4 MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục các từ viết tắt
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG I: QUYỀN CON NGƢỜI VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG
VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƢỜI 6
1.1. Khái lược quyền con người và vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo
quyền con người 6
1.1.1 Khái niệm quyền con người 6
1.1.2 Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo quyền con người 9
1.2. Đặc trưng quyền con người của bị can, bị cáo trong tư pháp hình sự. 14
CHƢƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƢỜI
TRONG TƢ PHÁP HÌNH SỰ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY 19
2.1. Quy định của Hiến Pháp về bảo đảm quyền con người đối với người phạm tội
19
2.2. Bảo đảm quyền con người đối với người phạm tội thông qua các quy định
về tội phạm và hình phạt 22
2.2.1. Quy định trách nhiệm hình sự 22
2.2.2. Quy định phân loại tội phạm 27
2.2.3. Quy định hình phạt, mục đích hình phạt, áp dụng hình phạt 38
2.3 Bảo đảm quyền con người đối với bị can, bị cáo thông qua các quy định
của tố tụng hình sự 45
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BLHS: Bộ luật hình sự
BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự
PGS: Phó giáo sư
Nxb: Nhà xuất bản
H: Hà Nội
M: Mátxcơva
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Quyền con người là một trong những vấn đề thiêng liêng, cơ bản và
nghĩa vụ của mình, đồng thời bảo vệ con người khỏi các hành vi xâm hại.
Song, quyền con người luôn là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp nên bảo
đảm thực hiện nó không phải chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền con người
mà còn phải thực thi nhiều biện pháp đồng bộ, được mọi cấp, mọi ngành,
mọi người tham gia. Trong đó, Toà án có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng.
Bởi vì, một trong những nhiệm vụ cơ bản trong xét xử của Toà án chính là
hoạt động trực tiếp bảo vệ quyền con người đối với bên bị hại và cả bên bị
cáo - là những người mà quyền con người của họ dễ có nguy cơ bị xâm hại.
Nhiều năm qua, theo quy định của pháp luật, Toà án đã tích cực tham gia đấu
tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Song, trong xét xử
vẫn còn oan sai; quyền con người của bị cáo có lúc có nơi chưa được tôn
trọng còn bị vi phạm, chưa có biện pháp bảo đảm hữu hiệu. Điều đó, do nhiều
nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, song sự hạn chế, thiếu đồng bộ
của pháp luật có tác động đáng kể.
Như vậy, thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm đồng thời
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đặt ra nhiệm vụ cấp bách -
phải hoàn thiện pháp luật, tạo cơ sở pháp lý, bảo đảm quyền con người nhất là
pháp luật trong lĩnh vực xét xử hình sự của Toà án.
2. Tình hình nghiên cứu:
Quyền con người được các tổ chức Quốc tế, các nước trên thế giới nói
chung, Việt Nam nói riêng quan tâm nghiên cứu.
3
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của các nhà
khoa học về quyền con người, quyền công dân. Nổi bật trong các công trình
này là hai tập chuyên khảo "quyền con người, quyền công dân" của Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản năm 1993. Đi sâu nghiên cứu tìm
hiểu để đề ra các phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm "xây dựng và hoàn
thiện bảo đảm pháp lý thực hiện quyền con người trong điều kiện đổi mới ở
* Phạm vi: Đề tài chỉ nghiên cứu về pháp luật bảo đảm thực hiện
quyền con người đối với bị cáo bị truy tố trước Toà mà không đi sâu phân tích
về pháp luật bảo đảm quyền con người đối với các đối tượng khác trong các
vụ án dân sự, kinh tế, hôn nhân, gia đình cũng như các bên khác tiến hành
hoặc tham gia tố tụng hình sự.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn
* Mục đích: Đưa ra các nội dung hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền
con người trong xét xử hình sự.
* Nhiệm vụ:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về quyền con người và nghiên cứu những đặc
trưng của quyền con người trong xét xử hình sự.
- Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật bảo đảm quyền con người
trong xét xử hình sự.
- Xác định phương hướng, đề xuất những nội dung cụ thể nhằm hoàn thiện
pháp luật bảo đảm thực hiện quyền con người trong xét xử hình sự.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu đề tài luận văn là phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp cụ thể như: phân tích -
tổng hợp, khảo sát, so sánh.
5
6. Đóng góp khoa học của đề tài:
Góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về quyền con người, đặc
biệt là quyền con người trong xét xử hình sự. Trên cơ sở đó đánh giá thực
trạng và đề xuất phương hướng, nội dung hoàn thiện pháp luật trong xét xử
hình sự.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3
7
tưởng này góp phần thắng lợi vào cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến
tàn bạo, thiết lập Nhà nước mà ở đó con người với những giá trị đích thực của
nó được nâng lên một bước - công dân của xã hội Nhà nước chứ không phải
thần dân của ông vua.
Khác với các Nhà nước phong kiến và tư bản phương tây, chế độ Nhà
nước phong kiến Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nói chung vẫn
mang tính hà khắc. Song, thời kỳ đó "phép vua" và "lệ làng" có tính dân tộc,
nhân đạo, tiến bộ và được thể hiện rõ nét trong Quốc triều Hình luật là Bộ luật
do Nguyễn Trãi soạn thảo, được ban hành năm 1843 có kế thừa, bổ sung
những luật lệ được ban hành từ rất nhiều năm trước và được nhiều Bộ luật,
luật sau này tiếp thu những tư tưởng tiến bộ. Và suốt các triều đại phong kiến
Việt Nam, vua mệnh danh là con trời, cai trị trên nền tảng tư tưởng nho giáo
bị các triết lý nho giáo, điều chỉnh hành vi của mình. Vua là cha mẹ của dân,
buộc phải thích cái dân thích, ghét cái dân ghét bởi "ý trời là lòng dân". Do
đó, vương quyền của vua bị hạn chế, dân cũng có được một số yếu tố về các
quyền dù còn nhỏ nhặt mang tính cộng đồng.
Như vậy, trong các thời kỳ cổ đại và phong kiến, tư tưởng về quyền
con người đã được đề cập đến nhưng còn rời rạc. Khi cách mạng tư sản nổ ra
thắng lợi với những tiền đề tư tưởng và thành tựu của khoa học tự nhiên thì
vấn đề quyền con người mới được đặt ra như một học thuyết, hay nói cách
khác, quyền con người bắt đầu được chính thức công khai thừa nhận. Có thể
nói rằng, sự kiện này được đánh dấu bằng Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng
quốc Hoa Kỳ 1776 và sau đó là Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của
Pháp 1789. "Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, quyền con người chuyển từ
phạm vi thỉnh cầu, yêu sách sang phạm vi thực hiện, từ lĩnh vực triết học sang
lĩnh vực pháp lý thực tiễn".[40,27]
Sau chiến tranh Thế giới thứ 2, cộng đồng quốc tế thông qua Liên hiệp
quốc tuyên bố chính thức về các quyền và tự do của con người bằng Hiến
9
con người khác trong tập thể, cộng đồng. Hay nói cách khác quyền con người
trở nên vô nghĩa khi con người tách khỏi tập thể, cộng đồng và ở trong tập
thể, cộng đồng nên quyền của cá nhân con người không thể tách rời nghĩa vụ
của họ đối với xã hội, Nhà nước. Vì rằng:"Trong tính hiện thực của nó, bản
chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội" [19,11].
Quyền con người là giá trị xã hội cao quí nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khẳng định: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân" [48,276]. Nhân
dân là những con người cụ thể có những quyền thiêng liêng, không ai có thể
xâm phạm được.
1.1.2 Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo quyền con ngƣời
Quyền con người và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời mà có
tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng. Mặc dù quyền con người có
tính "bẩm sinh" nhưng nó không thể chính thức tồn tại nếu không có pháp
luật. Trước hết, vai trò quan trọng của pháp luật đối với quyền con người là
nó ghi nhận (xác lập), củng cố, hoàn thiện quyền con người.
Pháp luật ghi nhận các quyền của con người được xã hội thừa nhận.
Thông qua pháp luật, quyền con người được lên tiếng bảo vệ. Để bảo đảm
quyền con người, pháp luật đưa ra những điều cấm và những hành vi bắt buộc
phải làm nhằm ngăn ngừa và chống lại các hành vi vi phạm quyền con người.
Quyền con người được pháp luật xác lập là thiêng liêng, không thể xâm hại
một cách tuỳ tiện và được bảo vệ bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và
cưỡng chế của xã hội, Nhà nước. Quyền con người được pháp luật xác lập
mang tính tối cao, ổn định không dễ dàng thay đổi. Điều 50 Hiến pháp 1992
khẳng định: quyền con người được quy định trong Hiến pháp và luật - là
những văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, nó buộc mọi người phải tôn trọng,
phục tùng.
Theo tiến trình phát triển của lịch sử loài người, trên phương diện pháp
luật, quyền con người ngày càng được củng cố, hoàn thiện. Từ chỗ các ý
xã hội bằng pháp luật" (Điều 12 Hiến pháp 1992). Pháp luật là công cụ sắc
bén, hữu hiệu của Nhà nước để bảo đảm thực hiện quyền con người. Với
những đặc điểm riêng của mình, pháp luật có tính bắt buộc cứng rắn nhất
bằng cách xác lập những điều cấm mà bất cứ ai cũng không được vi phạm.
Đồng thời, pháp luật được bảo đảm thi hành bằng bộ máy Nhà nước cùng với
sức mạnh (dư luận) xã hội. Vì thế, các quy định của pháp luật về quyền con
người còn được bảo đảm bằng sự cưỡng chế của Nhà nước tránh mọi hành vi
xâm hại. Trên cơ sở của pháp luật, mọi hành vi vi phạm quyền con người,
quyền công dân đều phải được xử lý nghiêm minh. Như vậy, pháp luật còn là
thước đo việc bảo đảm thực hiện quyền con người. Qua công tác thực thi pháp
luật mà rút ra những bài học bổ ích cho việc bảo đảm ngày một tốt hơn quyền
con người.
Cũng chính từ việc ghi nhận các quyền cơ bản của con người mà pháp
luật trở thành phương tiện để công dân có điều kiện bảo vệ mình. Quyền con
người đã được pháp luật ghi nhận tất yếu phải được bảo vệ khỏi bất cứ hành
vi xâm hại nào. Do đó, pháp luật trước hết là cơ sở vững chắc để công dân đòi
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, pháp luật không thể không
ghi nhận trách nhiệm của Nhà nước, công chức, viên chức Nhà nước, các tổ
chức và cá nhân trong việc bảo đảm quyền con người. Pháp luật là chuẩn mực
chung, công bằng đối với mọi người. Do vậy, pháp luật còn là đại lượng để
kiểm tra, đánh giá các quyết định, hành vi của Nhà nước, công chức, viên
chức Nhà nước, các tổ chức và các thành viên khác trong việc bảo đảm thực
hiện quyền con người.
Nhà nước ban hành pháp luật để quản lý mọi mặt đời sống xã hội. Con
người với các mối quan hệ của nó là đối tượng của sự quản lý Nhà nước. Do
đó, có thể xảy ra việc lộng quyền từ phía Nhà nước và đối diện với nó, quyền
của người dân bị hạn chế. Nhờ có các chuẩn mực, tiêu chí của pháp luật mà
các sai phạm trên dễ bị phát hiện để khắc phục, sửa chữa. Đối với công dân,
12
lành mạnh, tự do để con người có điều kiện phát triển. Trong môi trường ấy,
vừa có điều kiện cho việc phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, vừa có điều kiện
để mọi người học tập, vừa thuận tiện cho mọi người được hưởng quyền thông
tin, đồng thời cũng hội tụ được những khả năng để đấu tranh không bị "đồng
hoá" bởi những yếu tố độc hại lai căng từ bên ngoài.
Ngoài việc điều chỉnh hành vi con người, pháp luật còn là phương tiện
đăng tải thế giới quan khoa học, các tư tưởng tiến bộ, có tác dụng giáo dục các
thành viên trong xã hội có ý thức pháp luật, văn hoá pháp lý để họ biết tôn trọng
và bảo vệ quyền của các cá nhân con người trong đời sống cộng đồng.
Ngày nay, pháp luật không phải chỉ đóng vai trò tích cực trong bình
diện của mỗi một quốc gia mà nó còn là phương tiện quan trọng trong hội
nhập quốc tế. Vấn đề quyền con người không thể chỉ là của một người, một
cộng đồng, một quốc gia mà còn là của toàn thể nhân loại. Do đó, pháp luật là
phương tiện để các quốc gia tham gia hội nhập quốc tế và thực hiện các cam
kết quốc tế, bảo đảm cho quyền con người được tôn trọng thực hiện ở mỗi
quốc gia đồng thời phù hợp với luật pháp quốc tế.
Vì mục tiêu chung là tạo điều kiện, môi tường thuận lợi cho con người
phát triển toàn diện mà loài người hiện nay đang phải đối đầu với những thách
thức vô cung to lớn: đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia, giải quyết ô
nhiễm môi trường, dịch bệnh, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chống đói nghèo mà
đòi hỏi phải có sự nỗ lực đấu tranh chung của cộng đồng thế giới.
Nhằm thực hiện điều đó, Liên hiệp quốc - Tổ chức quốc tế lớn nhất hành
tinh - đã thông qua hơn 50 văn kiện quốc tế bảo vệ quyền tự do của con người.
Với quá trình đó, mỗi một quốc gia phải xây dựng nghĩa vụ của mình
trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người, trong đó có việc xây dựng hệ
thống pháp luật quốc gia phù hợp với pháp luật quốc tế và đặc biệt là nghiêm
chỉnh thực hiện các cam kết nêu trong Công ước, tuyên bố và điều ước Quốc
tế mà nước mình ký kết hoặc tham gia.
14
tố về tội gì. Ngay sau khi khởi tố bị can, cơ quan ra quyết định khởi tố bị can
phải gửi quyết định và giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can. Kể từ thời
điểm nhận được quyết định khởi tố, một người trở thành bị can và đồng thời
họ có quyền đưa ra những chứng cứ và những yêu cầu trước cơ quan điều tra.
Việc hỏi cung bị can được tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị
can. Trước khi hỏi cung, trách nhiệm của điều tra viên là phải đọc quyết định
khởi tố bị can và giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ của họ. Trong
khi hỏi cung bị can có thể thú nhận một phần hay toàn bộ tội lỗi của mình tuy
nhiên lời nhận tội của bị can chỉ có thể được coi là chứng cứ khi nó phù hợp
với những chứng cứ khác; pháp luật nghiêm cấm các cơ quan tiến hành tố
tụng dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội
(Điều 54 Bộ luật Tố tụng hình sự).
Để đảm bảo cho bị can thực hiện được quyền bào chữa, mỗi lần hỏi
cung đều phải lập biên bản. Sau khi hỏi cung điiều tra viên đọc lại cho bị can
nghe hoặc bị can tự đọc. Nếu việc hỏi cung được ghi âm thì sau hỏi cung phải
phát lại để điều tra viên và bị can cùng nghe. Để tạo điều kiện cho bị can đưa
ra chứng cứ, lời khai và những lời giải thích, bị can có thể được tự viết lời
khai của mình. Để đảm bảo quyền bào chữa của bị can, pháp luật quy định bị
can được trực tiếp tham gia vào một số hành vi tố tụng trong quá trình điều
tra, thu thập chứng cứ. Bị can có quyền tiếp xúc với tất cả các tài liệu điều tra
sau khi kết thúc điều tra. Quyền năng tố tụng này của bị can có vai trò rất
quan trọng trong việc thực hiện quyền bào chữa. Bởi vì, qua đó bị can mới có
khả năng chuẩn bị ý kiến để bào chữa cho mình hoặc đưa ra những yêu cầu
(như điều tra bổ sung, điều tra lại) hay khiếu nại đối với hành vi và việc làm
của cơ quan điều tra, điều tra viên, những người tham gia tố tụng khác nếu bị
can thấy các hành vi ấy là trái pháp luật. Trong giai đoạn điều tra, khi có
16
những lý do và những cơ sở đã được pháp luật quy định, bị can có quyền đề
nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch.
cho nên nó cần phải có một loạt các quy định bảo đảm nhằm tránh nguy cơ bị
tước bỏ hoặc hạn chế trái pháp luật.
Khác với các quan hệ pháp luật khác (hành chính, dân sự, kinh tế),
trong quan hệ pháp luật hình sự (cả hình sự và tố tụng hình sự), hàng loạt các
quy định riêng được đặt ra nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân
của các bên tham gia tố tụng nói chung và của bị cáo nói riêng. Đó là các quy
định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của công dân, nghĩa vụ của Nhà nước,
của các cơ quan, người tiến hành tố tụng, quy định về tội phạm, hình phạt,
trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng. Tổng thể các quy định đó được tập hợp
thành những tư tưởng, nguyên tắc: công bằng, nhân đạo, dân chủ, pháp chế
mà hướng tới mục tiêu chung là bảo đảm quyền con người của bị cáo không
bị tước bỏ trái pháp luật. Các quy định đó không chỉ nhằm tạo cơ sở pháp luật
cần thiết cho các cơ quan, cá nhân tiến hành tố tụng và tránh được lạm dụng
mà trước hết và chủ yếu là để bảo vệ con người, giúp mọi người biết rõ pháp
luật để phòng tránh việc vi phạm điều cấm của pháp luật, đồng thời cũng biết
được quyền của mình mà thực hiện, bảo vệ.
Vì giá trị cao quý của quyền con người được xã hội thừa nhận, vì quyền
con người được bảo vệ bằng pháp luật, cho nên quyền con người của bị cáo
chỉ có thể bị hạn chế theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
trên cơ sở pháp luật. Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ có Toà
án là cơ quan duy nhất được nhân danh Nhà nước ra quyết định áp dụng các
biện pháp hình phạt đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài Toà án,
không một cá nhân hay tổ chức nào có quyền được tước bỏ các quyền của bị
cáo. Sự phán quyết của Toà án phải dựa trên cơ sở pháp luật và chỉ tuân theo
18
pháp luật. "Khi quyết định hình phạt, Toà án phải tuân theo trình tự và các
điều kiện áp dụng các loại hình phạt cụ thể và chỉ có thể tuyên những hình
phạt được quy định trong luật" [71,36].
Như vậy, quyền con người của bị can, bị cáo là vấn đề rất nhạy cảm, dễ
cử đầu tiên càng sớm, càng tốt với mục đích để nhân dân thực hiện quyền tự
do chính trị của mình bầu ra một Quốc hội, và Quốc hội này có quyền thông
qua một bản Hiến pháp ghi nhận quyền tự do và dân chủ cho nhân dân. Người
20
chỉ rõ: “Nước ta đã bị chế độ quân chủ cai trị rồi đến chế độ thực dân không
kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được
hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ”.
1
Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền con người đã gắn liền
với bản văn Hiến pháp. Hiến pháp không những chỉ là bản văn quy định việc tổ
chức nhà nước, mà còn là bản văn bảo đảm việc thực hiện nhân quyền, mà tựu
trung là quyền tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam. Trước khi quy định
quyền con người của người dân Việt Nam, việc quy định có tính chất ngăn
ngừa những bản tính xấu của con người có thể xẩy ra khi nắm giữ quyền lực
nhà nước, các Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam đều quy định bản chất quyền
lực nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đây là cơ sở
đầu tiên tính nhân bản của Hiến pháp Việt Nam. Cụ thể, Điều 1 Hiến pháp năm
1946 quy định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền
bính trong nước là của toàn dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai,
giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.”
Ngày 24/9/1982, Việt Nam gia nhập hai Công ước quốc tế về quyền con
người, đó là: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và, Công ước
quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá. Đây là một quyết tâm lớn của
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Gia nhập hai công ước quốc tế này, “Nhà
nước Việt Nam thừa nhận các giá trị cao quý của các quyền và tự do cơ bản
của con người”
2
. Đồng thời, chúng ta từng bước nội luật hóa các quy phạm
phải bị xử lý nghiêm minh” (Điều72).
So sánh với cách thể hiện quyền công dân và quyền con người trong
Hiến pháp Mỹ - được ban hành cách đây hơn hai thế kỷ - tư duy của họ hoàn
toàn khác, không phải là một sự ban phát từ phía nhà nước, mà những quyền
con người luôn luôn là mặc nhiên, nhà nước phải có nghĩa vụ ngăn chặn sự vi
phạm từ bất kể chủ thể nào, Hiến pháp Mỹ có quy định "Không ai có thể buộc
phải chịu trách nhiệm về một trọng tội, hay một tội xấu xa khác, nếu không có
một quyết định cáo trạng do một bồi thẩm đoàn đưa ra, trừ trường hợp xẩy ra
trong lục quân, hải quân, hoặc trong lực lượng dân quân dự bị, khi đang thi
22
hành công vụ trong thời chiến, hoặc trong tình trạng báo động. Không một ai
có thể bị kết án hai lần về cùng một tội. Không một ai có thể bị ép buộc làm
chứng chống lại bản thân mình trong một vụ án hình sự và bị tuớc đoạt sinh
mạng, tự do hoặc tài sản, nếu không có một quá trình xét xử theo đúng luật.
Không một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng vào việc công mà không được
bồi thường thích đáng".
Như vây, quy định trên tại Điều 72, Hiến pháp Việt Nam 1992 là phù
hợp với các chuẩn mực quốc tế được nêu trong Tuyên ngôn thế giới về nhân
quyền, (khoản 1 Điều 11), và trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị, (khoản 5 Điều 9 và khoản 2 Điều 14) mà Việt Nam là thành viên.
Việc xét xử ở Việt Nam chỉ do Toà án thực hiện. Và hình phạt cũng chỉ được
thực hiện theo quyết định của Toà án. Đồng thời, việc điều tra, truy tố, xét xử
phải tuân thủ theo các quy định chung của pháp luật. Các cơ quan nhà nước,
người có thẩm quyền gây thiệt hại trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử
buộc phải bồi thường cho người bị oan. Cũng có nghĩa là, người bị oan, bị
thiệt hại do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra được
bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự.
2.2. Bảo đảm quyền con ngƣời đối với ngƣời phạm tội thông qua các quy
định về tội phạm và hình phạt