1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ này là công trình nghiên cứu của
riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được công bố tại bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Tuấn Dũng
2
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các giảng viên
Trường Đại học Luật Hà Nội với lòng nhiệt tình và sự tận tụy đã
truyền đạt cho học viên những kiến thức về pháp luật cũng như
những bài học trong công việc và trong cuộc sống.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Giảng viên chính,
Tiến sĩ Vũ Thị Phương Lan ở Tổ bộ môn Tư pháp Quốc tế Trường
Đại học Luật Hà Nội, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn trong
suốt thời gian thực hiện luận văn thạc sỹ.
Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến bố mẹ và gia
đình- những người luôn bên tôi động viên và giúp đỡ trong cuộc
sống cũng như trong học tập. Để hoàn thiện luận văn này, tôi cũng
xin được gửi lời cảm ơn đến bạn bè- những người đã giúp tôi có
những ý kiến khách quan về nội dung luận văn. Và với tất cả
những người đang đọc luận văn này, cảm ơn các bạn đã chọn
luận văn của tôi để tham khảo và nghiên cứu, hy vọng nó sẽ có
ích cho các bạn.
3
MỤC LỤC
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Từ thế kỷ 20 đến nay, cùng với sự phát triển bùng nổ của ngành công
nghệ thông tin trên toàn cầu, các quốc gia ngày càng quan tâm hơn tới vấn
đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm máy tính. Các nghiên cứu
về vấn đề này vì thế cũng tăng lên. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ
yếu được viết dưới dạng bài tham luận, hội thảo hoặc các ý kiến tranh
luận như:
- Mars. Friedman và Linsey H. Taylor, Những vấn đề cơ bản về bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm máy tính theo pháp luật Hoa Kỳ, Hoa
Kỳ, 1997;
- Mark H. Webbink, Một mô hình bảo hộ mới về quyền sở hữu trí tuệ
đối với phần mềm, Hoa Kỳ, 2004;
- Michael Current, Quyền Sở hữu trí tuệ đối với phần mềm máy tính, Hoa
Kỳ, 2005.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở nước ta, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm
máy tính là vấn đề còn khá mới cả về lý luận và thực tiễn nhất là đối với
việc bảo hộ theo pháp luật quốc tế. Một số đề tài nghiên cứu khoa học,
luận án về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm máy tính
theo pháp luật Việt Nam đó là:
- Năm 2002, bài viết của tác giả Nguyễn Định Huy, “Một vài suy nghĩ
về bảo hộ phần mềm máy tính ở Việt Nam” trên Tạp chí Khoa học số ra
tháng 8/2002. Nội dung của bài viết tập trung vào các quy định của bộ luật
dân sự 1995 về bảo hộ phần mềm máy tính;
- Năm 2006, luận văn thac sỹ của tác giả Phạm Minh Sơn “Quyền
tác giả đối với phần mềm máy tính, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”.
Nội dung luận văn tập trung chủ yếu vào việc phân tích các quy định của
pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm máy tính theo
Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Dân sự;
6
- Năm 2007, bài viết của tác giả Nguyễn Như Hà “Một hướng tiếp cận
7
pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần
mềm máy tính ở Việt Nam.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu trong luận văn được thực hiện trên nền
tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử
của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, trên cơ sở các quan điểm, đường lối của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Luận văn được kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học:
phương pháp lịch sử, phương pháp tổng hợp, phân tích, chứng minh, thống
kê, so sánh, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn,
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
- Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản liên quan đến việc bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm máy tính
- Luận văn làm sáng tỏ được quy định của các điều ước quốc tế và pháp
luật một số quốc gia trên thế giới về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần
mềm máy tính.
- Đánh giá thực trạng và đề ra một số giải pháp kiến nghị hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm máy
tính trên cơ sở các quy định của pháp luật quốc tế.
Nhiệm vụ: Luận văn tổng hợp và phân tích khái niệm về phần mềm
máy tính. Trên cơ sở đó, luận văn tìm hiểu quy định về bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ đối với phần mềm máy tính theo pháp luật quốc tế Từ đó rút ra
các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc bảo hộ và đưa ra giải
pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm tăng cường hiệu quả của việc
bảo hộ.
6. Những kết quả nghiên cứu mới
- Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về phần mềm máy tính.
triển của khoa học kỹ thuật, kích thước máy tính ngày càng thu nhỏ, sức
mạnh của chúng ngày càng tăng và máy tính đã trở thành một công cụ
không thể thiếu đối với con người.
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng về cơ bản, máy tính có
thể được hiểu theo khái niệm sau “Máy tính điện tử hay còn gọi là máy vi
tính (sau đây gọi tắt là máy tính) được hiểu là một thiết bị điện tử có khả
năng xử lý dữ liệu theo một tập hợp của các mệnh lệnh máy tính đã được
chứa sẵn bên trong máy một cách tạm thời hay vĩnh viễn” [1;tr.17]. Để máy
tính có thể hoạt động mà không cần đến sự can thiệp của con người, máy
tính cần phải có 2 bộ phận cấu thành đó là phần cứng (hardware) và phần
mềm (software). Chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau, phần cứng muốn
hoạt động được thì phải có phần mềm hỗ trợ và phần mềm chỉ hoạt động
được dựa trên cấu tạo phần cứng tương tích.
Phần cứng có thể hiểu là tất cả những bộ phận vật lý cấu tạo nên một
chiếc máy tính, ví dụ: màn hình hiển thị, chuột, ổ đĩa, bộ nhớ, Ngược lại
với phần cứng là phần mềm, có thể coi phần mềm là “linh hồn” của máy
tính, nó có thể được hiển thị thông qua màn hình giao tiếp nhưng chúng
10
ta không thể cầm, nắm hay thực hiện những tác động vật lý khác được.
Trong thời đại công nghệ thông tin đang phát triển vũ bão hiện nay, việc
phát triển phần mềm máy tính ngày càng được chú trọng và công nghiệp
phần mềm đã trở thành một ngành công nghiệp độc lập bên cạnh công
nghiệp máy tính. Khi tiếp cận phần mềm máy tính dưới góc độ nghiên
cứu, chúng ta cần phải hiểu khái niệm phần mềm máy tính cả về tin học
lẫn luật học.
Dưới góc độ tin học, đã có nhiều khái niệm phần mềm máy tính được
đưa ra và các khái niệm này về cơ bản là giống nhau:
- Theo từ điển kỹ thuật trực tuyến TheFreeDictionary, “Phần mềm
máy tính là một tập hợp những câu lệnh được viết bằng một hoặc nhiều
ngôn ngữ lập trình theo một trật tự xác định nhằm tự động thực hiện một số
chủ sở hữu phần mềm không yêu cầu người sử dụng phải trả phí để sử
dụng, ví dụ: bộ gõ Unikey, trình dọn dẹp thư mục C Cleaner, phần mềm
chơi video VLC…
- Căn cứ vào khả năng tiếp cận và sao chép mã nguồn của
phần mềm, phần mềm máy tính được chia thành phần mềm mã nguồn
đóng và phần mềm mã nguồn mở. Phần mềm mã nguồn đóng là phần
mềm mà các lệnh lập trình của nó không được tác giả hoặc chủ sở hữu
công khai và những người khác phải hỏi ý kiến nếu muốn khai thác, sử
dụng. Ngược lại phần mềm mã nguồn mở là phần mềm mà các lệnh lập
trình của nó được công bố công khai và mọi người có thể sử dụng, khai
thác nó mà không cần sự đồng ý của tác giả hay chủ sở hữu phần mềm.
Đa số các phần mềm mã nguồn mở đều miễn phí nhưng phần mềm mã
nguồn mở và phần mềm miễn phí là 2 khái niệm không hoàn toàn trùng
nhau, một số phần mềm mã nguồn mở tiêu biểu như: Hệ điều hành Linux,
phần mềm Open Office,…
Ngoài ra, chúng ta cần phải nhắc đến ngôn ngữ hệ thống và ngôn
ngữ lập trình của phần mềm máy tính, nó không phải là phần mềm máy tính
mà chỉ là ngôn ngữ để xây dựng phần mềm. Tuy nhiên, khi xem xét bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm máy tính, người ta chủ yếu căn cứ
vào ngôn ngữ xây dựng phần mềm (mã nguồn và mã máy) đây là 2 yếu tố
12
rất quan trọng trong pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần
mềm máy tính. Theo đó:
- Ngôn ngữ hệ thống (mã máy) được xem là ngôn ngữ dùng để
giao tiếp với máy tính ở dạng mã máy. Ngôn ngữ này được nhà sản
xuất thiết kế riêng cho từng loại. Các chương trình này chứa toàn số nhị
phân (chỉ gồm hai con số 0 và 1). Ngôn ngữ hệ thống tiêu biểu là ngôn ngữ
Assembler;
- Ngôn ngữ lập trình (mã nguồn) được xem là ngôn ngữ máy tính.
Nó được thiết kế thích hợp cho những đòi hỏi của các lập trình viên. Nó
hoặc đạt được một kết quả cụ thể”.
Tuy nhiên, khoản 12 Điều 4 Luật Công nghệ thông tin 2006 lại sử
dụng thuật ngữ “phần mềm” và định nghĩa: “Phần mềm là chương trình
máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ để điều
khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định”.
Trong các sách báo, tạp chí Luật học, các tác giả cũng có những
cách định nghĩa khác nhau về phần mềm máy tính. Cụ thể:
- Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam của trường Đại học luật Hà
Nội định nghĩa: “Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu: Được hiểu là một
hoặc một nhóm chương trình được biểu hiện dưới dạng chuỗi lệnh viết theo
ngôn ngữ lập trình nhất định và các tệp dữ liệu có liên quan chỉ dẫn cho
máy tính biết phải làm gì để thực hiện được nhiệm vụ đề ra, có thể cài đặt
như một phần mềm của máy tính hoặc có thể sắp xếp dưới hình thức văn
bản, đĩa mềm, đĩa CD-ROM” [3; tr.45].
- Luận văn “Quyền tác giả đối với phần mềm máy tính, một số vấn đề
lý luận và thực tiễn”, tác giả Phạm Minh Sơn cũng định nghĩa:“Phần mềm
máy tính/Chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới
dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác, khi gắn vào
một phương tiện mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy tính thực
hiện được một công việc hoặc đạt được một kết quả cụ thể theo mong
muốn” [22, tr.6].
Có thể thấy, qua thời gian định nghĩa “phần mềm máy tính” đã ngày
càng hoàn thiện, chính xác. Đồng thời khái niệm “phần mềm máy tính” trong
các công trình nghiên cứu luật học về cơ bản thống nhất với khái niệm
14
trong các văn bản luật ở điểm: là một tập hợp các lệnh giúp cho máy tính có
thể thực thi được một công việc cụ thể. Tuy nhiên hiện có hai thuật ngữ tồn
tại song song: “phần mềm máy tính” và “chương trình máy tính”. Hai thuật
ngữ này được sử dụng như nhau và chưa có sự thống nhất một cách rõ
ràng, cụ thể cùng với đó là khái niệm “phần mềm” với nội hàm của “phần
là nội dung và hình thức thể hiện bởi khi xây dựng một tác phẩm văn học
nghệ thuật, tác giả cũng chủ yếu xoay quanh 2 bước: Một là, tìm cho mình
những ý tưởng sáng tạo, mới lạ, độc đáo để xây dựng nội dung cho tác
phẩm. Hai là, thể hiện ý tưởng, nội dung tác phẩm của mình dưới dạng một
hình thức vật chất nhất định để mọi người có thể thưởng thức, nắm bắt
được. Tuy nhiên, phần mềm máy tính thì không đơn giản như vậy mà nó bao
gồm rất nhiều công đoạn phức tạp khác nhau. Việc xây dựng một phần mềm
máy tính có thể được mô tả một cách đơn giản gồm các bước sau [25]:
- Thứ nhất, xây dựng ý tưởng về phần mềm máy tính: qua phán đoán
hoặc nắm bắt nhu cầu thị trường, doanh nghiệp hoặc chuyên gia công nghệ
thông tin nghiên cứu, xây dựng và đánh giá ý tưởng phát triển một phần
mềm đảm nhiệm các chức năng hoặc giải quyết các nhiệm vụ nào đó.
- Thứ hai, thiết kế cấu trúc hệ thống: là công đoạn xác định các
module (môđun) cần thiết và mối quan hệ giữa các module đó, bao gồm
việc lồng ghép các module, thiết kế dòng điều khiển chảy trong hệ thống
(trình tự tham gia giải quyết công việc của các module) và xác định dòng dữ
liệu tương ứng (dòng thông tin trao đổi giữa các module). Bản thân việc
thiết kế một nhóm module có quan hệ hữu cơ với nhau để đảm nhiệm được
một (hoặc một số) chức năng cụ thể có thể xem như một giải pháp kỹ
thuật dưới dạng thiết kế cơ cấu, còn việc thiết kế các dòng điều khiển
và dòng dữ liệu tiêu đề xử lý được một nhiệm vu cụ thể lại có thể xem như
một giải pháp kỹ thuật dạng thiết kế quy trình.
- Thứ ba, thiết kế kiểu dữ liệu trừu tượng: mỗi nhiệm vụ, chức năng
mà một module phải giải quyết sẽ được phân chi tiết hơn thành các phép
toán hoặc tác vụ cần thực hiện, cùng kiểu dữ liệu tương ứng mà mỗi phép
toán, tác vụ sẽ vận dụng.
- Thứ tư, thiết kế giải thuật và cấu trúc dữ liệu: giải thuật là một chuỗi
các bước chi tiết phải thực hiện để hoàn thành một phép toán, tác vụ và mỗi
16
phép toán, tác vụ có thê được giải quyết bằng một số giải thuật khác nhau.
17
Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, phần mềm máy tính có rất nhiều yếu tố để
tạo nên và và các yếu tố này có liên quan chặt chẽ đến các đối tượng khác của
quyền sở hữu trí tuệ. Bao gồm:
- Một là, bí mật kinh doanh. Để xây dựng một phần mềm máy tính,
doanh nghiệp hoặc lập trình viên phải nghiên cứu nhu cầu thị trường
để tìm ra ý tưởng về một phần mềm mới có khả năng khai thác
thương mại. Để làm được điều này, trên thực tế doanh nghiệp phải tiến
hành các cuộc họp bàn, phân tích và thể hiện các ý tưởng này qua một bản
kế hoạch hay dự án cụ thể. Sau khi đã có những ý tưởng, lập trình viên
phải tiến hành thiết kế cấu trúc hệ thống và thiết kế kiểu dữ liệu trừu tượng
rồi viết mã nguồn và dịch sang mã máy. Để tạo sự đột phá trên thị trường,
trước khi những phần mềm này được công bố, các bản kế hoạch, bản thiết
kế, các dòng mã chắc chắn sẽ không được doanh nghiệp công bố công khai
mà được giữ kín thông tin như là một trong những bí mật kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Hai là, sáng chế. Điều này thể hiện rất rõ ở công đoạn thiết kế cấu
trúc hệ thống và thiết kế kiểu dữ liệu trừu tượng. Bằng cách tạo ra các
module và sắp xếp nó theo một trật tự nhất định để luồng dữ liệu được xử
lí một cách trôi chảy nhất và công việc được thực hiện một cách nhanh
nhất từ đó thiết kế các phép toán để thực hiện các công việc này. Nhờ đó,
phần mềm máy tính có những tính năng mới, sáng tạo và hiệu quả hơn so
với các phần mềm cạnh tranh khác. Ví dụ: tính năng trượt để mở khóa;
thanh cuộn quán tính trên hệ điều hành iOS [xem hình 3 phụ lục]. Như vậy,
lập trình viên đã đưa ra được những giải pháp công nghệ mới, sáng tạo
hơn và những thiết kế của họ gần như là sáng chế.
- Ba là, sưu tập dữ liệu, mỹ thuật ứng dụng. Phần mềm máy tính
không chỉ bao gồm các mã/lệnh lập trình mà nó còn bao gồm cả tài liệu hỗ
trợ và sưu tập số kèm theo. Nhiệm vụ của nó là giúp cho phần mềm được
thể hiện sinh động trên màn hình máy tính (giao diện) một cách sinh động
của danh họa Leonardo De Vinci, có rất nhiều cách để sao chép như vẽ lại,
chụp lại, tuy nhiên, những bản vẽ, bản chụp lại này chắc chắn sẽ không thể
hiện được hết những giá trị nghệ thuật mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm,
19
đồng thời giá trị của những bản sao chép này sẽ không thể bằng được bản
gốc.
Phần mềm máy tính thì ngược lại với các tác phẩm văn học nghệ
thuật. Nó được ví như là “linh hồn” của máy tính và chúng ta không thể
cầm nắm hay thực hiện bất kì một tác động vật lý nào khác dù vẫn nhìn
thấy nó. Phần mềm máy tính là một sản phẩm phi vật chất, nó chỉ tồn
tại trong những cấu tạo vật chất nhất định (phần cứng) như:đĩa CD, ổ
đĩa cứng, usb,… Chính vì vậy, so với tác phẩm văn học nghệ thuật, phần
mềm máy tính dễ dàng nhân bản hơn rất nhiều. Đặc biệt hơn, những bản
sao này có chất lượng gần như không hề thay đổi so với bản gốc của
chúng và cũng không hề thay đổi theo không gian, thời gian. Thậm chí, so
với các đối tượng khác của quyền tác giả, khả năng nhân bản của phần
mềm máy tính còn vượt trội ở điểm tự bản thân nó có thể nhân bản chính
nó. Vì phần mềm máy tính là một tập hợp các lệnh lập trình giúp cho máy
tính có thể thực thi được một công việc nhất định nên các lập trình viên
hoàn toàn có thể lập trình cho phần mềm máy tính tiến hành tự sao chép ra
nhiều bản khác nhau. Trên thực tế sự lây lan đến mức chóng mặt của
những phần mềm độc hại được gọi dưới cái tên virus hay malware là
một ví dụ, chỉ cần cài lên một máy tính, nó sẽ tự nhân bản và sao chép
đến các máy tính khác theo cấp số nhân.
Khả năng nhân bản là một ưu điểm của phần mềm máy tính trong
sản xuất công nghiệp. Sự tiến bộ trong công nghệ số giúp cho việc nhân
bản ngày càng dễ dàng và thuận lợi đồng thời giảm thiểu chi phí cho việc
sao chép và phân phối các bản sao phần mềm máy tính [23; tr.192]. Tuy
nhiên đây cũng là một nhược điểm rất lớn trong vấn đề bảo hộ quyền tác
giả và là một trong những điểm mấu chốt cần phải xem xét để xây dựng cơ
thuê, ) cũng như về nhân thân (quyền đặt tên, quyền bảo vệ sự toàn vẹn
của phần mềm, ) đối với phần mềm máy tính của mình. Nhờ đó, các
doanh nghiệp sở hữu phần mềm sẽ có lợi thế rất lớn trong phát triển kinh
doanh, phân phối và phát triển phần mềm của mình.
Những quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm
máy tính còn là chỗ dựa để các doanh nghiệp sở hữu phần mềm máy
tính chống lại những hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Phần mềm
21
máy tính rất dễ sao chép và chất lượng của bản sao chép tương đương
bản gốc nên nếu không có các quy định về bảo hộ thì phần mềm máy tính
sẽ bị sao chép tràn lan và sử dụng trái phép với giá thành rẻ hơn rất nhiều
so với chi phí mà doanh nghiệp sản xuất phần mềm đã bỏ ra. Khi mà
doanh nghiệp không thu hồi được chi phí bỏ ra để sản xuất, nghiên cứu
và phát triển phần mềm thì tất yếu họ sẽ gặp khó khăn với các doanh
nghiệp khác kinh doanh phần mềm máy tính sao chép trái phép. Thậm chí,
những doanh nghiệp này nhờ việc sao chép trái phép và bán phần mềm với giá
rẻ còn có thể phát triển mạnh mẽ hơn và dần dần lấn át cả các doanh nghiệp
sáng tạo ra phần mềm gốc. Chỉ khi có các quy định về bảo hộ với các quy
định bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu phần mềm cũng như các chế tài xử
lý đối với các hành vi vi phạm, doanh nghiệp mà nhất là doanh nghiệp nước
ngoài mới có cơ sở để bảo vệ quyền lợi của mình trước những ý đồ khai
thác phần mềm trái phép.
Những quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần
mềm không những tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp sở hữu
phần mềm mà còn góp phần đảm bảo quyền lợi cho những doanh
nghiệp sử dụng phần mềm máy tính một cách hợp pháp. Khi sử dụng
phần mềm máy tính một cách hợp pháp, những doanh nghiệp này có thể
yên tâm trong việc sử dụng phần mềm trong sản xuất, kinh doanh cũng như
để tạo ra những sản phẩm trí tuệ khác. Đồng thời, họ sẽ được sự hỗ trợ tối
đa của doanh nghiệp sản xuất phần mềm.
1.2. Pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm máy
tính
1.2.1. Điều ước quốc tế đa phương
Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm máy tính phần
lớn được nhắc tới như là một phần của vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối
với tác phẩm văn học nghệ thuật. Tuy nhiên, máy tính và phần mềm
máy tính chỉ mới xuất hiện từ khoảng những năm 40 của thế kỷ trước
nên các điều ước quốc tế quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối
với phần mềm máy tính chỉ mới xuất hiện cách đây không lâu, bao
gồm:
23
- Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan đến thương mại
của quyền sở hữu trí tuệ:
Vào đầu những năm 90, nền kinh tế và hoạt động thương mại trên
toàn cầu đang phát triển nhanh chóng và những trường hợp sử dụng trái
phép tài sản thuộc quyền sở hữu trí tuệ đang ngày càng tăng nhất là trong
lĩnh lực thương mại. Vì vậy, vào năm 1994, các quốc gia thành viên Tổ
chức thương mại thế giới (WTO) đã tiến hành ký kết Hiệp định TRIPS về
các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ. Hiệp
định này chính thức có hiệu lực vào tháng 1/1995.
Hiệp định TRIPS gồm 7 phần và 73 điều quy định về nhiều khía cạnh
của quyền sở hữu trí tuệ nên về vấn đề bảo hộ quyền tác giả, Hiệp định chủ
yếu áp dụng trực tiếp công ước Berne về quyền tác giả. Tuy nhiên, nó có
vai trò rất quan trọng trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phần
mềm máy tính bởi hiệp định này đã đề cập đến phần mềm máy tính và quy
định phần mềm máy tính phải được bảo hộ như tác phẩm văn học theo
Công ước Berne (Điều 10). Đồng thời, Hiệp định cũng quy định mối liên
quan của nó với Công ước Berne đó là các nước tham gia hiệp định này
cũng phải tuân thủ các điều từ Điều 1 đến Điều 21 và phụ lục của Công ước
Berne 1971 (Điều 9). Theo đó, Công ước Berne gồm 38 điều và phụ lục (7
Berne và Hiệp định TRIPS, Hiệp ước của WIPO quy định thêm về quyền
phân phối (Điều 6) và quyền truyền đạt đến công chúng (Điều 8). Việt
Nam hiện chưa tham gia Hiệp ước của WIPO 1996.
1.2.2. Điều ước quốc tế song phương
Bên cạnh các điều ước quốc tế đa phương, để thuận lợi hơn
cho việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ phần mềm
máy tính nói riêng, các quốc gia có thể ký với nhau các điều ước quốc tế
song phương về sở hữu trí tuệ với nội dung chặt chẽ hơn và dành nhiều
ưu đãi hơn cho thành viên của các nước ký kết. Việt Nam đã ký kết với
một số quốc gia các hiệp định song phương về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
như: Hiệp định về thiết lập quan hệ quyền tác giả năm 1998 và quan hệ
thương mại năm 2000 với Hoa Kỳ; Hiệp định Bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp
tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ với Liên bang Thụy Sỹ năm 1999,
Bên cạnh đó, Việt Nam và các quốc gia khác còn tiến hành ký các bản ghi
25
nhớ về sở hữu trí tuệ: Bản ghi nhớ giữa Cục Bản quyền tác giả Văn học-
Nghệ thuật Việt Nam và Cục sở hữu trí tuệ vương quốc Thái Lan về
hợp tác trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền kệ cận năm 1999; Bản ghi
nhớ giữa Cục Sở hữu trí tuệ Vương quốc Thái Lan với các cơ quan liên
quan của Việt Nam về hợp tác và thúc đẩy bảo hộ Sở hữu trí tuệ năm 2004;
Bản ghi nhớ giữa Cục bản quyền tác giả nước Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa và Cục bản quyền tác giả Văn học-Nghệ thuật Việt Nam về hợp tác
trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền kệ cận năm 1998. Nội dung của các
văn bản này về cơ bản giống như các điều ước quốc tế đa phương về
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong đó có quyền sở hữu trí tuệ đối với phần
mềm máy tính.
1.2.3. Pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ đối với phần mềm máy tính
của các quốc gia trên thế giới
Hiện nay, đa số các quốc gia trên thế giới đều có pháp luật của riêng
mình trong đó có quy định các vấn đề liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu