Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện - Pdf 73

Lời nói đầu
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nớc ta chuyển từ một nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, theo
định hớng XHCN. Trong nền kinh tế đó, các doanh nghiệp bình đẳng kinh doanh
và tự do cạnh tranh theo quy định của pháp luật. Cạnh tranh là quy luật tất yếu
của nền kinh tế thị trờng. Điều đó dẫn đến có doanh nghiệp kinh doanh có hiệu
quả, có doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán các khoản nợ
đến hạn. Những hậu quả do nó để lại đòi hỏi chúng ta phải sớm khắc phục một
cách có hiệu quả để làm lành mạnh nền kinh tế. Vì vậy, ngày 30/12/1993, tại kỳ
họp thứ 4, Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX đã thông
qua Luật Phá sản doanh nghiệp và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày
1/7/1994. Luật Phá sản doanh nghiệp là văn bản luật đầu tiên của Nhà nớc ta
chính thức đa chế định phá sản vào đời sống pháp luật, vào đời sống kinh tế của
đất nớc. Sự ra đời của Luật Phá sản doanh nghiệp ở nớc ta chậm hơn so với các n-
ớc trên thế giới và trong khu vực, nhng nó lại là mới đối với các doanh nghiệp.
Quốc hội quyết định ban hành Luật Phá sản doanh nghiệp trớc sự đòi hỏi chung
của kinh tế đất nớc, xu thế chung của thời đại. Chúng ta không thể phát triển tốt
nếu không chuẩn bị điều kiện hoà nhập với quốc tế và khu vực nhng vẫn phải giữ
bản sắc riêng của mình. Đây là văn bản Luật đầu tiên điều chỉnh tơng đối đầy đủ,
toàn diện những vấn đề xung quanh việc phá sản. Cho đến nay, sau 8 năm triển
khai thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp, ngoài những thành công, những thành
quả quan trọng đạt đợc, Luật Phá sản doanh nghiệp đã bộc lộ những thiếu sót,
hạn chế. Những hạn chế của Luật Phá sản doanh nghiệp cũng là tất yếu bởi vì
chúng ta cha có thực tiễn, còn nghèo lý luận cơ bản và cha có nhiều kinh nghiệm
của các nớc trên thế giới và trong khu vực. Vì vậy cần thiết phải nghiên cứu tổng
kết những kết quả đã đạt đợc, phát hiện những yếu kém, những bất cập để kịp
1
thời có những kiến nghị, sửa đổi, bổ sung cần thiết nhằm từng bớc hoàn thiện
pháp luật phá sản ở nớc ta. Đây cũng là lý do em chọn vấn đề Thủ tục giải
quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam - Thực
trạng và giải pháp hoàn thiện làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.

con nợ mắc nợ một số tiền không trả đợc từ 1 triệu bath trở lên đối với cá nhân và
2 triệu bath trở lên đối với công ty và các pháp nhân; trong trờng hợp món nợ
không thanh toán đợc mà nhỏ hơn các qui định trên thì các chủ nợ có quyền tiến
hành thủ tục đòi nợ theo tố tụng dân sự.

3
2.Một DN bị coi là lâm vào tình trạng phá sản nếu tổng số nợ của DN vợt
quá tổng giá trị tài sản còn lại của DN. Ví dụ, Điều 126, 127 Luật Phá sản của
Nhật Bản quy định lý do tuyên bố phá sản công ty là việc công ty không thể trả
đợc các khoản nợ và các nghĩa vụ vợt quá giá trị tài sản của công ty; hay theo
quy định của Điều 1 Luật PSDN Cộng hoà liên bang Nga thì: Tình trạng phá
sản của DN đợc hiểu là việc mất khả năng đáp ứng yêu cầu của chủ nợ về
thanh toán hàng hoá (công việc, dịch vụ) kể cả việc mất khả năng bảo đảm các
thanh toán phải nộp ngân sách và các quỹ ngoài ngân sách do nghĩa vụ của
DN mắc nợ vợt quá tài sản của mình hoặc do mất cân đối trong cán cân thanh
toán của DN mắc nợ.

ở Việt Nam, trớc thời điểm Luật PSDN năm 1993 ra đời, khái niệm mất khả
năng thanh toán các khoản nợ đến hạn đợc hiểu theo nghĩa tổng số tài sản nợ đến
hạn của DN lớn hơn tổng tài sản có của DN. Điều này là bất hợp lý vì đa số các
DN đều tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, hiện tợng số tài sản nợ lớn hơn
số tài sản có chỉ là một hiện tợng nhất thời của DN chứ không phải là một hiện t-
ợng thuộc về bản chất, thờng xuyên của DN. Khắc phục những thiếu sót trên,
Luật PSDN Việt Nam đã xác định khái niệm DN lâm vào tình trạng phá sản
nh sau: DN lâm vào tình trạng phá sản là DN gặp khó khăn hoặc thua lỗ
trong hoạt động kinh doanh sau khi áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết
mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn (Điều 2 Luật PSDN Việt Nam).
Nh vậy, dấu hiệu đặc trng cơ bản nhất để xác định DN lâm vào tình trạng phá
sản là dấu hiệu mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Còn dấu hiệu gặp khó khăn
hoặc bị thua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh doanh và dấu hiệu áp dụng các biện

pháp này đợc cải tiến, hoàn chỉnh và nâng lên thành Luật Phá sản của La Mã thời
cổ đại.

Bớc sang thời kì Trung cổ, các quốc gia châu Âu cũng ban hành Luật Phá
sản. Ban đầu, Luật chỉ áp dụng trong lĩnh vực hoạt động thơng nghiệp sau đó mới
mở rộng sang toàn bộ hoạt động sản xuất - kinh doanh.

Cùng với sự phát triển và mở rộng của thơng mại quốc tế, việc giải quyết
những vấn đề liên quan đến một DN không còn bó hẹp trong biên giới của một
quốc gia. Trong bối cảnh đó, sự khác nhau về những quy định trong pháp luật
phá sản đã gây không ít khó khăn đối với các nhà kinh doanh. Tuy các nớc có
bàn đến các quy định chung của Luật Phá sản, nhng cho đến nay, các nền kinh tế
lớn nh Hội đồng Châu Âu, Mỹ và Canada cũng cha có khả năng đi đến dự thảo
Luật Phá sản chung. Đây là hệ quả tất yếu khách quan vì pháp luật nói chung
cũng nh Luật Phá sản nói riêng còn bị ảnh hởng bởi các điều kiện kinh tế, chính
trị, văn hoá, xã hội,...của mỗi nớc. Vì vậy, để xây dựng đợc một hệ thống pháp
luật phá sản chung thì các quốc gia cần phải nỗ lực hơn nữa.
Luật Phá sản đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. ở giai đoạn
đầu, phá sản bị coi là tội danh hình sự nên con nợ bị xử phạt rất nặng. Chẳng hạn
nh Luật Phá sản của Anh trớc đây cho phép bỏ tù con nợ và khi nhận đợc đơn
yêu cầu tuyên bố PSDN, Toà án sẽ xem xét, nếu đủ bằng chứng thì tuyên bố phá
sản ngay.
ở giai đoạn sau, thời kì từ những năm 70 trở lại đây, Luật Phá sản đã có
những bớc cải tiến và hiện đại hoá. Luật Phá sản không nhằm mục đích đẩy các
DN mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn vào tình trạng phá sản. Ng-
ợc lại, Luật Phá sản chỉ giải quyết những hậu quả đã xảy ra, giúp các bên liên
6
quan giảm đến mức tối thiểu tác động tiêu cực của việc phá sản đối với họ. Đối
với các DN lâm vào tình trạng phá sản, Luật Phá sản cũng đề ra những biện pháp
cần thiết giúp DN thoát khỏi tình trạng phá sản, góp phần tổ chức, cơ cấu lại

Trong quá trình kinh doanh, các DN luôn có quan hệ mật thiết với nhau cho
nên sự phá sản của DN này cũng có thể gây ra nguy cơ phá sản ở các DN bạn
hàng. Bởi vậy, khi một DN bị phá sản thì vấn đề quan tâm trớc tiên là bảo vệ lợi
ích của các DN khác có liên quan.
Đối với các nớc xây dựng pháp luật phá sản theo mô hình của Anh, Đức, và
các nớc Châu Âu lục địa thì Luật Phá sản quan tâm đến việc bảo vệ lợi ích của
chủ nợ, coi thủ tục phá sản là một cách chủ yếu để giúp các chủ nợ thu hồi lại
tiền. Pháp luật phá sản ở một số nớc khác, trong đó có Hungari có quy định buộc
các nhà quản lý của công ty gặp khó khăn về tài chính phải làm đơn lên toà án
xin phá sản. Luật cũng yêu cầu các nhà quản lý DN và các chủ nợ thống nhất với
nhau để lựa chọn hình thức thực hiện, chỉ định ngời thực hiện phá sản nhằm bảo
vệ lợi ích của chủ nợ. Bất cứ một chủ nợ có bảo đảm nào cũng có thể chỉ định ng-
ời quản lý tài sản của DN. Trong quá trình tố tụng phá sản, chủ nợ tham gia vào
hầu hết các giai đoạn từ khởi kiện đến thi hành tuyên bố PSDN nhằm bảo vệ lợi
ích của chủ nợ một cách tốt nhất. Hơn nữa, Luật Phá sản cũng phân chia chủ nợ
thành các nhóm khác nhau để ngăn con nợ đạt đợc thoả thuận cá nhân với một số
chủ nợ và gây thiệt hại cho những chủ nợ khác. Quy định này đảm bảo việc tổ
chức lại sẽ không đợc thực hiện nếu không đợc sự ủng hộ của các chủ nợ lớn.
8
1.1.2.2.Luật phá sản bảo vệ lợi ích của con nợ.
Trớc đây, Luật phá sản chỉ bảo vệ lợi ích của các chủ nợ. Song, cùng với quá
trình phát triển của xã hội, con nợ đợc quan tâm bảo vệ. Sở dĩ nh vậy là vì phá
sản không phải do ý chí chủ quan của bản thân DN mà phụ thuộc vào nhiều yếu
tố khách quan (điều kiện thiên nhiên, môi trờng, kinh tế, chính trị xã hội). Vì thế,
chủ DN bị phá sản - con nợ, đợc coi là kẻ sa cơ lỡ bớc. Trên tinh thần bảo vệ
lợi ích chính đáng của chủ nợ và con nợ, pháp luật phá sản tạo hành lang pháp
lý bảo vệ con nợ và trở thành tấm lá chắn che chở cho con nợ trớc sự tấn công,
xâu xé của các chủ nợ khác.

Nhóm luật phá sản ủng hộ con nợ nhằm mục đích tối đa hoá tài sản của DN

đợc giữa chủ nợ và chủ DN về việc tổ chức lại sẽ tránh đợc tình trạng tranh chấp
ở toà án quá lâu. Biện pháp tổ chức lại sẽ nhanh hơn, ít tốn kém hơn, và vì vậy có
lợi cho các bên liên quan.
1.1.2.3.Nhóm luật phá sản trung dung.
Nhóm này bao gồm luật phá sản của các nớc XHCN trớc đây và một số quốc
gia Hồi giáo chính thống không có truyền thống thơng mại. Họ cho rằng cần phải
xem xét đến tổng chi phí và lợi ích của mỗi lựa chọn đối với xã hội. Luật Phá sản
phải đợc xây dựng nhằm tối u hoá các phơng án giải quyết phá sản trên cơ sở so
sánh giữa thanh lý và tổ chức lại nhằm ngăn chặn những trờng hợp thanh lý vội
vàng hoặc lại trì hoãn việc phá sản. Những quy định này đòi hỏi các DN tồn tại
khi và chỉ khi giá trị số tài sản của DN đang quản lý hiện tại vợt quá giá trị thanh
lý.

Trên thực tế, sự phân chia luật phá sản thành 3 nhóm nh trên chỉ có ý nghĩa
tơng đối và ranh giới giữa các nhóm không phải bao giờ cũng rõ ràng. Điều đáng
10
chú ý là qua các công trình nghiên cứu luật, ngời ta đã chứng minh đợc rằng sự
phân chia từ lâu nay giữa luật chung (Common law) và luật dân sự (Civil law)
không có ý nghĩa trong việc phân nhóm luật phá sản bởi vì trong số các nớc theo
quan điểm ủng hộ con nợ có cả những nớc thuộc hệ thống luật dân sự nh Đức,
Pháp và các nớc theo hệ thống luật bất thành văn nh Mỹ, Canada,... Ngoài ra,
không có mối quan hệ qua lại giữa trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia và
việc lựa chọn mô hình luật phá sản. Điều đó có nghĩa là một nớc chậm phát triển
có thể theo xây dựng luật phá sản theo hớng ủng hộ con nợ, trong khi một nớc
công nghiệp phát triển có thể u tiên nhiều hơn đến việc bảo vệ quyền lợi của chủ
nợ.

Luật PSDN Việt Nam hiện nay đang đi theo quan điểm kết hợp u tiên cả hai
mục tiêu: hớng vào con nợ và hớng vào chủ nợ. Hớng vào con nợ tập trung
vào việc cứu các công ty thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chính, bảo đảm

DN làm ăn có hiệu quả mà còn tạo ra đợc sức cạnh tranh cho nền kinh tế,
đảm bảo cho sự tăng trởng kinh tế và tiến bộ của đời sống xã hội.
Bảo vệ lợi ích và xác định trách nhiệm của DN mắc nợ. DN mắc nợ đợc
bảo vệ quyền lợi và tạo điều kiện để phục hồi lại khả năng kinh doanh.
Thông qua Hội nghị chủ nợ, phơng án hoà giải đợc xây dựng và ấn định
thời gian cho DN mắc nợ tìm cách tháo gỡ khó khăn để trả các khoản nợ.
Việc hoà giải tự nguyện giữa các chủ nợ và DN mắc nợ, nhận bảo lãnh
hay mua lại các khoản nợ đợc u tiên giải quyết. DN mắc nợ có quyền
tham gia vào Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh toán tài sản. Trong trờng hợp
sau khi tài sản của DN đã đợc thanh toán cho các khoản nợ mà còn thừa
12
thì số tài sản đó sẽ thuộc về chủ sở hữu DN. Tuy nhiên, chủ DN phải
thực hiện nghĩa vụ của mình trớc các chủ nợ, ngời lao động và tuân thủ
mọi quy định của Toà án cũng nh phơng án hoà giải của Hội nghị chủ
nợ.
Bảo vệ quyền lợi của ngời lao động trong các DN bị phá sản, tạo điều
kiện đảm bảo cho ngời lao động có cuộc sống ổn định, sau khi DN bị phá
sản. Ngời lao động trong DN bị phá sản đợc chi trả các khoản nợ lơng,
trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội. Đây là các khoản đợc u tiên thanh
toán. Ngoài ra, theo Luật PSDN, thông qua tổ chức công đoàn hoặc đại
diện tập thể ngời lao động, ngời lao động có thể thực hiện những quyền
mà pháp luật ghi nhận. Đó là quyền đệ đơn yêu cầu giải quyết PSDN,
quyền tham gia Hội nghị chủ nợ, quyền tham gia Tổ quản lý tài sản và
Tổ thanh toán tài sản.
Bảo đảm trật tự kỉ cơng xã hội. Phá sản luôn ảnh hởng sâu sắc đến đời
sống xã hội trên phạm vi lớn, làm phát sinh những xáo trộn và mâu thuẫn
trong đời sống kinh tế xã hội. Vì thế nó đòi hỏi phải có quy phạm pháp
luật điều chỉnh. Bằng việc giải quyết thoả đáng lợi ích giữa các chủ nợ và
con nợ, giữa chủ nợ với nhau cũng nh xác định trách nhiệm của các bên,
pháp luật phá sản đã góp phần hạn chế những mâu thuẫn phát sinh để ổn

1.Chủ nợ hoặc đại diện công đoàn (đại diện ngời lao động nơi cha có tổ
chức công đoàn) hoặc đại diện DN mắc nợ gửi đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố
PSDN tới Toà án nơi DN mắc nợ đóng trụ sở chính.(Theo Điều 7, 8, 9 - Luật
PSDN).
2.Toà án thụ lý đơn; thông báo cho DN mắc nợ biết và yêu cầu DN báo cáo
về khả năng thanh toán nợ. Nếu xét thấy đủ căn cứ chứng minh DN mất khả năng
thanh toán nợ đến hạn, Chánh toà Toà kinh tế cấp tỉnh ra quyết định mở thủ tục
giải quyết yêu cầu tuyên bố PSDN. Quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu
tuyên bố phá sản phải nêu rõ lý do mở thủ tục tuyên bố phá sản, ấn định thời
điểm ngừng thanh toán nợ của DN, họ tên của Thẩm phán phụ trách vụ việc và
các nhân viên Tổ quản lý tài sản. (Điều 13 và Điều 15 Luật PSDN).
3.Sau khi mở thủ tục phá sản, Toà án yêu cầu chủ DN hoặc đại diện hợp
pháp của DN phải xây dựng phơng án hoà giải và giải pháp tổ chức lại sản xuất
kinh doanh trình Thẩm phán trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày đợc yêu cầu.
(Điều 20 Luật PSDN).
4.Trong thời hạn do pháp luật quy định, Thẩm phán phải triệu tập Hội nghị
chủ nợ để con nợ trình bày phơng án hoà giải (Điều 28). Nếu Hội nghị chủ nợ
không thành (do không đủ số chủ nợ theo quy định tại Điều 30, 31) thì Thẩm
phán ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản.
5.Nếu phơng án hoà giải đợc Hội nghị chủ nợ thông qua thì Thẩm phán ra
quyết định công nhận biên bản hoà giải thành, đồng thời tạm đình chỉ việc giải
quyết yêu cầu tuyên bố phá sản (Điều 33). Trong khoảng thời gian thực hiện các
biện pháp hoà giải đã đợc Hội nghị chủ nợ thông qua, nếu DN thực hiện thành
15
công và khôi phục tình trạng thanh toán nợ thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ
việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản (Điều 35)
6.Thẩm phán ra quyết định tuyên bố PSDN trong các trờng hợp sau:
-Chủ DN hoặc đại diện hợp pháp của DN không có phơng án hoà giải và
giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của DN theo Điều 20, Luật PSDN.
-Chủ DN hoặc đại diện hợp pháp của DN không có mặt tại Hội nghị chủ nợ

thể bị tuyên bố phá sản (úc, Mỹ,...).
-Xu hớng thứ hai: Chỉ có nhà kinh doanh (DN và cá nhân kinh doanh) mới
có thể bị tuyên bố phá sản (Cộng hoà liên bang Nga).
-Xu hớng thứ ba: Chỉ có DN mới chịu sự chi phối của Luật Phá sản (Việt
Nam, Trung Quốc,...).

Xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, tại Điều1 Luật
PSDN quy định: Luật này áp dụng đối với các DN thuộc mọi hình thức sở hữu
đợc thành lập và hoạt động theo pháp luật nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khi lâm vào tình trạng phá sản. Theo điều luật này thì tất cả các loại hình
DN không phân biệt hình thức sở hữu (sở hữu quốc doanh, tập thể hay t nhân)
đều có thể bị tuyên bố phá sản khi đáp ứng đủ các điều kiện luật định. Tuy nhiên
xuất phát từ vai trò đặc biệt của một số loại hình DN trực tiếp phục vụ quốc
phòng an ninh, dịch vụ công cộng quan trọng mà Nhà nớc có quy định khác. Cụ
thể là khi các DN này lâm vào tình trạng phá sản, Toà án chỉ áp dụng thủ tục giải
quyết yêu cầu tuyên bố phá sản khi nhận đợc ý kiến bằng văn bản của Thủ tớng
17
Chính phủ hoặc Thủ trởng Cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền đã ra quyết định
thành lập DN về việc không áp dụng biện pháp cần thiết để phục hồi khả năng
thanh toán nợ đến hạn của DN đó. Đối với DN có một phần vốn nớc ngoài, hay
DN 100% vốn nớc ngoài phải đợc thực hiện theo Luật PSDN, Luật Đầu t nớc
ngoài tại Việt Nam và các văn bản hớng dẫn khác trừ trờng hợp điều ớc quốc tế
mà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia hoặc kí kết có quy định
khác.

Việc pháp luật phá sản Việt Nam quy định đối tợng áp dụng chỉ bao gồm
các DN là khác với quy định của nhiều nớc trên thế giới. Sở dĩ nh vậy là vì trong
điều kiện kinh tế-xã hội hiện tại, với sự quản lý của Nhà nớc, chúng ta cha thể
kiểm soát nổi hoạt động sản xuất kinh doanh của các cá nhân. Sẽ rất khó để xác
định thua lỗ trong sản xuất kinh doanh hay thua lỗ do những hành vi tham ô,

của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng.
Việc trao cho Toà án một vai trò nh vậy là một nét đặc thù cơ bản Luật Phá
sản nớc ta so với Luật Phá sản của các nớc trên thế giới. Điều này xuất phát từ
đặc điểm của nền kinh tế và đặc điểm xã hội nớc ta. Hiện tợng phá sản đang là
một khái niệm, một công việc mới mẻ và phức tạp. Thủ tục yêu cầu tuyên bố phá
sản có nhiệm vụ giải quyết một cách triệt để những đòi hỏi đặt ra. Đó là phải bảo
vệ lợi ích hợp pháp cho các chủ nợ, DN mắc nợ, cho ngời lao động nhằm đảm
bảo trật tự xã hội và góp phần có hiệu quả vào việc cơ cấu lại nền kinh tế quốc
dân. Do vậy, việc trao cho Toà án, cơ quan xét xử của Nhà nớc, quyền đa ra các
phán quyết ảnh hởng đến quyền sở hữu, quyền nhân thân và các quyền cơ bản
19
của công dân, của DN khi họ lâm vào tình trạng phá sản là hoàn toàn phù hợp với
đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá của nớc ta.
1.2.2.3.Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp là thủ tục t
pháp đặc biệt.
Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố PSDN là thủ tục t pháp đặc biệt. Tính
chất đặc biệt của thủ tục này đợc thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, việc đòi nợ và thanh toán nợ đợc tiến hành thông qua một cơ quan
đại diện có thẩm quyền là Toà án với một thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định.
Kết thúc thủ tục này, DN mắc nợ có thể không còn tồn tại nữa.

Thứ hai, nguyên tắc thanh toán là thanh toán trên tổng tài sản hiện có.
Nguyên tắc này hoàn toàn khác với nguyên tắc trong dân sự là phải trả đủ. Có
nghĩa là tài sản có bao nhiêu thì trả bấy nhiêu. Tuy nhiên, thực tế xảy ra các trờng
hợp khác nhau tuỳ thuộc mối quan hệ giữa tài sản có và tài sản nợ của DN. Nếu
tài sản có lớn hơn hoặc bằng tài sản nợ thì đơng nhiên các chủ nợ đợc thanh toán
đầy đủ. Ngợc lại, nếu số tài sản có nhỏ hơn số tài sản nợ thì DN cũng chỉ dùng số
tài sản đó để trả nợ mà thôi. Phần nợ còn thiếu thì các chủ nợ phải chịu theo tỷ
lệ. Bên cạnh đó, việc thanh toán chỉ đợc tiến hành theo quy định chặt chẽ của

Tóm lại, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố PSDN có những đặc thù riêng
của nó. Các đặc thù đó đợc thể hiện trong phạm vi áp dụng, cơ quan tiến hành tố
tụng, luật áp dụng ... Đặc biệt, đây cũng là một thủ tục đòi nợ nhng khác hẳn với
việc đòi nợ thông thờng trong dân sự.
21
Ch ơng 2
Thực trạng pháp luật về thủ tục giải quyết yêu
cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ở Việt nam.
22
2.1.Những quy định cơ bản về Thủ tục giải quyết yêu
cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố PSDN là một nội dung đặc biệt quan
trọng của pháp luật phá sản Việt Nam. Hầu hết các điều khoản trong Luật PSDN
và các văn bản hớng dẫn thi hành đều tập trung quy định vấn đề này, đó là:
2.1.1.Nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
2.1.1.1.Nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Trong quá trình thực hiện quyền tự do kinh doanh, các chủ thể có quyền tự
chủ để đem lại nguồn lợi cho mình miễn là hành vi của chủ thể đó phù hợp với
quy định của pháp luật. Mặc dù hiện tợng kinh doanh thua lỗ dẫn đến phá sản có
thể gây ra hậu quả xấu với nền kinh tế-xã hội, nhng Nhà nớc chỉ can thiệp khi có
đơn yêu cầu tuyên bố phá sản. Tuy nhiên, xuất phát từ lợi ích của các bên trong
quan hệ PSDN, Nhà nớc chỉ quy định những chủ thể nhất định mới có quyền nộp
đơn yêu cầu tuyên bố phá sản. Việc xác định những đối tợng có quyền và nghĩa
vụ nộp đơn yêu cầu Toà án yêu cầu tuyên bố phá sản có ý nghĩa rất quan trọng.
Nếu cho phép cá nhân, tổ chức nào cũng có quyền làm đơn ra Toà án yêu cầu
tuyên bố phá sản thì khó có thể tránh đợc sự lạm dụng cơ hội này để hạ uy tín
hoặc gây khó khăn cho các đối thủ cạnh tranh của mình. Ngợc lại, nếu hạn chế
quyền này một cách quá đáng, tuỳ tiện, không dựa trên cơ sở khoa học nào thì
hậu quả sẽ làm cho việc giải quyết phá sản khó bị phát hiện, ảnh hởng xấu đến


24
Theo Khoản 1 Điều 9 Luật PSDN (1993), DN lâm vào tình trạng phá sản là
chủ thể thứ hai có quyền yêu cầu tuyên bố phá sản. Quy định này có ý nghĩa rất
lớn, thể hiện ở chỗ: Thứ nhất là tạo điều kiện cho chủ DN sớm kết thúc sự tồn tại
của mình khi không còn khả năng tồn tại. Thứ hai là tăng cờng trách nhiệm của
họ đối với xã hội vì sự duy trì một DN đã chết là điều không tốt không chỉ cho
DN mà còn cho cả xã hội. Điều đó sớm hay muộn cũng sẽ ảnh hởng đến xã hội
nói chung.
Ngoài hai chủ thể chính là chủ nợ và con nợ, Luật PSDN Việt Nam còn cho
phép ngời lao động với t cách là một loại chủ nợ đặc biệt có quyền yêu cầu Toà
án tuyên bố PSDN. Tuy nhiên, để tránh tình trạng tuỳ tiện trong việc thực hiện
quyền này, Luật PSDN nớc ta đã quy định những điều kiện cụ thể để ngời lao
động thực hiện đợc quyền của mình. Điều 8 Luật PSDN đã quy định rõ: Trong
trờng hợp DN không trả đợc lơng ngời lao động ba tháng liên tiếp thì đại diện
công đoàn hoặc đại diện ngời lao động nơi cha có tổ chức công đoàn có quyền
nộp đơn đến Toà án nơi DN đặt trụ sở chính yêu cầu giải quyết việc tuyên bố
PSDN.
Tóm lại, Luật PSDN nớc ta chỉ quy định cho ba chủ thể là chủ nợ, con nợ và
ngời lao động có quyền nộp đơn yêu cầu Toà án tuyên bố DN vì chỉ những chủ
thể này mới có quyền và lợi ích liên quan trực tiếp đến DN bị phá sản.
2.1.1.2.Thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Theo quy định tại Điều 4 Luật PSDN và điểm c Khoản 3 Điều 30 Luật Tổ
chức Toà án nhân dân thì Toà kinh tế Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ơng nơi DN đặt trụ sở chính có thẩm quyền thụ lý và giải quyết đơn yêu
cầu tuyên bố PSDN.

25

Trích đoạn Luẹt phĨ sộn xÝ nghiơp nắc Céng hoÌ nhờn dờn Trung Hoa (Luẹt ợîc UBTV quèc héi khoĨ VI thỡng qua ngÌy 2-12-1986) Thùc tiÔn giội quyỏt yởu cđu tuyởn bè phĨ sộn doanh nghiơp theo Luẹt PhĨ sộn doanh nghiơp Viơt BÊt cẹp trong viơc quy ợẺnh tÈnh trÓng phĨ sộn doanh nghiơp Cđn cã cĨch thục xö lý cô thố ợèi vắi doanh nghiơp bẺ lờm vÌo tÈnh trÓng phĨ sộn. NhƠng bÊt cẹp cĐa cĨc quy ợẺnh vồ viơc nép ợŨn, thô lý ợŨn yởu cđu tuyởn bè phĨ sộn doanh nghiơp.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status