Hoạt động xét xử vụ án dân sự của Hội thẩm nhân dân – thực trạng và giải
pháp ở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38
t i
HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA
HỘI THẨM NHÂN DÂN - THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI
VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Giảng viên hƣớng dẫn:
Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
Bộ môn Luật Hành chính
Sinh viên thực hiện:
Võ Thanh Tòng
MSSV: S120089
Lớp: LuậtVB2 Đồng Tháp-K38
Cần Thơ, 11/2014
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
1
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN VÀ
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HỘI THẨM
NHÂN DÂN
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN
1.1.1. Khái niệm Hội thẩm ....................................................................................... 3
1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển Hội thẩm
1.1.2.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 ...................................................... 4
1.1.2.2. Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980 ...................................................... 6
1.1.2.3. Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992 ...................................................... 7
1.1.2.4. Giai đoạn từ năm 1992 đến nay ................................................................ 8
1.1.3. Ý nghĩa của chế định Hội thẩm nhân dân ...................................................... 9
1.1.4. Các nguyên tắc cơ bản về Hội thẩm nhân dân
1.1.4.1. Nguyên tắc khi xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia ............................. 10
1.1.4.2. Nguyên tắc khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán ................. 11
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
2
SVTH: Võ Thanh Tòng
Hoạt động xét xử vụ án dân sự của Hội thẩm nhân dân – thực trạng và giải
pháp ở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
1.1.4.3. Nguyên tắc khi xét xử Hội thẩm và Thẩm phán độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật .................................................................................................................. 12
1.2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HỘI THẨM
NHÂN DÂN
1.2.1. Tiêu chuẩn Hội thẩm nhân dân....................................................................... 12
1.2.2. Thủ tục bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm Hội thẩm nhân dân
1.2.2.1. Thủ tục bầu Hội thẩm nhân dân................................................................ 13
án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp................................................................. 22
2.2.2.2. Hội thẩm nhân dân chưa thể theo sát vụ án dân sự ................................... 22
2.3. NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA HỘI THẨM
NHÂN DÂN
2.3.1. Những vụ án nhỏ, đơn giản, không phức tạp thì Hội thẩm không
tham gia
28
2.3.2. Pháp luật nên quy định thêm Hội thẩm nhân dân chuyên trách
2.3.2.1. Tiêu chuẩn, bầu, bổ nhiệm, nhiệm kỳ, bãi nhiệm, miễn nhiệm Hội
thẩm nhân dân chuyên trách ............................................................................................ 29
2.3.2.2. Cơ cấu, số lượng Hội thẩm nhân dân chuyên trách ................................... 30
2.3.2.3. Hội thẩm nhân dân chuyên trách tham gia các bước tố tụng trong
vụ án dân sự .................................................................................................................... 32
2.3.3. Kiến nghị đối với hoạt động của Hội thẩm tại Tòa án nhân dân
huyện Lai Vung ............................................................................................................. 33
Kết luận ............................................................................................... 35
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
4
SVTH: Võ Thanh Tòng
Hoạt động xét xử vụ án dân sự của Hội thẩm nhân dân – thực trạng và giải
pháp ở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình đi thực tập tại Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng
Tháp, người viết đã có dịp theo dõi quá trình giải quyết vụ án dân sự. Từ khi thụ
lý, hòa giải, thu thập chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ, mở phiên tòa xét xử người viết
nhận thấy chỉ có Thẩm phán là theo sát vụ án. Trong đó, quan trọng nhất là hòa
giải và thu thập chứng cứ, quá trình trên quyết định đến kết quả giải quyết vụ án.
Còn Hội thẩm nhân dân chỉ xuất hiện khi mở phiên xét xử, nên không có thể theo
sát vụ án. Hội thẩm không tham gia phiên hòa giải, không tiến hành thu thập
chứng cứ từ đó khó mà nắm được tình tiết vụ án. Theo quy định của pháp luật Hội
thẩm có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi xét, nhưng có những
nguyên nhân chủ quan và khách quan mà Hội thẩm không thể nghiên cứu hồ sơ vụ
án. Đồng thời, Hội thẩm còn hạn chế về trình độ pháp lý, vì vậy trong thực tiễn
hoạt động xét xử ở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, thì Hội
thẩm không thể hiện được nguyên tắc độc lập với Thẩm phán.
Để khắc phụ những hạn chế trên cần có những giải pháp nhằm nâng cao
hoạt động xét xử của Hội thẩm nhân dân trong vụ án dân sự ở Tòa án nhân dân
huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, người viết đã chọn đề tài: “Hoạt động
xét xử vụ án dân sự của Hội thẩm nhân dân - thực tiễn và giải pháp ở Tòa án
nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp” để làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Qua quá trình nghiên cứu nhằm đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động xét xử vụ án dân sự của Hội thẩm nhân dân tại Tòa án nhân dân
huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, tác giả chủ yếu nghiên cứu hoạt động của Hội thẩm nhân
dân trong hoạt động xét xử vụ án dân sự ( không nghiên cứu về vụ án hình sự hoặc
hành chính) ở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN VÀ
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
HỘI THẨM NHÂN DÂN
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN
1.1.1. Khái niệm Hội thẩm
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 1, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân năm 2002 ( sửa đổi, bổ sung năm 2011), “ Hội thẩm là người được bầu
hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc
thẩm quyền của tòa án”1. Hội thẩm là người được bầu hoặc cử ra, để cùng với
Thẩm phán làm công tác xét xử tại tòa án, nhằm đảm bảo công lý được thực thi và
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân. Theo quy định tại khoản 3, điều 2
của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 ( sửa đổi, bổ sung năm
2011) thì Hội thẩm nhân dân ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm
có: “ Hội thẩm nhân dân tòa án nhân dân cấp tỉnh, Hội thẩm nhân dân tòa án
nhân dân cấp huyện ( gọi chung là Hội thẩm nhân dân)”2.
1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển Hội thẩm
Dưới chế độ thực dân, phong kiến nhân dân ta bị áp bức, bóc lột vô cùng
nặng nề và đánh mất đi độc lập, tự do. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc
bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nhà nước
công – nông đầu tiên ở Đông Nam Á giành lại độc lập, tự do cho đất nước. Sau khi
nhân dân ta giành được quyền làm chủ đất nước đã xây dựng nhà nước pháp
quyền với việc ban hành Hiến pháp năm 1946. Bản hiến pháp được xem là tiến bộ,
thể hiện tính dân chủ, độc lập tự chủ của nhân dân ta. Trong bản Hiến pháp năm
1946 quy định khi xét xử cần có Phụ thẩm nhân dân tham gia, nhằm bảo đảm
1
Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội Thẩm nhân dân 2002 (2011).
đầu tiên quy định về Hội thẩm. Để đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới ngày 24/1/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 13 về tổ chức các Tòa
án và các ngạch Thẩm phán. Đây là sắc lệnh đầu tiên quy định tổ chức các Tòa án
và quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của các ngạch Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân. Đã quy định khi xử việc tiểu hình phải có hai viên Phụ phẩm nhân
dân tham gia xét xử cùng Thẩm phán: “ Về dân sự và thương sự, Chánh án xử một
mình. Những khi xử các việc tiểu hình, phải có thêm hai viên Phụ thẩm nhân dân
góp ý kiến”5. Trong Sắc lệnh này cũng quy định về lập danh sách, cách thức chọn
Phụ thẩm nhân dân dự phiên tòa: “ Hai Phụ thẩm dự phiên toà sẽ chọn theo cách
rút thăm”6. Ngoài ra, Sắc lệnh còn quy định chi tiết những người không thể cùng
3
Điều II, Sắc lệnh 33C ngày 13 tháng 09 năm 1945.
Điều V, Sắc lệnh 33C ngày 13 tháng 09 năm 1945.
5
Điều 17 Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 01 năm 1946.
4
6
Điều 19 Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 01 năm 1946.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
9
SVTH: Võ Thanh Tòng
7
8
9
Điều 24 Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 01 năm 1946,
Điều 65 Hiến pháp 1992.
Điều 3, Sắc lệnh số 85/SL ngày 22 tháng 05 năm 1950.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
10
SVTH: Võ Thanh Tòng
Hoạt động xét xử vụ án dân sự của Hội thẩm nhân dân – thực trạng và giải
pháp ở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
định tiến bộ khác như: Hội thẩm được xem hồ sơ, biểu quyết, Hội thẩm có những
đặc quyền như Thẩm phán…Tuy nhiên, bên cạnh những quy định tiến bộ thì Sắc
lệnh quy định về nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân là 1 năm.
Tóm lại, trong giai đoạn này có nhiều sắc lệnh được ban hành và sửa đổi
quy định về chế định Hội thẩm nhân được xem là tiến bộ, phù hợp với thực tiễn.
Trong đó, Hiến pháp năm 1946 lần đầu tiên quy định khi xét xử của cơ quan tòa
án có sự tham gia của Phụ thẩm nhân dân.
1.1.2.2. Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980
Sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân ta đã đánh đuổi bọn
thực dân Pháp và bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Để đáp ứng
sự phát triển đất nước trong tình hình mới, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa đã thông qua bản Hiến pháp mới ngày 31 tháng 12 năm 1959, thay thế bản
Hoạt động xét xử vụ án dân sự của Hội thẩm nhân dân – thực trạng và giải
pháp ở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
Để chế định Hội thẩm nhân dân hoạt động đồng bộ cùng với Luật Tổ chức
tòa án nhân dân năm 1960, ngày 23 tháng 03 năm 1961 Ủy ban thường vụ Quốc
hội đã thông qua Pháp lệnh Quy định cụ thể về Tổ chức tòa án nhân dân tối cao và
Tổ chức của các tòa án nhân dân địa phương. Trong Pháp lệnh trên đã quy định cụ
thể về việc bầu, bổ nhiệm, bãi nhiệm, chế độ phụ cấp, nhiệm vụ và quyền hạn của
Hội thẩm nhân dân. Về nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân: “ Nhiệm kỳ của hội
thẩm nhân dân của các Toà án nhân dân địa phương các cấp là hai năm”12.
1.1.2.3. Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992
Sau khi lật đổ chính quyền Mỹ - Ngụy thống nhất đất nước, khắc phục hậu
quả chiến tranh, củng cố bộ máy nhà nước. Trong giai đoạn mới hiện nay, để phát
triển và xây dựng đất nước thì cần phải thay đổi Hiến pháp cho phù hợp với thực
tiễn đặt ra. Ngày 18 tháng 12 năm 1980 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa 6, kỳ họp thứ 7, đã thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam thống
nhất. Bản hiến pháp đã dành chương X để quy định về cơ quan tư pháp, trong đó
có quy định về Hội thẩm nhân dân. Cụ thể được quy định tại Điều 130, Hiến pháp
năm 1980: “ Việc xét xử ở Tòa án nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia, theo
quy định của pháp luật. Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm
phán. Chế độ bầu cử Hội thẩm nhân dân được thực hiện ở Tòa án nhân dân các
cấp. Nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân tối cao là hai năm rưỡi;
nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân địa phương là hai năm”. Kế
thừa quy định của Hiến pháp 1959, khi xét có Hội thẩm nhân nhân dân tham gia
và quyền hạn quy định ngang với Thẩm phán là phù hợp. Trong Điều 131, Hiến
pháp năm 1980 quy định: “ Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật”, nhằm bảo đảm khách quan, công bằng khi xem xét vụ
án.
Để những quy định của Hiến pháp năm 1980 về chế định Hội thẩm nhân
Thẩm phán, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật…Tuy
nhiên, trong luật cũng quy định những điểm mới như sau: Nhiệm kỳ của Hội thẩm
nhân dân Tòa án nhân dân tối cao là 5 năm và Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân
địa phương theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Qua gần mười năm
áp dụng Luật Tổ chức tòa án nhân dân đã, không còn phù hợp với thực tiễn đất
nước, nên Quốc hội khóa X, đã thông qua Luật Tổ chức tòa án nhân dân ngày năm
2002. Luật mới đã loại bãi bỏ quy định Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân tối
cao, vì tòa án chỉ thực hiện hai cấp xét xử và chỉ Hội đồng xét xử sơ thẩm là có
Hội thẩm tham gia: “Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán
và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm
có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân”15. Đồng thời đã ban hành
những quy định mới được xem là tiến bộ và phù hợp với thực tiễn đặt ra trong
hoạt động xét xử về tiêu chuẩn sức khỏe, bị xử lý kỷ luật – trách nhiệm hình sự,
trách nhiệm bồi hoàn, phải tôn trọng và chịu sự giám sát của nhân dân, cấm cản
trở Hội thẩm thực hiện nhiệm vụ. Những quy định mới như trên nhằm tạo điều
13
14
15
Điều 129, Hiến pháp năm 1992.
Điều 130, Hiến pháp năm 1992.
Điều 52, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ( sửa đổi, bổ sung năm 2011).
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
13
SVTH: Võ Thanh Tòng
dân. Hội thẩm là những người sống và làm việc tại các cơ quan, tổ chức, cơ sở sản
xuất, khu dân cư nên có kinh nghiệm trong hoạt động xã hội, có vốn kiến thức
thực tế phong phú, có mối quan hệ mật thiết với nhân dân, vì vậy các vị Hội thẩm
hiểu rõ tình hình, hoàn cảnh, nguyên nhân của các vụ án. Trong một số trường
hợp, Hội thẩm nhân dân còn có kiến thức sâu về một số lĩnh vực như quản lý kinh
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
14
SVTH: Võ Thanh Tòng
Hoạt động xét xử vụ án dân sự của Hội thẩm nhân dân – thực trạng và giải
pháp ở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
tế, y học, tâm lý xã hội… Các kiến thức thực tiễn sinh động đó của đội ngũ Hội
thẩm nhân dân sẽ rất có ích trong việc bổ sung các kiến thức thực tiễn cho Thẩm
phán về những lĩnh vực mà Thẩm phán không chuyên sâu, giúp cho công tác xét
xử đúng đắn.
Thứ ba, tăng cường mối quan hệ giữa Tòa án và nhân dân. Cũng thông
qua Hội thẩm nhân dân, Tòa án nắm bắt được những vướng mắc, suy nghĩ, tình
cảm của nhân dân. Một phán quyết của Tòa án có thể nhận được sự đồng tình của
nhân dân, nhưng cũng có thể bị phản ứng, thậm chí là phản ứng gay gắt của dư
luận.
Thứ tư, Hội thẩm nhân dân sẽ giúp Tòa án thực hiện tốt công tác tuyên
truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân dân. Là người trực tiếp tham gia
quá trình giải quyết vụ án, Hội thẩm nhân dân sẽ là những người giúp Tòa án
tuyên truyền về kết quả xét xử; phân tích rõ cơ sở áp dụng pháp luật trong quá
trình giải quyết vụ án, từ đó góp phần vào việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý
thức pháp luật của công dân tại nơi Hội thẩm nhân dân làm việc hoặc sinh sống.
1.1.4. Các nguyên tắc cơ bản về Hội thẩm nhân dân
với Thẩm phán. Tuy nhiên, các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 đã đề cập
rất rõ về nguyên tắc trên. Trong bản Hiến pháp năm 1992 quy định: “ Khi xét xử,
Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán”17. Đây là nguyên tắc cơ bản để khi xét xử
Hội thẩm tự tin xem xét vụ án, quyền xét xử ngang với Thẩm phán, đảm bảo tính
công bằng, khách quan của vụ án. Từ những quy định trong hiến pháp đã được cụ
thể trong Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 1960, 1981, 1992 và 2002 về Hội
thẩm ngang quyền với Thẩm phán. Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2002 quy
định tại Điều 4: “ Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán”. Trong bản
Hiến pháp năm 2013 lại không có quy định nào về chế định khi xét xử Hội thẩm
ngang quyền với Thẩm phán, không quy định rõ trong Hiến pháp thì sẽ không
được cụ thể trong các văn bản luật sau này, sẽ dẫn tới vai trò Hội thẩm có khả
năng mờ nhạt hơn về sau. Trong quá trình xét xử Hội đồng xét xử khi tiến hành
nghị án thảo luận tập thể và quyết định theo đa số, nếu Hội thẩm không ngang
quyền với Thẩm phán sẽ khó khăn cho hoạt động xét xử.
1.1.4.3. Nguyên tắc khi xét xử Hội thẩm và Thẩm phán độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật
Trong bản Hiến pháp năm 1946, không có quy định nguyên tắc: “ Khi xét
xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Sau đó, các bản
Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đã quy định cụ thể nguyên tắc trên.
Trong Khoản 2, Điều 103, Hiến Pháp năm 2013 quy định: “ Thẩm phán, Hội thẩm
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân
can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”. Quy định trên nhằm tạo ra
sự độc lập giữa Hội thẩm với Thẩm phán khi xem xét vụ án, những suy nghĩ,
quyết định của họ không bị tác động khách quan từ bên ngoài. Trong Hội đồng xét
xử phải độc lập với nhau và Hội đồng xét xử phải độc lập với cá nhân, cơ quan, tổ
chức bên ngoài.
17
Điều 129, Hiến pháp năm 1992.
Thủ tục bầu Hội thẩm nhân dân nơi có tổ chức Hội đồng nhân dân
Chế định Hội thẩm nhân dân rất quan trọng trong hoạt động xét xử của cơ
quan tòa án nên việc bầu cử phải công khai, dân chủ. Theo quy định của pháp luật
hiện hành thì: “ Chế độ bầu Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối với các Tòa án
nhân dân địa phương”19. Khi chọn được người đủ tiêu chuẩn thì Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc cùng cấp sẽ giới thiệu với Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu: “ Hội thẩm
nhân dân Tòa án nhân dân địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo
18
Khoản 2, Điều 5, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân 2002 ( sửa đổi, bổ sung năm 2011).
19
Điều 3, Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2002 (2011).
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
17
SVTH: Võ Thanh Tòng
Hoạt động xét xử vụ án dân sự của Hội thẩm nhân dân – thực trạng và giải
pháp ở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
sự giới thiệu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp”20. Hội thẩm nhân
dân được sự giới thiệu của cơ quan Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, đã thể hiện được
tính dân chủ rất cao. Vì cơ quan Mặt trận Tổ quốc là nơi tập hợp tất cả các tầng
lớp người dân, cơ quan, tổ chức, tôn giáo…trong xã hội. Đó là tiếng nói của tập
thể, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
Khoản 1, Điều 38, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân 2002 (2011).
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
18
SVTH: Võ Thanh Tòng
Hoạt động xét xử vụ án dân sự của Hội thẩm nhân dân – thực trạng và giải
pháp ở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
cũng là sự thống nhất giữa Chánh án và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, thể
hiện tính dân chủ rất cao.
Thủ tục miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân nơi không có tổ chức
Hội đồng nhân dân huyện, quận
Việc đề nghị miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện,
quận nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện theo trình tự,
thủ tục sau:
Bước một: Khi xét thấy Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện, quận, có thể
được miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm theo quy định tại Điều 41, Pháp lệnh Thẩm phán
và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002 ( sửa đổi, bổ sung năm 2011), thì Chánh
án Tòa án nhân dân huyện, quận, sau khi trao đổi thống nhất với Ban Thường trực
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận lập hồ sơ đề nghị miễn nhiệm,
bãi nhiệm để báo cáo với Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương.
Bước hai: Chánh án Tòa án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ
vào hồ sơ đề nghị miễn nhiệm, bãi nhiệm của Chánh án Tòa án nhân dân huyện,
quận báo cáo, sau khi trao đổi thống nhất với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đề nghị Hội đồng nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xem xét, quyết định việc miễn nhiệm,
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thẩm phán, Hội thẩm có quyền liên
hệ với cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của
Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và
công dân. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan, tổ chức và
công dân có trách nhiệm tạo điều kiện để Thẩm phán, Hội thẩm làm nhiệm vụ;
Thứ tư, trong thời gian Hội thẩm làm nhiệm vụ theo sự phân công của
Chánh án Tòa án thì cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân có Hội thẩm đó
không được điều động, phân công Hội thẩm làm việc khác, trừ trường hợp đặc
biệt;
Thứ năm, Hội thẩm có thể được miễn nhiệm vì lý do sức khỏe hoặc lý do
khác24.
1.2.3.2. Nghĩa vụ của Hội thẩm nhân dân
Trong khi thực hiện nhiệm vụ, chức năng của Tòa án nhân dân, Hội thẩm
nhân dân có các nghĩa vụ sau:
Thứ nhất, Hội thẩm làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án Tòa án
nơi mình được bầu hoặc cử làm Hội thẩm. Khi được Chánh án Tòa án phân công
làm nhiệm vụ xét xử thì Hội thẩm có nghĩa vụ tham gia mà không được từ chối,
trừ trường hợp có lý do chính đáng.
Thứ hai, Hội thẩm có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ
chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà
nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của
công dân;
Thứ ba, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuân thủ các quy định
của pháp luật tố tụng khi thực hiện nhiệm vụ xét xử;
24
Khoản 1, Điều 41, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân 2002 (2011).
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
và giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân. Cụ thể : “ Về cơ cấu Hội thẩm Tòa
án nhân dân cần chú ý lựa chọn những người thuộc các tổ chức xã hội, các đoàn
thể ở địa phương như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn, Hội Nông dân, Hội
Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, ngành
giáo dục, các nhà doanh nghiệp, kinh tế, tôn giáo…”26. Đồng thời, về cơ cấu
25
Điều 1, Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2002 (2011).
Khoản 1, Mục I, Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-TANDTC-UBTWMTTQVN ngày 1 tháng 3 năm
2004 của Tòa án nhân dân tối cao và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn về việc
26
chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân.
GVHD: Ths. Huỳnh Thị Sinh Hiền
21
SVTH: Võ Thanh Tòng
Hoạt động xét xử vụ án dân sự của Hội thẩm nhân dân – thực trạng và giải
pháp ở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
người được giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện, quận nơi không tổ
chức Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định giống như nơi có tổ chức
Hội đồng nhân dân.
1.2.4.2. Số lƣợng của Hội thẩm nhân dân
Thông tư liên tịch số 01/2004/TANDTC-UBTWMTTQVN hướng dẫn về
việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân thực hiện như
sau:
22
SVTH: Võ Thanh Tòng
Hoạt động xét xử vụ án dân sự của Hội thẩm nhân dân – thực trạng và giải
pháp ở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
án rất hạn chế. Có rất nhiều vụ án khi mở phiên tòa xét xử thì mới gặp mặt được
Hội thẩm, họ ít nghiên cứu trước hồ sơ vụ án, nên hoàn toàn phụ thuộc vào ý kiến
Thẩm phán. Trước khi mở phiên tòa Hội thẩm tham gia các hoạt động tố tụng của
tòa án rất ít, không tham gia công tác hòa giải, thẩm định, đánh giá chứng cứ, đo
đạc, lấy lời khai, đối chất…
Ngoài ra, còn có thêm quy định: “ Trong trường hợp có lý do chính đáng để
từ chối việc tham gia xét xử thì trong thời hạn ít nhất 7 ngày làm việc trước khi mở
phiên tòa, Hội thẩm phải có văn bản nêu rõ lý do từ chối xét xử và gửi cho Chánh
án Tòa án nhân dân cùng cấp để xem xét, cử Hội thẩm khác tham gia xét xử”29.
Quy định như trên là chưa thật sự phù hợp, vì khi Hội thẩm vừa nhận được giấy
mời, đồng thời cũng là hạn chót cho việc từ chối tham gia xét xử. Khi Hội thẩm
vừa nhận được giấy mời, chưa thể biết vụ án đó có phải bị bắt buộc từ chối hay
không. Hoặc trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, những ngày tiếp sau đó có
những tình tiết mới của vụ án mà bắt buộc Hội thẩm phải từ chối tham gia. Nếu
như thế thì Hội thẩm có được tham gia xét xử hay không.
Tại phiên tòa xét xử
Nếu Hội thẩm có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa xét
xử và tại phiên tòa thì Hội thẩm có quyền hỏi để làm rõ tình tiết của vụ án. Về quy
định xét hỏi tại phiên tòa được thực hiện như sau: “ Sau khi nghe xong lời trình
bày của đương sự, việc hỏi từng người về từng vấn đề được thực hiện theo thứ tự,
chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm nhân dân, sau đó đến Kiểm sát
viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự”30. Hội thẩm nhân dân
24
SVTH: Võ Thanh Tòng
Hoạt động xét xử vụ án dân sự của Hội thẩm nhân dân – thực trạng và giải
pháp ở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN TẠI TÒA ÁN
NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
2.1. KHÁI QUÁT VỤ ÁN DÂN SỰ
Vụ án dân sự (hay còn gọi là vụ kiện dân sự) là vụ kiện mà giữa các bên
đương sự trong vụ việc đó có những mâu thuẫn bất hòa về quyền và nghĩa vụ dân
sự mà bản thân họ không thể giải quyết được nên họ yêu cầu tòa án giải quyết.
Theo quy định tại Điều 1, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung năm
2011) thì vụ kiện dân sự bao gồm những vụ việc sau:
Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.
Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của
tòa án.
Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết
của tòa án.
Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án..
Trong vụ án dân sự có cũng có những đặc điểm riêng khác với vụ án hình
sự và hành chính như:
Thứ nhất, phải có đơn khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu tòa án bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Khi đó, tòa án sẽ xem xét đơn khởi
kiện và chỉ khi nào tòa án ra quyết định thụ lý, thì tranh chấp đó mới được
xem là vụ án dân sự. Trong vụ án dân sự phải có nguyên đơn và bị đơn.