Pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền có nhà ở của người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT Hoàng Tám Phi
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CÓ NHÀ Ở CỦA NGƢỜI
NƢỚC NGOÀI VÀ NGƢỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƢ Ở NGOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật Quốc tế
Mã số : 60 38 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Minh Ngọc Hà Nội – 2012 MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 2
3. Phạm vi nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu 5
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và những đóng góp về khoa học của luận văn 6
7. Kết cấu của luận văn 6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CÓ

2.3. Những bất cập, hạn chế pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài
tại Việt Nam 61
2.3.1. Thực trạng các giao dịch nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam 61
2.3.2. Những bất cập, hạn chế trong các quy định pháp luật về bảo đảm quyền có nhà
ở cho người nước ngoài tại Việt Nam 63
2.4.Nhà ở cho ngƣời nƣớc ngoài, kinh nghiệm của Trung Quốc…………………… 66
2.5 Nhà ở cho ngƣời nƣớc ngoài, kinh nghiệm của Indonesia………………… 69
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 73
Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
BẢO ĐẢM QUYỀN CÓ NHÀ Ở CỦA NGƢỜI NƢỚC NGOÀI VÀ NGƢỜI VIỆT
NAM ĐỊNH CƢ Ở NƢỚC NGOÀI 74
3.1. Cơ sở của việc đề xuất quan điểm, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo
đảm quyền có nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài và ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài 74
3.1.1. Sự mở rộng và mức độ ảnh hưởng của hội nhập quốc tế đến mọi mặt của đời sống
kinh tế xã hội nước ta 74
3.1.2. Bảo đảm sự phát triển cân đối, đa dạng hàng hóa cho thị trường bất động sản
Việt Nam 79
3.1.3. Cụ thể hóa chính sách ưu đãi, thu hút kiều bào về làm ăn, sinh sống, học tập
lâu dài ở trong nước, tạo cầu nối cho người Việt Nam ở nước ngoài cống hiến cho đất
nước 80
3.1.4. Thu hút nguồn vốn đầu tư vào thị trường bất động sản ở Việt Nam hiện nay 83
3.2. Một số quan điểm, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền có
nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam hiện nay 83
KẾT LUẬN CHUNG 93
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu

Tổ chức Thƣơng mại Thế giới
1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“An cƣ lạc nghiệp” đã trở thành nguyên lý cho sự tồn tại và phát triển
của mỗi con ngƣời đã đƣợc ông cha đúc kết, lƣu truyền qua nhiều thế hệ. Nói
nhƣ vậy có nghĩa là, nhà ở giữ vai trò quan trọng đối với sự sống của con
ngƣời, nhà ở không chỉ là tài sản lớn của mỗi cá nhân, hộ gia đình, nhà ở cũng
đƣợc coi là điều kiện cần thiết đứng thứ ba sau ăn và mặc để giúp con ngƣời
có thể yên tâm tham gia lao động, tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Do đó,
nhu cầu có nhà ở để sinh sống và làm việc là đòi hỏi khách quan của mọi
ngƣời không phân biệt dân tộc, thành phần xuất thân, quốc tịch, tôn giáo…
Khi đến Việt Nam đầu tƣ làm ăn, học tập và sinh sống tại Việt Nam, vấn
đề nhà ở cũng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của ngƣời nƣớc
ngoài khi vào Việt Nam. Sự tác động của tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập
kinh tế quốc tế đã làm cho số lƣợng ngƣời nƣớc ngoài vào Việt Nam làm việc
và sinh sống ngày càng gia tăng bằng nhiều con đƣờng khác nhau nhƣ làm

Bảo đảm quyền có nhà ở cho ngƣời nƣớc ngoài sinh sống làm việc, học
tập tại Việt Nam là vấn đề vừa mang tính xã hội, vừa mang tính “nhạy cảm”,
nhất là trong điều kiện chính trị thế giới còn nhiều bất ổn. Do đó, khi đề cập
đến vấn đề quyền có nhà ở cho ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam đã thu hút
đƣợc sự quan tâm của nhiều giới, nhiều ngành. Dù còn nhiều e ngại khi quyết
định cho ngƣời nƣớc ngoài sinh sống làm việc, học tập tại Việt Nam, song khi
Luật đất đai 2003 có hiệu lực, các quy định về quyền và nghĩa vụ của ngƣời
Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài, tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài sử dụng đất,
Luật nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và đặc biệt là Nghị quyết số
19/2008/QH12 ngày 03 tháng 06 năm 2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho
tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam đã tạo điều
3

kiện thuận lợi cho ngƣời nƣớc ngoài tham gia đầu tƣ, các chuyên gia, các nhà
khoa học, các nhà quản lý giỏi có điều kiện sinh sống ổn định, yên tâm làm
việc lâu dài tại Việt nam là cơ sở để các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài đang hoạt động tại Việt nam có điều kiện tạo chỗ ở ổn định cho ngƣời
lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp đó (không phân biệt ngƣời
trong nƣớc hay ngƣời nƣớc ngoài), góp phần thực hiện chính sách an sinh xã
hội đồng thời góp phần thúc đẩy thị trƣờng nhà ở và bất động sản phát triển
trên nguyên tắc bảo đảm ổn định, minh bạch và lành mạnh, góp phần tạo bộ
mặt đô thị hiện đại, văn minh vừa làm tăng cung, vừa làm tăng cầu về bất
động sản.
Kể từ khi có khung pháp lý bảo đảm quyền có nhà ở của ngƣời nƣớc
ngoài tại Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này nhƣ:
Quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam, TS.
Nguyễn Quang Tuyến, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tƣ pháp, Số
10/2004; Những sửa đổi, bổ sung của Luật đất đai năm 2003 về quyền và
nghĩa vụ của người nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam, TS. Nguyễn Quang
Tuyến, Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật, Viện Nhà nƣớc và pháp luật, Số

giữa Việt Nam và các đối tác thƣơng mại bao gồm những vấn đề sau:
- Khái quát những vấn đề pháp lý cơ bản về ngƣời nƣớc ngoài, vai trò
của ngƣời nƣớc ngoài đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam nói
chung, thị trƣờng bất động sản Việt Nam nói riêng;
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quyền sở hữu và quyền sở hữu
nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam nhƣ cơ sở pháp lý và thực tiễn của
việc ghi nhận quyền có nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam, nội dung
5

quyền có nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam, giới hạn quyền của có
nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam;
- Tác động của cam kết quốc tế và hiệp định song phƣơng, đa phƣơng
mà Việt Nam là thành viên đối với vấn đề ghi nhận quyền có nhà ở của ngƣời
nƣớc ngoài;
- Đánh giá quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về bảo đảm
quyền có nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam;
- Nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp góp phần hình thành phân khúc
thị trƣờng nhà ở cho ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở phạm vi nghiên cứu nhƣ trên, đề tài tập trung vào những
nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Tổng kết những vấn đề lý luận về ngƣời nƣớc ngoài;
- Khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về bảo đảm
quyền có nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam;
- Phân tích thực trạng pháp luật hiện hành của Việt Nam về bảo đảm
quyền có nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam;
- Nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp góp phần hình thành phân khúc
thị trƣờng nhà ở cho ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt đƣợc phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn đƣợc thực

đảm quyền có nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc
ngoài
7

Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM QUYỀN
CÓ NHÀ Ở CỦA NGƢỜI NƢỚC NGOÀI, NGƢỜI VIỆT NAM ĐỊNH
CƢ TẠI NƢỚC NGOÀI
1.1. Tổng quan về ngƣời nƣớc ngoài
1.1.1. Khái niệm người nước ngoài
Dân cƣ là một trong những bộ phận cấu thành nên một quốc gia. Dân cƣ
của một quốc gia không chỉ bao gồm công dân của nƣớc đó mà còn có ngƣời
có quốc tịch nƣớc ngoài, ngƣời có hai hay nhiều quốc tịch và ngƣời không
quốc tịch. Sở dĩ có tình trạng công dân của một nƣớc này lại làm ăn, sinh
sống ở một nƣớc khác là do có hiện tƣợng di dân. Trong quá trình phát triển
của bất cứ quốc gia nào, sự hiện diện của ngƣời nƣớc ngoài là tất yếu và
muốn hay không, các quốc gia sở tại cũng phải ban hành quy chế pháp lý để
quản lý đối tƣợng này. Việc ban hành quy chế quản lý ngƣời nƣớc ngoài luôn
là vấn đề nhạy cảm vì nó có mối liên hệ trực tiếp với quan hệ ngoại giao với
quốc gia mà họ mang quốc tịch, với các tổ chức nhân quyền quốc tế, bởi
những yêu cầu về bảo đảm những quyền tối thiểu của con ngƣời.
Xuất phát từ chủ quyền quốc gia, mỗi nƣớc đều có thẩm quyền riêng biệt
xác định địa vị pháp lý cho từng bộ phận dân cƣ nƣớc mình mà các quốc gia
khác không có quyền can thiệp. Tùy từng giai đoạn phát triển khác nhau với
những đặc điểm kinh tế văn hóa xã hội, khi ghi nhận địa vị pháp lý của cƣ dân
quốc gia mình phải tôn trọng pháp luật và tập quán quốc tế.
Đối với mỗi quốc gia, ngƣời nƣớc ngoài (là ngƣời không mang quốc tịch
quốc gia sở tại) đến làm ăn, sinh sống đã tất yếu trở thành bộ phận không thể
thiếu trong cộng đồng dân cƣ của quốc gia đó. Vì vậy, bên cạnh các quy định
pháp luật bảo đảm quyền lợi của công dân, mỗi quốc gia dều phải đối diện với
nghĩa vụ quốc tế là tạo cơ sở và điều kiện để ngƣời nƣớc ngoài đƣợc hƣởng


Luật Quốc tịch năm 2008 không đƣa ra định nghĩa ngƣời nƣớc ngoài mà quy
định khái niệm “ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú ở Việt Nam”, theo đó, Người nước
ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nƣớc ngoài và ngƣời không quốc tịch
thƣờng trú hoặc tạm trú ở Việt Nam. Người không quốc tịch là ngƣời không
có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nƣớc ngoài. Người gốc
Việt Nam định cư ở nước ngoài là ngƣời Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt
Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ đƣợc xác định theo nguyên tắc huyết
thống và con, cháu của họ đang cƣ trú, sinh sống lâu dài ở nƣớc ngoài.
Trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành, TS. Nguyễn Hồng Bắc cho
rằng, khái niệm ngƣời nƣớc ngoài có thể định nghĩa là ngƣời không có quốc
tịch Việt Nam bao gồm ngƣời có quốc tịch nƣớc ngoài và ngƣời không quốc
tịch [13, tr. 8].
Nhƣ vậy, cơ sở để xác định ngƣời nƣớc ngoài dựa trên cơ sở quốc tịch
mà cá nhân đó đang mang. Theo quan điểm của các nƣớc, quốc tịch thể hiện
mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nƣớc mà họ mang quốc tịch, làm
phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nƣớc và quyền, trách
nhiệm của Nhà nƣớc đối với công dân. Đối với mỗi quốc gia, “người nước
ngoài là người không có quốc tịch của nước đó. Nếu hiểu theo nghĩa rộng,
người nước ngoài gồm cả những người không quốc tịch. Trong thành phần
người nước ngoài có nhiều bộ phận khác nhau với những quy chế pháp lí
khác nhau. Có bộ phận được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao
hoặc lãnh sự, có bộ phận không được hưởng các quyền đó, Quy chế pháp lí
của người nước ngoài được hình thành trên cơ sở các văn bản pháp luật
trong nước và cả các điều ước quốc tế do quốc gia kí kết” [32].
Một cách tiếp cận khác cho rằng, ngƣời nƣớc ngoài là “Người không
mang quốc tịch của nước mà họ đang cư trú. Tùy theo nhiệm vụ, lí do có mặt,
những người nước ngoài được nước chủ nhà có những quy chế pháp lí khác
10


quốc tịch của nhà nƣớc nào phải do pháp luật của nhà nƣớc đó quy định. Theo
thực tiễn và pháp luật của các nƣớc, một ngƣời có quốc tịch của một nhà nƣớc
có thể do huyết thống, do nơi sinh, do xin vào quốc tịch, trở lại quốc tịch cũ,
do quy định của điều ƣớc quốc tế, vv. Quốc tịch thể hiện “mối liên hệ pháp lí
đặc biệt bền vững và ổn định giữa một cá nhân và một nhà nước nhất định.
Người mang quốc tích của nhà nước nào là công dân của nhà nước đó. Công
dân được hưởng các quyền chính trị, quyền tự do và các quyền dân sự, đồng
thời phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng do pháp luật của nhà nước mình
quy định. Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân mình, kể cả trường hợp công dân đó thường trú hay tạm
trú ở nước ngoài” [32].
Nhƣ vậy, nếu nhƣ công dân là ngƣời dân của một nƣớc có chủ quyền thể
hiện mối quan hệ pháp lí bền vững giữa nhà nƣớc và cá nhân là ngƣời có quốc
tịch của một quốc gia cụ thể, có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của
pháp luật. Quyền và nghĩa vụ công dân thể hiện quan hệ lợi ích giữa nhà nƣớc
và cá nhân đƣợc Nhà nƣớc bảo hộ các quyền tham gia quản lí công việc của
nhà nƣớc và của xã hội, có quyền bầu cử và ứng cử, quyền lao động, quyền
học tập, nghỉ ngơi, quyền tự do ngôn luận, tự do hôn nhân, tự do tín ngƣỡng,
có quyền đƣợc pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm,
quyền khiếu nại, tố cáo Còn đối với ngƣời nƣớc ngoài, Nhà nƣớc chỉ bảo hộ
một số quyền và nghĩa vụ phù hợp với mục tiêu giữ vững ổn định chính trị,
trật tự an toàn xã hội cũng nhƣ pháp luật và tập quán quốc tế.
Thứ hai, so với công dân của quốc gia sở tại, nội dung quyền và nghĩa vụ
của ngƣời nƣớc ngoài hẹp hơn nhiều. Chẳng hạn, ngƣời nƣớc ngoài không
đƣợc hƣởng quyền bầu cử, ứng cử vào cơ quan quyền lực nhà nƣớc; trong
12

một số trƣờng hợp nhất định họ bị giới hạn phạm vi cƣ trú, đi lại, họ không
phải gánh vác nghĩa vụ quân sự
Thứ ba, việc xác định chế độ pháp lý cho ngƣời nƣớc ngoài của mỗi

1.1.3. Bảo đảm quyền cho người nước ngoài
Là bộ phận không thể thiếu của dân cƣ quốc gia, sự tồn tại của ngƣời
nƣớc ngoài vào các quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội với công dân buộc Nhà
nƣớc phải ban hành các quy chế pháp lý để điều chỉnh các quan hệ này. Về cơ
bản, có thể nhận thấy, bảo đảm quyền cho ngƣời nƣớc ngoài là tổng thể các
quy định pháp luật của quốc gia sở tại dành cho ngƣời nƣớc ngoài để điều
chỉnh các quan hệ phát sinh giữa ngƣời nƣớc ngoài với ngƣời nƣớc ngoài
hoặc giữa ngƣời nƣớc ngoài với công dân sở tại. Phù hợp với mỗi dạng ngƣời
nƣớc ngoài khác nhau, Nhà nƣớc sẽ dành những chế độ pháp lý đặc thù phù
hợp với mỗi đối tƣợng. Cụ thể [14, tr. 97 – 103]:
Một là, chế độ pháp lý chủ yếu, đƣợc áp dụng đối với ngƣời nƣớc ngoài
đến làm ăn sinh sống trên lãnh thổ quốc gia khác. Những ngƣời này sẽ đƣợc
hƣởng các chế độ sau:
a. Chế độ đãi ngộ quốc gia (NT – National treatment)
Chế độ đãi ngộ quốc gia thể hiện cam kết của một quốc gia về việc
không phân biệt đối xử giữa công dân nƣớc mình với ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú
trên lãnh thổ nƣớc mình hay ngƣời nƣớc ngoài thiết lập quan hệ với công dân,
pháp nhân nƣớc mình. Theo chế độ này, ngƣời nƣớc ngoài đƣợc hƣởng những
quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa cơ bản nhƣ công dân nƣớc sở tại,
ngoại trừ một số quyền do pháp luật quốc gia quy định hạn chế nhất định vì
lợi ích và an ninh quốc gia của nƣớc đó nhƣ không đƣợc làm một số nghề cụ
14

thể, không đƣợc theo học các trƣờng công an, an ninh, quân sự và cơ yếu…
Các quy định hạn chế này là cần thiết và các quốc gia đều sử dụng trong việc
xác định chế độ pháp lý dành cho ngƣời nƣớc ngoài tại nƣớc mình. Chế độ
này thể hiện mối quan hệ giữa ngƣời nƣớc ngoài với công dân sở tại. Trong
thực tế, chế độ đãi ngộ nhƣ công dân thƣờng đƣợc áp dụng cho ngƣời nƣớc
ngoài cƣ trú, làm ăn và sinh sống trên lãnh thổ nƣớc sở tại, các thời hạn lƣu
trú tƣơng đối ổn định và lâu dài.

thƣơng mại và các hoạt động kinh tế khác mà không chỉ các quốc gia quan
tâm, ngay cả thể nhân, pháp nhân các nƣớc đều hƣớng tới chế độ đãi ngộ này
khi quyết định đến hoạt động, làm ăn, buôn bán hoặc đầu tƣ ở nƣớc ngoài.
Đối với ngƣời nƣớc ngoài nói chung, chế độ đãi ngộ tối huệ quốc có sự phân
biệt với chế độ đãi ngộ quốc gia ở chỗ, việc hƣởng chế độ đãi ngộ tối huệ
quốc mà nƣớc sở tại dành cho công dân, pháp nhân nƣớc khác luôn luôn trên
cơ sở các thỏa thuận quốc tế giữa các nƣớc hữu quan mà không có ý nghĩa là
chế độ phổ cập đƣơng nhiên mà nƣớc sở tại dành cho thể nhân, pháp nhân
nƣớc khác.
Hai là, chế độ đãi ngộ đặc biệt dành cho ngƣời nƣớc ngoài. Theo chế độ
này, ngƣời nƣớc ngoài đƣợc hƣởng các quyền và ƣu đãi đặc biệt mà chính
công dân nƣớc sở tại cũng không đƣợc hƣởng, đồng thời ngƣời nƣớc ngoài
không phải chịu trách nhiệm pháp lý mà công dân nƣớc sở tại phải gánh chịu
trách nhiệm trong các trƣờng hợp tƣơng tự.
Tuy nhiên, ngƣời nƣớc ngoài chỉ đƣợc hƣởng chế độ đãi ngộ đặc biệt
này trên cơ sở pháp luật quốc gia của nƣớc sở tại hoặc điều ƣớc quốc tế mà
nƣớc này tham gia. Trong thực tiễn, quan hệ quốc tế, chế độ đãi ngộ đặc biệt
đƣợc áp dụng có tính truyền thống trong quan hệ ngoại giao – quan hệ lãnh sự
16

giữa các quốc gia hoặc quan hệ quốc tế giữa các tổ chức quốc tế với các quốc
gia…
Bên cạnh việc hƣởng các quyền lợi và lợi ích đƣợc ghi nhận theo các chế
độ pháp lý nêu trên thì ngƣời nƣớc ngoài phải có nghĩa vụ tôn trọng và tuân
thủ nghiêm chỉnh pháp luật ƣớc sở tại, phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy
định của nƣớc này. Trong trƣờng hợp có vi phạm pháp luật của nƣớc sở tại,
họ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật nƣớc này hoặc theo các điều ƣớc
quốc tế hữu quan mà nƣớc sở tại tham gia. Trong thời gian sinh sống ở nƣớc
sở tại, ngƣời nƣớc ngoài vẫn tuân thủ pháp luật nƣớc này nhƣng họ vẫn không
mất mối liên hệ pháp lý với nƣớc mà họ mang quốc tịch. Xuất phát từ cơ sở

tính chất quốc tế nhƣ không tặc, buôn bán ma túy và các chất hƣớng thần…
- Những kẻ phạm tội hình sự mà việc dẫn độ đƣợc quy định trong các
điều ƣớc quốc tế song phƣơng hoặc đa phƣơng về dẫn độ.
- Những cá nhân có hành vi trái với mục đích và nguyên tắc của Hiến
chƣơng Liên hợp quốc.
1.2. Tổng quan về ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài
Theo quy định tại khoản 3 điều 3 Luật quốc tịch năm 2008: “Ngƣời
Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài là công dân Việt Nam và ngƣời gốc Việt Nam
cƣ trú, sinh sống lâu dài ở nƣớc ngoài”.
Nhƣ vậy ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài gồm 2 đối tƣợng: là công dân
Việt Nam (có quốc tịch Việt Nam) hoặc ngƣời có gốc Việt Nam cƣ trú, sinh
sống lâu dài ở nƣớc ngoài.
Vì vậy thực tế một ngƣời còn quốc tịch Việt Nam (công dân Việt Nam) hay
thôi quốc tịch Việt Nam và nhập quốc tịch nƣớc khác (ngƣời gốc Việt Nam
cƣ trú, sinh sống lâu dài ở nƣớc ngoài) thì theo quy định trên họ vẫn đƣợc coi
là ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài. Do vậy, việc mua, sở hữu nhà tại
18

Việt Nam của ngƣời đó sẽ đƣợc áp dụng theo chính sách đối với ngƣời Việt
Nam định cƣ ở nƣớc ngoài.
Cụ thể tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều 126 của Luật nhà ở và điều 121
Luật đất đai ngày 18/12/2009 quy định về quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam
của ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài nhƣ sau:
“1. Ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài thuộc các đối tƣợng sau đây đƣợc
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cƣ trú tại Việt Nam từ ba
tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong
gia đình sinh sống tại Việt Nam:
a) Ngƣời có quốc tịch Việt Nam;
b) Ngƣời gốc Việt Nam thuộc diện ngƣời về đầu tƣ trực tiếp tại Việt Nam
theo pháp luật về đầu tƣ; ngƣời có công đóng góp cho đất nƣớc; nhà khoa

hoặc các quyền tự do của người khác, và phải phù hợp với những quyền khác
được ICCPR công nhận. Nghiên cứu các quy định quốc tế về quyền tự do đi
lại, cƣ trú của các công ƣớc quốc tế, cho phép chúng ta rút ra những nhận
định cơ bản sau đây:
Thứ nhất, tự do đi lại là điều kiện không thể thiếu đối với sự phát triển tự
do của cá nhân. Thông qua quyền tự do đi lại, các quyền cơ bản của con
ngƣời từng bƣớc đƣợc cụ thể hóa, nó là phƣơng tiện quan trọng để phẩm giá
của con ngƣời đƣợc khẳng định.
Thứ hai, các quốc gia có thể đặt ra những giới hạn nhất định về quyền tự
do đi lại, tuy nhiên, những giới hạn đặt ra không đƣợc làm vô hiệu nguyên tắc
tự do đi lại, và phải dựa trên những căn cứ quy định trong Khoản 3 Điều 12
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và phải phù hợp với các quyền khác đƣợc
ICCPR công nhận. Những hạn chế này chỉ đƣợc thực hiện nhằm các mục đích
bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng hay đạo đức xã hội và các quyền và
tự do của ngƣời khác và phải phù hợp với các quyền khác đƣợc ghi nhận
trong Công ƣớc, cũng nhƣ phải đƣợc quy định trong pháp luật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status