hàng hải Việt Nam: 124
3.2.1.2 Đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển, hội nhập và nâng
cao khả năng cạnh tranh của ngành hàng hải: 126
chủ tàu
BLHH :Bộ luật hàng hải
DNBH :Doanh nghiệp bảo hiểm
ITC 1995 :Institute Time Clauses – Hulls ngày 01/11/1995
(Quy tắc bảo hiểm thời hạn thân tàu 1995)
KDBH :Kinh doanh bảo hiểm
MIA 1906 :Marine Insurance Act, 21 December 1906
(Luật bảo hiểm hàng hải Anh 1906)
PLHĐKT :Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
P & I Class 1 – 2002 :Protection and Indemnity of the West of
England Ship owners Matual Insurance
Association (Luxembourg),
Class 1 – 2002 (bảo vệ và bồi thƣờng của hiệp
hội bảo hiểm miền tây nƣớc Anh, nhóm 1 năm
2002)
TBH :Tái bảo hiểm
TANDTC :Toà án nhân dân tối cao
Nguyễn Văn Nghĩa – CH Luật Biển và Quản lý biển k1 - Khoa Luật - ĐHQGHN
7
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đầu tƣ phát triển mạnh mẽ các loại hình dịch vụ là chủ trƣơng, đƣờng lối
đúng đắn của Đảng và Nhà nƣớc ta nhƣ Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX của Đảng đã khẳng định: “phát triển mạnh và nâng cao chất lƣợng các ngành
dịch vụ thƣơng mại, hàng hải, bảo hiểm, ” 1; tr.27 . Trong đó đặc biệt là lĩnh vực
bảo hiểm hàng hải – một lĩnh vực đặc thù, tƣơng đối phức tạp và hầu nhƣ còn khá
mới mẻ đối với Việt Nam nên cần phải đƣợc ƣu tiên đầu tƣ nghiên cứu.
BLHH Việt Nam 1990, với hơn 14 năm ra đời và thực thi đến nay đã tỏ ra có
của bảo hiểm hàng hải; quyền và nghĩa vụ của ngƣời mua bảo hiểm, của DNBH;
phí bảo hiểm; khiếu nại đòi bồi thƣờng, v.v cho đến cơ chế giải quyết tranh chấp
bảo hiểm hàng hải. Trong quá trình thực hiện luận văn của mình, tác giả có tìm hiểu
và tham khảo một số công trình nghiên cứu khoa học điển hình sau:
- Công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ, số 2001-38-034 do TANDTC chủ
trì năm 2002: “Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng, hợp đồng
bảo hiểm tại toà án nhân dân – Những tồn tại, vƣớng mắc và kiến nghị” cùng với
các chuyên đề nhƣ:
+ Đỗ Cao Thắng – Chánh toà Kinh tế TANDTC: “Một số kiến nghị về áp
dụng pháp luật hợp đồng kinh tế trong lĩnh vực bảo hiểm:;
+ Th.s Nguyễn Văn Cƣờng – Toà Dân sự TANDTC: “Hợp đồng bảo hiểm vô
hiệu và xử lý tài sản đối với hợp đồng bảo hiểm vô hiệu”;
+ Th.s Đinh Hoài Nam, Trƣờng ĐHKT Quốc dân Hà Nội: “Thực tiễn xét xử
một số vụ tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tại toà án trong thời gian qua. Những suy
nghĩ và kiến nghị”;
- Nguyễn Thị Nhƣ Mai: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc hoàn
thiện pháp luật hàng hải Việt Nam ” - Luận án tiến sỹ luật học bảo vệ tại Khoa luật
năm 2004;
- Trƣơng Hồng Hải: “Pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt
Nam – Thực trạng và hƣớng hoàn thiện” - Luận án thạc sỹ luật học bảo vệ tại
Trƣờng Đại học Luật Hà Nội năm 1997;
Nguyễn Văn Nghĩa – CH Luật Biển và Quản lý biển k1 - Khoa Luật - ĐHQGHN
9
- Phạm Hồng Chi: “Khiếu nại ngƣời bảo hiểm thân tàu và bảo hiểm trách
nhiệm dân sự chủ tàu” - Khoá luận tốt nghiệp bảo vệ tại Trƣờng Đại học Ngoại
thƣơng năm 2001, v.v
3. Đối tƣợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn đi sâu nghiên cứu hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam
i. Tìm ra mối liên hệ, giới hạn phạm vi điều chỉnh giữa các quy định của
pháp luật Việt Nam về BHTT, BHTNDSCT với các văn bản pháp luật bảo hiểm
chuyên ngành và các văn bản pháp luật Việt Nam khác có liên quan;
ii. Tìm hiểu các quy định của pháp luật và tập quán bảo hiểm hàng hải Anh
cũng nhƣ những quy định của pháp luật hàng hải quốc tế, pháp luật bảo hiểm hàng
hải điển hình một số nƣớc có liên quan;
iii. Phát hiện ra những điểm bất cập trong các quy định của pháp luật Việt
Nam về BHTT, BHTNDSCT và đƣa ra những giải pháp, đề xuất mang tính khoa
học;
iv. Luận văn là tài liệu chuyên ngành bảo hiểm hàng hải phục vụ công tác
nghiên cứu, giảng dạy, học tập của giảng viên, học viên, sinh viên;
v. Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo nhằm nâng cao trình độ hiểu biết
pháp luật về BHTT, BHTNDSCT cũng nhƣ những bài học kinh nghiệm, quý báu
giúp ích cho những nhà hoạt động thực tiễn nhƣ: các doanh nghiệp kinh doanh bảo
hiểm, các doanh nghiệp tàu biển, các cơ quan quản lý Nhà nƣớc chuyên ngành về
hàng hải, tòa án, trọng tài, v.v
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của hai phƣơng pháp cơ bản của nghiên
cứu khoa học là phƣơng pháp duy vật biện chứng và phƣơng pháp duy vật lịch sử,
luận văn còn sử dụng một hệ thống các phƣơng pháp khác nhƣ: phƣơng pháp phân
tích, chứng minh, liệt kê, so sánh, tổng hợp nhằm làm sáng tỏ những vấn đề cần
nghiên cứu của luận văn, đặc biệt phƣơng pháp so sánh đƣợc sử dụng triệt để để tìm
ra những điểm tƣơng đồng và khác biệt giữa quy định của pháp luật Việt Nam với
các quy định tƣơng ứng của pháp luật và bảo hiểm hàng hải các nƣớc đặc biệt là
Nguyễn Văn Nghĩa – CH Luật Biển và Quản lý biển k1 - Khoa Luật - ĐHQGHN
11
MIA 1906, Quy tắc ITC 1995, Quy tắc P & I Class 1 – 2002 để có những đề xuất
phù hợp.
5. Ý nghĩa của luận văn
dụng pháp luật nƣớc ngoài;
iv. Luận văn còn là tài liệu tham khảo giúp các cơ quan Nhà nƣớc nhƣ: Cảng
vụ, Cục Đăng kiểm Việt Nam, Cục Hàng hải Việt Nam, Toà án, Trọng tài, v.v
hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật Việt Nam về BHTT, BHTNDSCT, qua đó ý
thức đƣợc trách nhiệm và triển khai thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của mình trong công tác quản lý Nhà nƣớc về biển, hàng hải.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mục lục, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn đƣợc kết cấu gồm 03 chƣơng:
Chƣơng 1: Những vấn đề chung về bảo hiểm và pháp luật bảo hiểm thân
tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu
Chƣơng 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về giao dịch bảo hiểm thân
tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu
Chƣơng 3: Hiện trạng thực thi và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân
sự chủ tàu
Nguyễn Văn Nghĩa – CH Luật Biển và Quản lý biển k1 - Khoa Luật - ĐHQGHN
13
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ PHÁP LUẬT
BẢO HIỂM THÂN TÀU, BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA
CHỦ TÀU
1.1 SƠ LƢỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO
HIỂM HÀNG HẢI
Pháp luật về bảo hiểm nói chung và pháp luật về bảo hiểm hàng hải nói riêng
có lịch sử ra đời từ rất sớm. Ngay từ khi sinh ra con ngƣời đó phải chống chọi với
sự bấp bờnh, hiểm nguy đe doạ từ nhiều phía nhƣ lũ lụt, hạn hán, động đất, sóng
thần, súc vật hoặc chiến tranh gây ra, v.v.… Do vậy, mà nhu cầu về phũng vệ nhằm
nhất so với các loại hỡnh bảo hiểm khỏc. Dạng cho vay này đƣợc những ngƣời Hy
Lạp và La Mó ỏp dụng cơ chế nhƣ sau:
- Đối với buôn bán bằng đƣờng biển, các nhà buôn cần nhiều vốn. Họ yêu cầu
các chủ ngân hàng cho họ vay số tiền cần thiết.
- Nếu tàu bị đắm, nhà buôn không phải hoàn trả cho chủ ngân hàng.
- Trái lại, nếu việc buôn bán thành công, ngƣời cho vay không những đƣợc
hoàn trả số vốn và cũn đƣợc hƣởng thêm một khoản chia lời rất lớn, bù trừ cho rủi
ro đó phải cam kết chịu. Khoản lói cú thể lờn đến 40%, thậm chí là 50%.
Vào thế kỷ thứ XII, cùng với sự phục hồi trao đổi thƣơng mại “Cho vay
trong trƣờng hợp mạo hiểm lớn” rất phát triển, kéo theo sự lạm dụng về lói suất.
Thông qua Sắc lệnh năm 1234 Giáo Hoàng Gregoire IX đó nghiờm cấm việc
cho vay nặng lói (lói suất cắt cổ) và nhƣ vậy loại hỡnh cho vay này cũng bị cấm. Do
đó, cần phải có một cơ chế giúp cho các chủ ngân hàng chắc chắn lấy lại đƣợc số
tiền đó cho vay. Thế là, dần dần hỡnh thành một hệ thống kộo theo sự ra đời của
bảo hiểm hàng hải. Các chủ ngân hàng hay các nhóm nhà buôn chấp nhận đƣợc bảo
đảm giá trị của con tàu và hàng hoá trong trƣờng hợp bị tổn thất, nhờ vào một
khoản tiền ấn định trả trƣớc.
Các quy tắc chủ yếu của bảo hiểm hiện đại đó đƣợc hỡnh thành và phỏt triển
chớnh tại cỏc Cảng ở Địa Trung Hải – Genes, Venise, Marseille, Barcelone, rồi các
cảng ở Đại Tây Dƣơng, Porto, Bordeaux, Bruges, Rouen.
Nguyễn Văn Nghĩa – CH Luật Biển và Quản lý biển k1 - Khoa Luật - ĐHQGHN
15
Bản hợp đồng cổ xƣa nhất mà ngƣời ta tỡm thấy đƣợc ký kết tại Cảng Gờnes
năm 1347. Nếu ngƣời ta không cũn những hợp đồng cổ hơn, chỉ là vỡ hợp đồng
(police) đó bị huỷ ngay sau khi con thuyền cập bến, cú nghĩa là bảo đảm (Garantie)
đó kết thỳc. Cũng chính tại Gênes năm 1424, công ty bảo hiểm hàng hải
(Assurances Maritimes) đầu tiên ra đời.
Trong cuốn hợp đồng và các hợp đồng cho mạo hiểm lớn xuất bản tại
Macxây năm 1783, Enerigon đó chỉ ra rằng: “Hợp đồng bảo hiểm đó len lỏi vào
Nhƣ vậy, bảo hiểm hàng hải là loại hỡnh bảo hiểm hiện đại đầu tiên ra đời.
Ngày nay pháp luật về bảo hiểm hàng hải quốc tế nói chung và pháp luật về bảo
hiểm hàng hải của Việt Nam nói riêng cũng đang khẳng định vai trũ, và vị trớ ngụi
vị số một của mỡnh trong việc duy trỡ hoạt động ổn định của các DNBH, tạo niềm
tin và là chỗ dựa vững chắc cho các đội tàu biển, qua đó thúc đẩy hoạt động giao
lƣu thƣơng mại hàng hải quốc tế phát triển.
1.2 KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM HÀNG HẢI
1.2.1 Bảo hiểm, bảo hiểm hàng hải
Trong cuộc sống để đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khoẻ, tài sản của
con ngƣời chúng ta có nhiều biện pháp nhƣ: tránh rủi ro (risk avoidance); ngăn
ngừa, hạn chế rủi ro (risk prevention); tự khắc phục rủi ro (risk assumption); chuyển
nhƣợng rủi ro (risk transfer)… trong số các biện pháp đó thỡ chuyển nhƣợng rủi ro
tỏ ra có ƣu thế hơn cả. Do đó, nó đó ra đời và phát triển mạnh mẽ cho đến tận ngày
nay, đó là biện pháp bảo hiểm. Vậy chúng ta có thể định nghĩa bảo hiểm nhƣ sau:
“Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm đối với người được
bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đó thoả
thuận gõy ra, với điều kiện người được bảo hiểm đó thuờ bảo hiểm cho đối tượng
bảo hiểm và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm” 3; tr.8 .
Theo TS Kinh tế E.V.Cụlụnin thỡ: “Bảo hiểm là phƣơng pháp chia nhỏ tổn
thất của một ngƣời hay một số ít ngƣời cho nhiều ngƣời cùng có khả năng gặp
những tổn thất nhƣ vậy, bằng cách thu của họ một số tiền nào đấy tuỳ theo mức độ
rủi ro (xác suất tổn thất) mà họ có thể gặp để lập ra một quỹ chung và khi có thiên
tai hoặc tai nạn bất ngờ thỡ từ quỹ chung đó bồi thƣờng cho họ những tổn thất mà
họ phải chịu. Nhờ cách chia nhỏ nhƣ vậy, những tổn thất lẽ ra rất nặng nề và
nghiêm trọng đối với một ngƣời, một số ít ngƣời sẽ trở nên ít nghiêm trọng hơn, ít
Nguyễn Văn Nghĩa – CH Luật Biển và Quản lý biển k1 - Khoa Luật - ĐHQGHN
17
nặng nề hơn, thậm chí không đáng kể đối với cả cộng đồng những ngƣời tham gia
bảo hiểm” 4; tr.35 .
luật điều chỉnh quan hệ bảo hiểm giữa DNBH và ngƣời mua bảo hiểm từ việc ký kết
hợp đồng đến thực hiện, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, bồi thƣờng và cả cơ chế
giải quyết tranh chấp…, chúng bao gồm các quy định từ Hiến pháp, Luật, Nghị
định, Thông tƣ, v.v…cho đến các Quy tắc bảo hiểm do các DNBH, hiệp hội bảo
hiểm ban hành. Ví dụ các quy định của pháp luật về BHTT, BHTNDSCT của Việt
Nam bao gồm: Bộ luật dân sự 1995, BLHH Việt Nam, Luật KDBH và các quy tắc
bảo hiểm của các DNBH nhƣ: Quy tắc BHTT, BHTNDSCT, điều khoản bảo hiểm
rủi ro chiến tranh đối với tàu thuyền hoạt động trong vùng nội thuỷ, vùng biển Việt
Nam năm 2001của Bảo Việt; Quy tắc BHTT, BHTNDSCT, điều khoản bảo hiểm
rủi ro chiến tranh đối với tàu thuyền hoạt động trong vùng nội thuỷ, vùng biển Việt
Nam năm 1999 của Bảo Minh. Ngoài ra, thực tiễn thụng lệ bảo hiểm hàng hải tại
Việt Nam cỏc bờn cũn thoả thuận ỏp dụng cả phỏp luật bảo hiểm hàng hải nƣớc
ngoài nhƣ pháp luật và thông lệ tập quán bảo hiểm hàng hải của Anh: MIA 1906,
Quy tắc ITC 1995, Quy tắc P & I Class 1 – 2002.
1.2.5 Người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm
Ngƣời bảo hiểm (Insurer Underwriter) là ngƣời nhận trách nhiệm về rủi ro,
đƣợc hƣởng phí bảo hiểm và phải bồi thƣờng khi có tổn thất xảy ra. Theo pháp luật
Việt Nam thỡ ngƣời bảo hiểm đó chính là các doanh nghiệp đƣợc thành lập, tổ chức
và hoạt động theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của
pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm. Doanh nghiệp kinh
doanh bảo hiểm có thể là doanh nghiệp Nhà nƣớc hoặc là doanh nghiệp của tƣ nhân,
doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp nƣớc ngoài, v.v
Ngƣời tham gia bảo hiểm có thể là ngƣời mua bảo hiểm, ngƣời đƣợc bảo
hiểm hoặc ngƣời thụ hƣởng, song chủ yếu ngƣời mua bảo hiểm đồng thời là ngƣời
đƣợc bảo hiểm và là ngƣời thụ hƣởng nên chúng ta thƣờng gọi chung là ngƣời mua
bảo hiểm. Theo quy định của pháp luật Việt Nam thỡ ngƣời mua bảo hiểm là tổ
chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với DNBH và đóng phí bảo hiểm. Bên
mua bảo hiểm có thể đồng thời là ngƣời đƣợc bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm.
Ngƣời đƣợc bảo hiểm có thể đồng thời là ngƣời thụ hƣởng; ngƣời thụ hƣởng là tổ
Nguyễn Văn Nghĩa – CH Luật Biển và Quản lý biển k1 - Khoa Luật - ĐHQGHN
thƣờng. Đó là những rủi ro đƣơng nhiên xảy ra, chắc chắn xảy ra, hoặc các thiệt hại
Nguyễn Văn Nghĩa – CH Luật Biển và Quản lý biển k1 - Khoa Luật - ĐHQGHN
20
do nội tỳ, bản chất của đối tƣợng bảo hiểm, do lỗi của ngƣời đƣợc bảo hiểm, thiệt
hại mà nguyên nhân trực tiếp là chậm trễ, những rủi ro có tính chất thảm hoạ mà
con ngƣời không lƣờng trƣớc đƣợc quy mô, mức độ và hậu quả của nó. Ví dụ ngƣời
mua bảo hiểm cho tàu làm hàng trên biển bằng cách nhận hàng từ tàu này sang tàu
kia mà không đƣợc ngƣời mua bảo hiểm thông báo trƣớc cho ngƣời bảo hiểm về
việc làm hàng nhƣ vậy, kết quả tàu bị chỡm. Ngƣời bảo hiểm có quyền từ chối bồi
thƣờng tổn thất theo Điều 1.4 Quy tắc ITC 1995: “Trƣờng hợp tàu đƣợc sử dụng
vào hoạt động kinh doanh cần phải bốc hay dỡ hàng hoá ở biển từ một tàu khác hay
sang một tàu khác (không phải là phƣơng tiện cảng hay sông), nếu có tổn thất hay
tổn hại của tàu hay có trách nhiệm với mọi tàu khác phát sinh từ công tác bốc hay
dỡ nhƣ vậy, kể cả trong lúc đang tới gần, áp mạn và rời tàu đều không đƣợc bảo
hiểm này bồi thƣờng, trừ khi có báo trƣớc cho ngƣời bảo hiểm là tàu đƣợc sử dụng
vào các hoạt động nhƣ vậy và đó thoả thuận về những điều kiện bảo hiểm sửa đổi
và phí bảo hiểm đóng thêm theo yêu cầu của ngƣời bảo hiểm”.
1.2.8 Đối tượng bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu
Đối tƣợng bảo hiểm thân tàu là bản thân con tàu (vỏ, máy móc, trang thiết bị
trên tàu). Ngoài ra tuỳ thuộc vào hợp đồng do hai bên ký kết, đối tƣợng bảo hiểm
thân tàu cũn cú thể bất kỳ một quyền lợi nào về tài sản gắn liền với hoạt động của
tàu (dầu, contenơ…). Cần lƣu ý, trang thiết bị hoặc phụ tựng cần thiết của tàu vẫn
đƣợc coi là đối tƣợng bảo hiểm ngay cả trong trƣờng hợp những trang thiết bị và
phụ tùng đó thuộc tài sản của chủ tàu hay do chủ tàu đi mƣợn, đi thuê miễn là
những trang thiết bị, phụ tùng đó cần thiết phải có trên tàu do yêu cầu bắt buộc của
đăng kiểm hoặc cơ quan an toàn hàng hải 7; tr.289 .
Đối tƣợng của BHTNDSCT là trách nhiệm dân sự của chủ tàu đối với bên
thứ ba mà chủ tàu, thuyền phải chịu trách nhiệm dân sự theo pháp luật cũng nhƣ
theo quyết định của toà án; những chi phí mà chủ tàu, thuyền phải chịu trách nhiệm
Giỏ trị bảo hiểm của tàu là tổng giỏ trị của tàu lỳc bắt đầu bảo hiểm, kể cả
máy móc, trang thiết bị, dụng cụ, đồ đạc, phụ tùng, đồ dự trữ, lƣơng thực, thực
phẩm cho thuỷ thủ, tiền lƣơng ứng trƣớc, các chi phí cần thiết để chuẩn bị cho
chuyến đi cộng với phí bảo hiểm toàn bộ tàu. Ở Việt Nam, giá trị bảo hiểm của tàu
đƣợc xác định trên cơ sở giá trị thực tế của tàu. Giá trị thực tế của tàu đƣợc xác định
theo giá tàu thuyền trên thị trƣờng trong nƣớc hoặc thị trƣờng quốc tế cùng
loại 3;66 . Theo quy định tại Điều 210 điểm a BLHH thỡ: “Giỏ trị bảo hiểm là giỏ
Nguyễn Văn Nghĩa – CH Luật Biển và Quản lý biển k1 - Khoa Luật - ĐHQGHN
22
trị thực tế của đối tƣợng bảo hiểm, trong đó giá trị bảo hiểm của tàu là tổng giá trị
của tàu vào thời điểm bắt đầu bảo hiểm. Giá trị này cũn bao gồm giỏ trị của mỏy
múc, trang thiết bị, phụ tựng, dự trữ của tàu cộng với toàn bộ phớ bảo hiểm. Tuỳ
theo hợp đồng, giỏ trị tàu cũn cú thể bao gồm cả tiền lƣơng ứng trƣớc cho thuyền bộ
và chi phí chuẩn bị chuyến đi”.
Giá trị bảo hiểm của tàu theo MIA 1906 là giá trị của tàu lúc bắt đầu bảo
hiểm; bao gồm cả các trang bị của tàu, lƣơng thực và những đồ dự trữ cho sỹ quan
và thủy thủ, tiền ứng trƣớc để trả lƣơng cho thuỷ thủ và những chi phí khác (nếu có)
đó chi ra để làm cho con tàu thích hợp đối với chuyến đi hoặc cuộc hành trỡnh đó
ghi trong hợp đồng, cộng với những chi phí bảo hiểm đối với toàn bộ (khoản 1 Điều
16).
Giá trị bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự không đƣợc luật
quy định cụ thể mà luật chỉ quy định về giới hạn trách nhiệm bảo hiểm: “Trong
phạm vi số tiền bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho ngƣời đƣợc bảo hiểm
những khoản tiền mà theo quy định của pháp luật ngƣời đƣợc bảo hiểm có trách
nhiệm bồi thƣờng cho ngƣời thứ ba” (khoản 1 Điều 55 Luật KDBH).
Giá trị bảo hiểm ghi trên hợp đồng bảo hiểm là giới hạn trách nhiệm cao nhất
mà ngƣời bảo hiểm nhận trách nhiệm bồi thƣờng đối với một vụ tổn thất 3;66 .
1.2.9.3 Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là toàn bộ hay một phần giá trị bảo hiểm do ngƣời đƣợc bảo
yờu cầu của ngƣời đƣợc bảo hiểm, DNBH cũng chỉ phải thực hiện việc bảo lónh
hoặc ký quỹ trong phạm vi số tiền bảo hiểm (khoản 4 Điều 55 Luật KDBH).
1.2.10 Khiếu nại bồi thường bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân
sự chủ tàu
Khiếu nại bồi thƣờng BHTT, BHTNDSCT là cách thức giải quyết tranh chấp
thông qua việc thƣơng lƣợng trực tiếp giữa ngƣời bảo hiểm và ngƣời khiếu nại
(ngƣời đƣợc bảo hiểm). Kết quả là yêu cầu của ngƣời đi khiếu nại có thể đƣợc thoả
món hoặc khụng đƣợc thoả món. Khiếu nại cũng là cỏch thức khụi phục lại quyền
lợi của hóng tàu khi cú rủi ro tổn thất xảy ra trong hành trỡnh đƣờng biển.
Khiếu nại cú vai trũ to lớn trong bảo hiểm hàng hải. Trƣớc hết, khiếu nại kịp
thời giúp bảo vệ quyền lợi cho bên khiếu nại. Khi bên bị khiếu nại thoả món toàn bộ