Pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ở việt nam - Pdf 34

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN HUYN TRANG

PHáP LUậT Về BảO ĐảM QUYềN CủA NGƯờI LAO ĐộNG
TRONG QUá TRìNH GIảI QUYếT YÊU CầU
TUYÊN Bố PHá SảN DOANH NGHIệP ở VIệT NAM

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN HUYN TRANG

PHáP LUậT Về BảO ĐảM QUYềN CủA NGƯờI LAO ĐộNG
TRONG QUá TRìNH GIảI QUYếT YÊU CầU
TUYÊN Bố PHá SảN DOANH NGHIệP ở VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut kinh t
Mó s: 60 38 01 07

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: PGS.TS NGUYN HU CH

H NI - 2015



1.2.

Tác động của phá sản doanh nghiệp đến quyền lợi của người
lao động .................................................................................................. 11

1.3.

Sự cần thiết bảo đảm quyền của người lao động trong quá
trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp .............. 12

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI
NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT
YÊU CẦU TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT
NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN ..................................................18
2.1.

Nhóm quyền tham gia thủ tục phá sản ............................................. 18

2.1.1.

Thực trạng pháp luật .............................................................................. 18

2.1.2.

Thực tiễn thực hiện................................................................................. 22

2.2.

Nhóm quyền liên quan đến quan hệ lao động ................................. 24

3.1.

Phương hướng hoàn thiện pháp luật ................................................ 40

3.1.1.

Hoàn thiện pháp luật theo hướng dự báo .............................................. 40

3.1.2.

Hoàn thiện pháp luật phù hợp với yêu cầu hội nhập và điều kiện
kinh tế, xã hội của nước ta ..................................................................... 41

3.1.3.

Hoàn thiện pháp luật trên cơ sở dung hòa mối quan hệ giữa doanh
nghiệp và người lao động ...................................................................... 42

3.2.

Các kiến nghị cụ thể ............................................................................. 44

3.2.1.

Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành ............................................ 44

3.2.2.

Một số biện pháp bảo đảm và tổ chức thực hiện pháp luật ................. 56


4.

LĐ-TB&XH

Lao động – Thương binh và Xã hội

5.

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

6.

TAND

Tòa án nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam đang trong quá trình tham gia hội nhập vào nền kinh tế
thương mại thế giới, đánh dấu bằng một loạt các sự kiện tích cực: gia nhập và
trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giớiWTO song song với việc tiến hành ký kết nhiều hiệp định thương mại song
phương, đa phương: hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình DươngTPP, Hiệp định thương mại tự do- FTA, ký kết thành lập cộng đồng chung
ASEAN… Đồng nghĩa với việc đặt các doanh nghiệp Việt Nam vào một môi
trường kinh doanh sôi động, chịu tác động một cách mạnh mẽ từ quy luật
cạnh tranh, trong hoàn cảnh đó, các doanh nghiệp có cấu trúc giản đơn, không
đủ năng lực cạnh tranh sẽ dần dần dẫn tới “mất khả năng thanh toán” các
khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh và đi đến phá sản.

luật lao động và pháp luật phá sản doanh nghiệp, bởi vậy, để có một cái nhìn
đúng đắn và đầy đủ về vấn đề này, chắc chắn cần phải làm rõ một số nội dung
liên quan đến phá sản doanh nghiệp, bao gồm các nội dung liên quan đến khái
niệm phá sản, hậu quả của hiện tượng phá sản, vai trò điều chỉnh của luật phá
sản… kết hợp đi sâu vào việc bảo đảm quyền lợi của người lao động trong
quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp trong pháp luật
phá sản và lao động. Nhiệm vụ này sẽ đi theo lộ trình:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về phá sản và vấn đề bảo vệ quyền
lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp.
- Tìm hiểu và nhận thức về thực trạng các quy định hiện hành và thực
tiễn áp dụng các quy định của pháp luật liên quan nhằm đảm bảo quyền lợi
của người lao động trong quá trình thực hiện phá sản doanh nghiệp.

2


- Trên cơ sở nhận thức về mặt lý luận kết hợp với nghiên cứu, phân tích
các vụ việc cụ thể, đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện các quy định của
pháp luật và biện pháp tổ chức thực hiện nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền
lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật về bảo đảm quyền của
người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh
nghiệp ở Việt Nam bao gồm các quyền tham gia thủ tục phá sản, quyền liên
quan đến quan hệ lao động, quyền lợi hậu phá sản... cả về lý luận và thực tiễn.
Về mặt lý luận, pháp luật phá sản và pháp luật lao động là các lĩnh vực
khá rộng, do vậy luận văn không đi sâu vào phân tích tất cả các nội dung liên
quan đến phá sản doanh nghiệp hay lao động và pháp luật lao động nói chung.

- Về phá sản và pháp luật phá sản có một số công trình nghiên cứu như:
Luận văn thạc sĩ của tác giả Hà Minh Tú năm 2003 về “Nguyên nhân của
việc áp dụng hạn chế pháp luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam”; của tác giả Tạ
Văn Giang năm 2012 về “Điều hòa lợi ích giữa chủ nợ và con nợ thông qua
thủ tục phá sản”… Các công trình này đã nghiên cứu những vấn đề chung về
phá sản doanh nghiệp và pháp luật về phá sản doanh nghiệp, phân tích và so
sánh những đặc điểm cơ bản của luật phá sản doanh nghiệp của Việt Nam và của
một số nước trên thế giới, làm sáng tỏ những vấn đề chung về điều hòa lợi ích
của chủ nợ và con nợ thông qua thủ tục phá sản, đưa ra những biện pháp và kiến
nghị nhằm hoàn thiện luật phá sản doanh nghiệp, nâng cao hiệu lực pháp luật
phá sản trong thực tiễn. Do các đề tài này đi theo hướng nghiên cứu khác nên
quyền lợi của người lao động khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chỉ
mới được nghiên cứu ở mức độ sơ bộ, hầu như chỉ dừng lại ở quyền lợi như một
trong các chủ nợ không có bảo đảm khác tức là các lợi ích về kinh tế nói chung
chủ yếu là quyền được thanh toán tiền lương, trợ cấp.

4


Cũng có công trình nghiên cứu khoa học khác đi sâu vào bảo vệ quyền lợi
của người lao động chẳng hạn như luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thanh
Hải năm 2012: “Bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình cổ phần
hóa doanh nghiệp nhà nước”. Công trình này đã làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận của việc bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước, rút ra những nhận xét khoa học và đề xuất các giải pháp
cụ thể nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước- người lao động- người sử
dụng lao động. Tuy nhiên, bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình
cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp là hai trường hợp mang những nét đặc thù riêng, chịu
sự điều chỉnh của những quy phạm pháp luật riêng và do đó cần có những công

Pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động trong quá trình giải quyết
yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn chưa thực sự bao quát
được tất cả các vấn đề nảy sinh, còn tồn tại nhiều thiếu sót, chưa thống nhất giữa
quy định và thực tiễn áp dụng vì vậy chưa thể là công cụ vững chắc để bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của người lao động trong khi luật lao động lại chưa
đủ sức điều chỉnh quan hệ này.
Trên cơ sở đó, luận văn nhằm mục đích phân tích các quy định về đảm
bảo quyền lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố
phá sản, nhìn nhận vào các hệ quả, những sự việc có thật trong thực tiễn để từ đó
đánh giá và kiến nghị những giải pháp phù hợp.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành trên cơ sở vận dụng những quan
điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây
dựng và phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.

6


Luận văn vận dụng những phương pháp luận duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
nước và Pháp luật, áp dụng vào tình hình cụ thể của nước ta. Các phương
pháp nghiên cứu truyền thống trong khoa học pháp lý cũng được đặc biệt chú
ý sử dụng trong luận văn như: phương pháp phân tích, tổng hợp các kiến thức
từ pháp luật thực định, phân tích thực tiễn để nhận thức, đánh giá thực trạng
điều chỉnh pháp luật và thực thi pháp luật; phương pháp so sánh luật học,
phương pháp đối chiếu, diễn giải, quy nạp, lịch sử, xã hội học pháp luật, suy
diễn logic... để giải quyết những vấn đề cơ bản của luận văn.
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên ở cấp thạc sĩ luật học nghiên

trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam.

8


Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP VÀ BẢO ĐẢM
QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT
YÊU CẦU TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

1.1. Phá sản và phá sản doanh nghiệp
Hiện tượng phá sản đã có từ lâu nhưng chỉ tồn tại trong một số hình
thái kinh tế xã hội nhất định, hiện tượng này khá xa lạ trong nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung nhưng xảy ra một cách đương nhiên và khách quan trong
nền kinh tế thị trường. Do đó, ở những nước có nền kinh tế thị trường phát
triển, chế định luật “vỡ nợ” hay “phá sản” luôn là một bộ phận không thể
thiếu trong hệ thống pháp luật về kinh doanh.
Một doanh nghiệp sẽ bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi hội đủ
những yếu tố căn cứ nhất định, tòa án có thể dựa trên những căn cứ đó để
tuyên bố doanh nghiệp phá sản kéo theo hàng loạt hậu quả sau đó, tuyên bố
này có thể gây ảnh hưởng xấu thậm chí chấm dứt luôn hoạt động kinh doanh
của con nợ, ảnh hưởng đến uy tín, ảnh hưởng đến cả tài sản của doanh nghiệp
đó. Rõ ràng, việc phá sản sẽ gây hại trực tiếp cho doanh nghiệp đó, ảnh hưởng
đến các chủ nợ, lớn hơn là ảnh hưởng đến cả nhà nước, ảnh hưởng đến nền
kinh tế, do đó nếu không có những cơ sở chắc chắn và quan điểm đúng đắn về
định nghĩa phá sản thì có thể để lại những hậu quả vô cùng to lớn.
Hiện tượng phá sản vốn đã được định nghĩa từ rất sớm. Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế, “chế định phá sản được hoàn chỉnh và đã được
nâng lên thành luật phá sản của nhà nước La Mã cổ đại” [14]. Ở thời kỳ này,
thuật ngữ phá sản đã được hình thành, bắt nguồn từ chữ “ruin” trong tiếng

tài sản nào để trả các khoản nợ đến hạn.

10


Tóm lại, pháp luật hầu hết các nước trên thế giới đều coi phá sản là tình
trạng người mắc nợ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ
đến hạn, bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền (tòa án) tuyên bố phá sản và
thực hiện thanh toán cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật phá sản quy định
trên tổng giá trị tài sản còn lại của con nợ.
Pháp luật phá sản là hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về điều
kiện mở thủ tục phá sản; địa vị pháp lý, mối quan hệ giữa các chủ thể tham
gia thủ tục phá sản; trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản; điều
kiện áp dụng thủ tục phục hồi hoặc thanh lý tài sản doanh nghiệp; thi hành
quyết định tuyên bố phá sản; các vấn đề khác phát sinh trong quá trình giải
quyết vụ việc phá sản.
Phá sản là hiện tượng tất nhiên, cần thiết cho nền kinh tế thị trường.
Pháp luật phá sản chính là sự can thiệp có ý thức của nhà nước vào hiện tượng
phá sản nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những mặt
tích cực của nó.
Pháp luật phá sản hiện nay đi theo hướng bảo vệ các nhóm quyền lợi:
trật tự kinh tế- xã hội, khẳng định vai trò của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của các chủ nợ nói chung, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao
động, quyền lợi hợp pháp của con nợ [9, tr. 23].
1.2. Tác động của phá sản doanh nghiệp đến quyền lợi của người
lao động
Với cách hiểu phá sản doanh nghiệp là hiện tượng mất khả năng thanh
toán các khoản nợ đến hạn của các doanh nghiệp, trong nhiều trường hợp,
một con nợ thường có rất nhiều chủ nợ, đến thời điểm con nợ mất khả năng
thanh toán thì tổng giá trị tài sản còn thường nhỏ hơn tổng giá trị các khoản

quốc tế như: Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền; Công ước quốc tế về

12


các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước quốc tế về các quyền dân sự,
chính trị và các khuyến nghị của tổ chức Lao động Quốc tế. Các quyền của
người lao động mặc dù được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế,
nhưng đó chỉ là sự ghi nhận mang tính nguyên tắc chung. Các quyền trong
lĩnh vực lao động còn được ghi nhận và bảo vệ bởi rất nhiều văn kiện do tổ
chức Lao động Quốc tế khởi xướng.
Theo các văn bản này, quyền của người lao động gồm các quyền:
quyền làm việc, quyền công đoàn độc lập, quyền không bị ép làm việc không
lương, quyền nam nữ hưởng lương bằng nhau, quyền không bị phân biệt đối
xử, quyền không bị phân biệt đối xử nếu có con cái, quyền được giúp đỡ và
có việc làm thích hợp nếu bệnh tật, quyền được đào tạo, bồi dưỡng có ăn
lương, quyền không bị đuổi việc, quyền được trả lương bằng tiền, quyền
hưởng lương trên hoặc bằng mức tối thiểu, quyền được trả lương nếu chủ sử
dụng lao động bị phá sản…
Qua nghiên cứu các văn bản pháp luật quốc tế có thể thấy rằng, các
quyền của người lao động là một trong những quyền hết sức quan trọng của
con người thuộc nhóm các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa. Các quyền
của người lao động có vai trò quan trọng đối với người lao động hoặc tập thể
người lao động. Các quyền này không chỉ được ghi nhận trong các văn bản
pháp luật quốc tế (tuyên ngôn, công ước, khuyến nghị), mà còn được cụ thể
hóa và quy định trong các văn bản pháp luật quốc gia như Hiến pháp, bộ luật,
luật và được thể hiện dưới hai khía cạnh là quyền và nghĩa vụ, bởi để bảo đảm
các quyền của người lao động các quốc gia buộc phải ban hành các quy định
về nghĩa vụ thông qua việc ban hành các chính sách, chương trình để thúc đẩy
việc thực hiện các quyền của người lao động, đồng thời phải đưa ra các quy

các nước đều ghi nhận quyền của người lao động trong suốt quá trình tố tụng
và bình đẳng với các chủ nợ khác bởi việc đảm bảo quyền của họ là thực sự

14


cần thiết. Pháp luật phá sản ở một số nước theo chủ nghĩa xã hội và đang phát
triển như Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, nhóm người lao động, là những thành phần yếu thế nhưng lại đóng
vai trò chủ chốt trong xã hội và nền kinh tế, quyền lợi của họ lại càng đặc biệt
được bảo vệ.
Quyền lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp ngày càng được phát triển và thừa nhận một cách
rộng rãi, thể hiện ở các quyền như: quyền được nộp đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản trong trường hợp doanh nghiệp không trả lương, các khoản nợ khác;
quyền tham gia hội nghị chủ nợ, quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp;
quyền giám sát doanh nghiệp được áp dụng thủ tục phục hồi, quyền được ưu
tiên thanh toán nợ lương và các khoản tiền hợp pháp khác… Ngoài ra, cơ chế
phục hồi của doanh nghiệp cũng là một chế định có mục đích bảo vệ quyền
lợi người lao động, vì nếu doanh nghiệp có thể phục hồi được thì người lao
động cũng thoát khỏi tình trạng thất nghiệp về sau.
Pháp luật phá sản nước nào trên thế giới cũng quy định các quyền để họ
có thể tham gia tự bảo vệ lợi ích của mình. Cần nhận thấy rằng khi một doanh
nghiệp “mất khả năng thanh toán” các khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh
doanh thì người lao động bị nợ lương, phụ cấp khác theo hợp đồng lao động
sẽ vừa là chủ nợ và cũng sẽ là nạn nhân. Cơ sở đầu tiên để họ thực hiện quyền
của mình, dù là ở tư cách nào đi nữa, trước hết vẫn là quyền nộp đơn lên cơ
quan tư pháp có thẩm quyền, cụ thể là Tòa án.
Hiện nay, pháp luật phá sản thế giới phân chia chủ nợ thành ba loại: chủ
nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm.

tài sản để thực hiện nghĩa vụ với người lao động.
Hậu phá sản doanh nghiệp, vấn đề đặt ra cấp bách nhất là quyền có việc

16


làm. Đây là yếu tố cơ bản để bảo đảm sự tồn tại thực tế của con người, đồng
thời cũng là yếu tố để bảo đảm nhân phẩm và lòng tự trọng của người lao
động. Quyền có việc làm được coi là quyền hiến định trong pháp luật quốc tế,
cụ thể, Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 ghi nhận: “Mọi
người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm...” [30, Điều 23]; Công
ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội cũng xác định các yếu tố
của “quyền có việc làm” [25, Điều 6]. So với quyền của người lao động khi
doanh nghiệp phá sản, quyền có việc làm hẹp hơn, tuy nhiên, đây lại là một
quyền cơ bản nhất, quan trọng nhất trong lĩnh vực lao động việc làm và hậu
phá sản. Quyền có việc làm chính là tiền đề, điều kiện quan trọng để thực hiện
các quyền khác của người lao động nói riêng và các quyền của con người nói
chung, như quyền về nhà ở, quyền về giáo dục, văn hoá..... Chỉ khi quyền có
việc làm được đảm bảo thực hiện, thì các quyền khác của con người mới có ý
nghĩa. Luật việc làm 2013 của Việt Nam đã bước đầu thể hiện sự quan tâm
sâu sắc đến vấn đề này.

17


Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI
NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT YÊU CẦU
TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

động hoặc chậm thanh toán sau một khoảng thời gian nhất định kể từ ngày
đến hạn thanh toán thì người lao động có thể buộc doanh nghiệp thực hiện
các nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập
thể bằng cách nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp đến cơ
quan có thẩm quyền giải quyết.
Luật phá sản Việt Nam trước đây quy định người lao động không được
tự nộp đơn mà phải cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn. Cơ
chế cử người đại diện được quy định khá phức tạp gây ra nhiều khó khăn cho
người lao động, hạn chế và gần như vô hiệu hoá quyền nộp đơn của người lao
động trong doanh nghiệp.
Hiện nay, quyền của người lao động trong thủ tục phá sản ngày càng
được khuyến khích và tăng cường hơn nữa, luật phá sản năm 2014 quy định
không chỉ đại diện tập thể người lao động là công đoàn cơ sở, công đoàn cấp
trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở mà chính
người lao động cũng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu hết
thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ
khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa
vụ thanh toán.
Trên quan điểm tạo điều kiện và khuyến khích người lao động đứng ra
tự bảo vệ cho quyền lợi của mình, luật phá sản Việt Nam khẳng định người
lao động, đại diện người lao động khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status