Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ THỊ THANH

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS TRẦN VĂN ĐỘ

HÀ NỘI - 2013


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn
học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có
thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Ngô Thị Thanh


1.2.4.

Quyền được xét xử công bằng ............................................................ 16

Chương 2: BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG
XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VÀ LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ ............................................ 18
2.1.

Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình
sự theo Pháp luật Việt Nam ............................................................. 18

2.1.1.

Theo Hiến pháp 1992 ......................................................................... 18

2.1.2.

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 ..................................................... 20

2.2.

Một số quy định của Luật Nhân quyền Quốc tế về bảo đảm
quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự ................... 45

2.2.1.

Quy định về quyền của người bị cáo buộc hình sự ............................... 46

6


Tình trạng tồn đọng án, án quá hạn luật định: ...................................... 57

3.1.5.

Tình trạng bắt, giam giữ người tùy tiện còn tồn tại .............................. 58

3.1.6.

Tình trạng tạm giam kéo dài, thời hạn không rõ ràng ........................... 58

3.1.7.

Xét xử oan sai .................................................................................... 59

3.2.

Một số kiến nghị đảm bảo quyền con người trong giai đoạn xét
xử ở Việt Nam hiện nay .................................................................... 61

3.2.1.

Tăng cường giáo dục về quyền con người cho cán bộ hoạt động tư
pháp .................................................................................................. 61

3.2.2.

Hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền con người trong hoạt
động xét xử ........................................................................................ 61


Tòa án nhân dân Tối cao

TTHS :

Tố tụng hình sự

VKS :

Viện kiểm sát

VKSND :

Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC :

Viện kiểm sát nhân dân Tối cao

HĐXX :

Hội đồng xét xử

CQĐT :

Cơ quan điều tra


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là giá trị mang tính phổ biến chung của nhân loại, là kết

Hội Đảng lần thứ XI (tháng 01/2011) cũng đã khẳng định tính cấp thiết của việc xây
dựng cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước, việc thực hiện các quyền lập pháp,
quyền hành pháp và quyền tư pháp. Quan điểm này của Đảng là hoàn toàn đúng đắn
vì trong bất kỳ một Nhà nước pháp quyền nào quyền tư pháp (mà đại diện là Tòa
án) phải được coi là trung tâm và là hệ thống cấu thành quan trọng của bộ máy
quyền lực Nhà nước để bảo vệ. Thực tiễn cho thấy, hàng năm Tòa án đã xét xử hàng
chục nghìn vụ án trong đó có nhiều vụ án lớn (Rusalka Khánh Hòa, Năm Cam, Lã
Thị Kim Oanh, PMU 18, Thiên Lợi Hòa, Phương Ninh Hột, VinaShin...). Các vụ án
đó được xét xử nghiêm minh, công bằng, đúng người, đúng tội, tạo cho nhân dân
niềm tin vào hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại một số hạn chế,
đặc biệt là tình trạng xét xử oan (vụ án Vườn Điều ở Bình Thuận, vụ Nguyễn Minh
Hùng hai lần bị tuyên án tử hình, vụ án con trâu ở Yên Bái...). Qua các vụ án oan,
một đặc điểm chung rất dễ nhận thấy là luôn có những vi phạm tố tụng nghiêm
trọng trong quá trình tiến hành tố tụng, kết luận vụ án luôn là kết quả của sự truy xét
qua áp đặt chủ quan của người tiến hành tố tụng, có dấu hiệu mớm cung, bức cung
trong quá trình điều tra (song hầu như không chứng minh được hoặc không được
Hội đồng xét xử xem xét). Hậu quả để lại của những vụ án đó, theo tác giả là không
bao giờ khắc phục được. Tuy rằng Nghị quyết 388 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
về bồi thường oan sai trong hoạt động TTHS và Luật Trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước (2009) đã phần nào khắc phục được những sai lầm do những người tiến
hành tố tụng gây ra nhưng nó không giải quyết được mọi chuyện. Thực tế số người
bị làm oan, bị làm sai trong quá trình TTHS được bồi thường theo Luật cũng chưa
đáng là bao. Và việc bồi thường đó, không bao giờ tương xứng với những gì mà
những người bị oan, bị sai đã phải gánh chịu. Do đó, tác giả nghĩ rằng, để tránh oan
sai trong TTHS, Tòa án cần phải có hoạt động xét xử đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật. Có như vậy thì quyền con người mới được đảm bảo.
Xét xử vụ án hình sự là chức năng quan trọng nhất của Tòa án, là giai đoạn
quyết định của toàn bộ quá trình TTHS. Trong giai đoạn này, Tòa án áp dụng các

2

Trình). Trong các công trình này, các tác giả có phân tích đến Tòa án với vai trò là

3


đại diện quan trọng nhất của nhánh quyền lực Tư Pháp theo nghĩa rộng. Bên cạnh đó,
cũng có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vai trò, vị trí của Tòa án trong cơ chế phân
chia quyền lực như (GS.TS Nguyễn Đăng Dung...). Tuy nhiên các công trình nghiên
cứu đó chủ yếu tập trung vào các vai trò chung của Tòa án, chưa đi sâu cụ thể vào
vấn đề bảo vệ quyền con người của Tòa án trong giai đoạn xét xử.
3. Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích các quy định liên quan đến bảo đảm quyền con người
trong hoạt động xét xử của pháp luật Việt Nam, liên hệ với thực tiễn và so sánh với
pháp luật quốc tế, tác giả làm sáng tỏ những bất cập, hạn chế để đưa ra những giải
pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS. Đồng thời, qua
đây, tác giả muốn nhấn mạnh vai trò của Tòa án trong việc bảo đảm quyền con
người để chúng ta có cái nhìn đúng đắn hơn về vai trò, vị trí của cơ quan này.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích nói trên, tác giả đã đưa ra và giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu ý nghĩa của việc đảm bảo quyền con người trong TTHS (đặc
biệt là trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự)
- Phân tích các quy định pháp luật TTHS Việt Nam liên quan đến bảo đảm
quyền con người, so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan.
- Nghiên cứu thực tiễn xét xử Tòa án: đánh giá hiệu quả cũng như làm sáng
tỏ những hạn chế trong việc bảo đảm quyền con người.
- Đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật
TTHS và nâng cao hiệu quả hoạt động TTHS liên quan đến việc bảo vệ quyền tự do
dân chủ của công dân.

thực tiễn điều tra truy tố, xét xử cũng như trong nghiên cứu về TTHS.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn kết
cấu gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự
- Chương 2: Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự
theo Pháp luật Việt Nam và Luật nhân quyền quốc tế
- Chương 3: Một số tồn tại và kiến nghị bảo đảm quyền con người trong giai
đoạn xét xử ở Việt Nam hiện nay.

5


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 . Yêu cầu bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự
Quyền con người là một nội dung lớn của thế giới ngày nay. Đây là giá trị
cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới; là tiếng nói
chung, sản phẩm chung, mục tiêu chung, phương tiện chung của mọi quốc gia, dân
tộc trên thế giới để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi con người.
Nó không còn là nhận thức, là quan điểm mà hữu hình bằng các quy phạm pháp lý
được các quốc gia thừa nhận chung, phản ánh quy luật và hướng đi tất yếu của xã
hội loài người cũng như sự hình thành các cơ chế bảo đảm để quyền con người
được thực thi trên thực tế [22]
Là thành viên của các Công ước Quốc Tế về quyền con người, Nhà nước
Việt Nam luôn nỗ lực thực hiện các cam kết của mình đồng thời chủ động hợp tác
với các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong nhiều hoạt động trên lĩnh vực quyền
con người. Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở
Việt Nam trình bày tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc ở Geneva, Thụy Sỹ

Mỗi giai đoạn thực hiện một nhiệm vụ nhất định nhưng cùng hướng đến
mục đích chung là giải quyết mọi vấn đề của vụ án hình sự. Mỗi giai đoạn tuy
độc lập nhưng vẫn nằm trong mối quan hệ khăng khít với nhau và tạo thành một
trình tự thống nhất; giai đoạn trước là tiền đề cho việc thực hiện nhiệm vụ của
giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước. Mỗi giai đoạn tố tụng do
một chủ thể thực hiện nhưng các chủ thể có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa phối
hợp vừa kiểm soát lẫn nhau để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Việc giải
quyết đó chính là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, Tòa án)
và người tiến hành tố tụng (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên;
Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa
án, Thẩm phán, Hội thẩm). [10]
Như vậy, hoạt động này trước hết sẽ bảo vệ quyền lợi cho người bị hại trước
sự xâm phạm của tội phạm. Tuy nhiên xét ở một góc độ khác, TTHS với tư cách là
quá trình Nhà nước đưa một người ra xử lý trước pháp luật khi họ thực hiện tội

7


phạm luôn thể hiện tính quyền lực với sức mạnh cưỡng chế Nhà nước, với sự thiếu
bình đẳng về thế và lực của các bên tham gia quan hệ TTHS, trong đó người bị buộc
tội luôn bị yếu thế hơn. Hoạt động này liên quan đến việc phát hiện, xử lý hành vi
nguy hiểm cho xã hội được quy định là tội phạm và xử phạt người phạm tội. Vì vậy,
để đạt được mục đích của TTHS, Pháp luật TTHS của bất kỳ quốc gia nào cũng có
quy định về những biện pháp cưỡng chế tố tụng, các hành vi, quyết định tố tụng
đụng chạm đến quyền, lợi ích của công dân. Hay nói cách khác, khả năng ảnh
hưởng của hoạt động TTHS tới các quyền con người của người bị tình nghi phạm
tội là tất yếu. Do đó, hoạt động TTHS trong mọi quốc gia đều được xếp vào nhóm
“nguy cơ cao” khi người ta nói đến vấn đề bảo vệ quyền con người. Trong lĩnh vực
này, quyền con người của những người bị tình nghi phạm tội dễ bị xâm phạm, dễ bị
tổn thương và hậu quả để lại cũng đặc biệt nghiêm trọng khi nó động chạm đến

những quá trình trước (khởi tố, điều tra, truy tố) dù tiến hành đúng nhưng đến giai
đoạn xét xử lại làm sai thì vẫn cho ra một kết quả sai. Do đó, ta có thể coi, Tòa án là
cánh cửa cuối cùng, là cơ hội cuối cùng để quyền con người được đảm bảo.
Từ những sự phân tích trên cho thấy quyền con người trong hoạt động TTHS
cần phải được quan tâm một cách sâu sắc và toàn diện, đặc biệt là tại giai đoạn xét
xử. Cùng với nó, cần phải nghiên cứu thêm về vai trò bảo vệ quyền con người của
các chủ thể tiến hành tố tụng, đặc biệt là vai trò của tòa án.
1.2. Các quyền con người có thể bị tác động trong TTHS
Trong lĩnh vực TTHS, khi quyền lực cưỡng chế của nhà nước bị lạm
dụng, bị vi phạm thì nguy cơ ảnh hưởng đến các quyền con người là rất cao. Có
nhiều quyền con người có thể bị tác động trong lĩnh vực này, tuy nhiên trong
phạm vi đề tài, tôi chỉ đề cập đến những quyền bị tác động tương đối phổ biến
nhất, đó là các quyền sau đây:
1.2.1. Quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền này lần đầu tiên được quy định tại
Điều 9 Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người, 1948 (UDHR): “Không ai bị
bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện”, sau đó được Công ước quốc tế về các
quyền dân sự và chính trị, 1966 (ICCPR) cụ thể hóa hơn tại Điều 9 như sau: “
1. Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân. Không ai bị bắt
hoặc giam giữ vô cớ. Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền
đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà pháp luật đã quy định.

9


2. Bất cứ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt về những
lý do họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối với họ.
3. Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được
sớm đưa ra tòa án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư
pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do. Việc tạm giam

- Việc bắt giữ, giam hay cầm tù chỉ được thực hiện theo đúng các quy định
của pháp luật một cách nghiêm ngặt và bởi những quan chức có thẩm quyền hay
những người được ủy quyền thực hiện việc đó (nguyên tắc 2).
- Bất kỳ hình thức giam hay cầm tù nào và tất cả các biện pháp ảnh hưởng
đến quyền con người của một người đang bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình
thức nào phải được ra lệnh bởi, hoặc chịu sự kiểm soát có hiệu quả của cơ quan xét
xử hoặc cơ quan có thẩm quyền khác (nguyên tắc 4).
- Các nhà chức trách bắt giữ một người nào đó, tạm giam người đó hoặc điều
tra vụ án chỉ được phép thực hiện những quyền hạn được giao cho họ theo pháp
luật, và việc thực hiện các quyền hạn này phải chịu sự giám sát của cơ quan xét xử
hay cơ quan có thẩm quyền khác (nguyên tắc 9).
- Việc bắt giữ phải có lệnh với các nội dung cụ thể theo nguyên tắc 12.
Đồng thời, văn kiện này cũng quy định rất rõ ràng và cụ thể các quyền của
người bị bắt giữ: quyền được thông báo về lý do bị bắt giữ, quyền được giải thích
về quyền và nghĩa vụ, quyến được phiên dịch miễn phí, quyền liên lạc với thế giới
bên ngoài, quyền bào chữa, quyền bảo đảm về sức khỏe, quyền khiếu nại, quyền
được suy đoán vô tội, quyền được bồi thường thiệt hại nếu bị giam giữ tùy tiện,
quyền được phát biểu về sự đối xử trong khi bị giam trước cơ quan xét xử hoặc có
thẩm quyền … [23, 697]
Ngoài ra, Các quy tắc chuẩn, tối thiểu của Liên hợp quốc về những biện pháp
không giam giữ (Các quy tắc Tokyo), 1990 cũng quy định việc tránh giam giữ tiền
xét xử như sau:
“6.1. Giam giữ trước khi xét xử được sử dụng như phương án cuối cùng
trong quá trình TTHS, khi xét thấy cần thiết cho việc điều tra hành vi bị coi là phạm
tội và cần thiết để bảo vệ xã hội và các nạn nhân.
6.2. Những biện pháp khác ngoài biện pháp giam giữ trước khi xét xử phải
được áp dụng càng sớm càng tốt. Thời gian giam giữ trước khi xét xử không được

11



12


“tra tấn”. Phải đến năm 1984 thì Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử,
trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (CAT) mới đưa ra khái
niệm về tra tấn như sau:
“Thuật ngữ “tra tấn” có nghĩa là bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn hoặc
đau khổ nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người, vì những mục đích
như lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng
phạt người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi
ngờ đã thực hiện, hoặc để đe dọa hay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vì
bất kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi
đau đớn và đau khổ đó do một công chức hay người nào khác hành động với tư
cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công
chức. Khái niệm tra tấn không bao gồm những đau đớn hoặc đau khổ xuất phát từ,
gắn liền với, hoặc có liên quan đến, các biện pháp trừng phạt hợp pháp”.
Tuy nhiên, CAT cũng nêu rõ nội hàm của khái niệm trên được căn cứ vào
mục đích của Công ước là để cuộc đấu tranh chống tra tấn và đối xử hay trừng phạt
tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm được hiệu quả hơn [23, 148]
Điều 5 UDHR ghi nhận: “Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách
tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm” [23, 49]
Điều 7 ICCPR nói rằng:
“Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân
đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm. Đặc biệt, không ai có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm
y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của người đó” [23, 80]
Ở phiên họp lần thứ 16, 1982, HRC/UNHRC đã giải thích về Điều 7 ICCPR
tại Bình luận chung số 7. Trong phiên họp thứ 39, 1990, Ủy ban đã phản ánh, phát
triển và thay thế Bình luận chung số 7 bằng Bình luận chung số 20 với các nội dung
cơ bản như sau:

nhục hình người bị nghi ngờ phạm tội có thể được sử dụng như là cách nhanh nhất
để lấy lời khai người bị buộc tội…
1.2.3. Quyền được xét xử nhanh chóng, không bị trì hoãn
Điểm c khoản 3 Điều 14 ICCPR quy định: “Người bị buộc tội được xét xử
mà không bị trì hoãn một cách vô lý”
Nguyên tắc 38 Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam
hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào, 1988 quy định: “Một người bị giam do bị

14


cáo buộc phạm tội hình sự phải có quyền được xét xử trong một khoảng thời gian
hợp lý hoặc được trả tự do trong thời gian chờ xét xử”
Quy tắc Bắc Kinh, 1985 cũng quy định việc tránh trì hoãn không cần thiết:
“Mỗi vụ án phải được xét xử nhanh chóng ngay từ đầu, không được có bất kỳ sự trì
hoãn không cần thiết nào” (Quy tắc 20).
Bình luận chung số 32 tại phiên họp thứ 19, 2007 của UNHRC cũng xác
định tại Điều 27:
“Một khía cạnh của phiên tòa công khai là tính chất nhanh chóng. Vấn đề xét
xử không chậm trễ trong TTHS được đề cập trong khoản 3c Điều 14, theo đó sự
chậm trễ trong thủ tục tố tụng không thể biện minh bởi sự phức tạp của vụ án hoặc
những hành vi của các bên là trái với nguyên tắc xét xử công bằng theo đoạn 1 của
Điều 14. Trong trường hợp chậm trễ này là do thiếu nguồn lực thì cần bổ sung ngân
sách cho thực thi pháp luật” [21, 367]
Quyền này có một ý nghĩa quan trọng trong TTHS vì việc áp dụng pháp luật
không chỉ cần đúng đắn mà còn phải kịp thời. Nếu công lý không được thực hiện
kịp thời thì cũng không còn nhiều ý nghĩa. Trước hết đối với quyền lợi của những
người bị hại thì rõ ràng là vụ án càng kéo dài càng bị ảnh hưởng (trừ trường hợp có
sự thỏa thuận bồi thường giữa các bên trong vụ án). Ngoài ra, tâm lý theo đuổi vụ
án kéo dài cũng rất mệt mỏi, ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc hàng ngày của

bằng Bình luận chung số 32 tại phiên họp thứ 19, 2007 với các nội dung như sau:
- Mục đích của Điều 14 ICCPR: bảo đảm công lý và làm tiền đề bảo đảm
một số quyền cụ thể trong đó.
- Bản chất của Điều 14: là một tập hợp các bảo đảm tố tụng nhằm bảo đảm
quá trình xét xử được công bằng (quyền bình đẳng trước phiên tòa và Tòa án; quyền
được xét xử công bằng và tranh tụng trước một Tòa án độc lập, không thiên vị;
quyền của người bị cáo buộc hình sự; quyền của người chưa thành niên; quyền
kháng cáo; quyền được bồi thường oan sai,…).
- Các quốc gia thành viên Công ước có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện các
bảo đảm tố tụng quy định ở Điều 14.
- Các quốc gia thành viên Công ước có thể bảo lưu một số bảo đảm cụ thể ở
Điều 14 nhưng không được bảo lưu chung về quyền được xét xử công bằng…
- Từ Điều 7 đến Điều 57: Ủy ban giải thích rõ ràng và cụ thể về nội hàm của

16


các tập hợp tố tụng nêu trong Điều 14 ICCPR.
- Từ Điều 58 đến Điều 65, Ủy ban bình luận về mối liên hệ giữa Điều 14
ICCPR và các quy định khác của Công ước. [21, 379]
Về Điều 11 và 15 ICCPR thì cho đến nay, HRC/UNHRC chưa đưa ra bình
luận chung nào.
Trong Pháp luật Việt Nam, quyền này được thể hiện bằng nhiều quy định
trong Hiến pháp và BLTTHS. Pháp luật Quốc tế và Pháp luật Việt Nam đều ghi
nhận quyền xét xử công bằng là quyền cơ bản của người bị buộc tội trước cơ quan
tiến hành tố tụng. Đây là một nhân quyền cơ bản và có tính phổ quát cao. Một phiên
tòa công bằng là yếu tố thiết yếu để bảo đảm các quyền cơ bản khác của con người
như quyền sống, quyền tự do thân thể, quyền tự do ngôn luận …
Tuy nhiên, để có một phiên tòa công bằng thì cũng cần phải đảm bảo bởi
rất nhiều yếu tố. Và do đó, trong thực tế, quyền này dễ bị vi phạm dưới nhiều

và luật” (Điều 50)
“Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân” (Điều 51)
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, cụm từ “quyền con

18


người” được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp. Từ hai nguyên tắc này, Hiến
pháp 1992 ghi nhận một số quyền con người nói chung và quyền con người trong
TTHS nói riêng cũng như cơ chế đảm bảo thực thi các nguyên tắc đó trong thực tế.
Các quyền con người trong TTHS được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 gồm:
- Quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 52)
- Quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 71)
- Quyền được suy đoán vô tội: thực chất là sự ghi nhận nội dung chính của
quyền (Điều 72)
- Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và đời sống riêng (Điều 73)
- Quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 74)
- Quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập (Điều 130)
- Quyền bào chữa (Điều 132)
Tuy nhiên, các quyền con người trên được thể hiện trong mối quan hệ
giữa nhà nước và công dân, chứ không được xem xét quyền con người như bản
chất vốn có của nó.
Ngoài việc ghi nhận những quyền con người cụ thể như trên thì Hiến pháp
1992 còn quy định cơ chế thực hiện quyền. Các quyền con người trong TTHS được
bảo đảm bằng hệ thống các cơ quan là Công an nhân dân, VKSND và TAND, trong
đó các quy định về VKSND và TAND khá rõ nét và cụ thể. Theo quy định của Hiến
pháp 1992 thì “VKSND thực hành quyền công tố” (Điều 137), “TAND là cơ quan
xét xử của nước CHXHCN Việt Nam” (Điều 127). Và cả hai hệ thống cơ quan này
đều có chung nhiệm vụ là “bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status