ĐỀ ÁN MÔN HỌC PHÁP LUẬT KINH DOANH VIỆT NAM : ĐỀ TÀI "THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM" doc - Pdf 11

Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
A Lời mở đầu
Từ khi Nhà nớc ta chủ trơng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, theo cơ chế thị trờng và định hớng xã hội chủ nghĩa; ở nớc ta
xuất hiện nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau nh: doanh nghiệp nhà nớc,
doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, các hợp tác xã nông nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp, các doanh nghiệp nhỏ theo nghị định 66 HĐBT Pháp luật cho phép
các doanh nghiệp kinh doanh bình đẳng với nhau trên thơng trờng và tự do
cạnh tranh với nhau. Đã có cạnh tranh tất nhiên sẽ dẫn đến xu hớng mạnh
đợc yếu thua. Khi một doanh nghiệp không còn đáp ứng đợc những đòi hỏi
khắt khe, nghiệt ngã của thơng trờng, doanh nghiệp đó sẽ bị đào thải.
Trong nền kinh tế thị trờng với qui luật cạnh tranh, chọn lọc và đào
thải đợc ví nh một vòng đấu khốc liệt, trong đó các doanh nghiệp chủ thể
chính của các quan hệ kinh tế chính là các đối thủ không cân sức, kẻ mạnh
thắng thế sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, còn những kẻ yếu hơn nếu không
muốn bị đào thải và loại ra khỏi cuộc chơi phải chủ động tìm kiếm phơng án
cơ cấu, tổ chức lại, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt
động. Tuy vậy không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng thành công trong
việc tự cứu mình mà cần phải có sự trợ giúp từ bên ngoài mới có thể thoát
ra khỏi tình trạng bế tắc, và ngay cả những doanh nghiệp vững mạnh, có tiềm
năng đôi khi cũng gặp khó khăn nghiêm trọng trong sản xuất kinh doanh. Do
vậy, phá sản là hiện tợng tự hiệu chỉnh bên trong của nền kinh tế thị trờng.
Trên thực tế có rất nhiều doanh nghiệp đã làm ăn thua lỗ liên tiếp, chỉ
còn sống thoi thóp. Thậm chí đã có những doanh nghiệp chấm dứt hoàn
toàn mọi hoạt động, lẽ ra phải đợc Toà án tuyên bố phá sản những lại lựa
chọn các phơng án khác nh: sáp nhập, hợp nhất, giải thể doanh nghiệp.
Luật phá sản doanh nghiệp (31/12/1993), đợc áp dụng vào thực tiễn kể
từ ngày 1/7/1994, hiện có những bất cập bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân: do
Luật còn xa rời thực tiễn, không có tính khả thi, thiếu sự gắn kết, nhất quán
giữa các quy định trong cùng văn bản cũng nh với quy định của các văn bản

doanh nghiệp. Phá sản với tính chất là một hiện tợng có tính qui luật trong
cơ chế kinh tế thị trờng, trong một thời gian dài đã đợc nhiều Nhà nớc
khuyến khích vì hiểu theo nghĩa lợi ích chung của nền kinh tế thì đây là hiện
tợng có ích, vì qua đó nó điều chỉnh lại cơ cấu nền kinh tế quốc dân thông
qua việc nhổ đi những cây cỏ dại trong vờn hoa đẹp. Tuy nhiên sang những
năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, sự vận động của nền kinh tế phát triển và
nền kinh tế thế giới làm cho nhiều quốc gia phải hoài nghi về lợi ích do phá
sản đem lại. Quá trình phân công lao động ngày càng cao theo chiều rộng và
chiều sâu ở mỗi thị trờng quốc gia và thị trờng toàn cầu đã làm tính phụ
thuộc giữa các doanh nghiệp ngày càng lớn. Sự xuất hiện các công ty đa quốc
gia cùng với quá trình toàn cầu hoá đã từng bớc xoá nhoà đờng biên giới về
thị trờng giữa các quốc gia trên thế giới và vì vậy làm cho tính phụ thuộc lẫn
nhau giữa các doanh nghiệp ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn bao giờ hết.
Trong bối cảnh nh vậy, phá sản không còn là công việc riêng của doanh
nghiệp phá sản. Sự cho phép rút lui một cách đột ngột của một doanh
nghiệp ra khỏi thơng trờng bằng cơ chế phá sản không phải bất cứ trờng hợp
nào cũng là giải pháp đợc Nhà nớc lựa chọn sau khi đã cân nhắc đầy đủ và
thận trọng các hệ quả về mặt kinh tế, chính trị và xã hội. Để ngăn chặn và
kiểm soát một cách có hiệu quả những hậu quả bất lợi của việc phá sản
doanh nghiệp, cơ chế phá sản hiện đại đã chủ động can thiệp bằng pháp luật
từ khi doanh nghiệp có những dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản.
1.2 Phá sản và xử lí phá sản:
Phá sản thuộc lĩnh vực kinh tế xã hội phức tạp, liên quan đến nhiều đời
sống xã hội. Vấn đề đầu tiên thấy nhng khó giải quyết ở mọi quốc gia - đó là
vấn đề thất nghiệp của những ngời lao động trong doanh nghiệp bị phá sản,
gây hậu quả khôn lờng cho xã hội. Nh vậy phá sản thuộc lĩnh vực xã hội.
Mỗi khi một doanh nghiệp bị phá sản thì những doanh nghiệp bạn
hàng cũng chịu ảnh hởng sấu theo kiểu dây truyền và đã gây ảnh hởng sấu
đến tiến trình sản xuất của xã hội. Xét về mặt này thì phá sản thuộc lĩnh vực
kinh tế.

bốn quyết điịnh để xử lí theo quyết định 315- HĐBT theo trật tự: Sát nhập,
cho thuê, nhợng bán và giải thể.
Căn cứ vào tình hình sản xuất cụ thể, đòi hỏi phải chọn lọc và sắp xếp
lại, phải có những phơng án sử lí đa dạng và thích hợp. Tuy vậy viẹc chon lọc
và sắp xếp lại các xí nghiệp vẫn gặp nhiều lúng túng do thiếu những quy định
và hớng dẫn cụ thể. Nhiều doanh nghiệp t nhân hoặc liên doanh với nớc
ngoài cũng gặp những khó khăn về tài chính, mắc nợ hoặc không thanh toán
đợc các khoản nợ đến hạn và đang đứng bên bờ phá sản. Vì vậy cần phải có
một đạo luật phá sản áp dụng chung cho tất cả các loại doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau.
2- Pháp luật về phá sản.
2. 1- Sự cần thiết phải có luật phá sản ở Việt nam
Nhà nớc chủ trơng thực hiện phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo cơ chế thị trờng; đồng thời cho phép các doanh nghiệp của các
thành phần kinh tế khác nhau hoạt động bình đẳng và tự do cạnh tranh lẫn
nhau trên thị trờng. Cạnh tranh tất yếu sẽ dẫn đếỡnu hớng mạnh đợc- yếu
thua. Vì vậy hiện tợng phá sản các doanh nghiệp trong cơ chế thị trờnglà xu
hớng tất yếu của quá trình cạnh tranh, đồng thời cũng là quá trình đào thải tự
nhiên các doanh nghiệp yếu kém ra khỏi nền kinh tế, để hình thành các
doanh nghiệp mới hoạt động có hiệu quả hơn.
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
Trớc năm 1993, đối với các doanh nghiệp bị phá sản hoặc đang đứng
bên lề phá sản thì cha có một văn bản nào của nhà nớc quy định về phá sản
và thủ tục phá sản. Vì vậy việc sử lý đối các doanh nghiệp đó gặp rất nhiều
khó khăn. Việc sử lý các doanh nghiệp phá sản phải áp dụng những quy điịnh
có tính chất hành chính trong các văn bản pháp quy hiện hành về giải thể xí
nghiệp thì đỡ dẫn đến tuỳ tiện, xoá nợ để chốn tránh trách nhiệm, tham ô
chia chác, Song việc áp dụng các quy định đó để xử lý phá sản doanh
nghiệp vừa dẫn đến các lại vừa không phù hợp với thông lệ quốc tế. Ngoài ra

nhau. Tuy nhiên sự hình thành nhanh chóng của các công ty xuyên quốc gia
cùng với tiến trình toàn cầu hoá trong điều kiện hiện nay đang đòi hỏi các
nền kinh tế phải có cách nhìn nhận hiện tợng phá sản thống nhất, sự hợp tác
chặt chẽ giữa các quốc gia để đảm bảo an ninh kinh tế chung trên cơ sở hạn
chế đến mức tối đa những hậu quả bất lợi do phá sản đem lại.
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
Biết rằng, Luật phá sản áp dụng đối với những đôí tợng nào là phụ
thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của mỗi nớc:
Luật phá sản của Anh, Mĩ, úc áp dụng cho tất cả các cá nhân, pháp
nhân bất luận là nhà kinh doanh hay không là nhà kinh doanh nếu không
thanh toán đợc nợ đến hạn đều có thể tuyên bố phá sản.
Luật phá sản Liên Bang Nga áp dụng chỉ với nhà kinh doanh, gồm
doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh mới có thể bị tuyên bố phá sản.
Riêng ở Việt Nam, Luật phá sản thể hiện rõ đặc trng về đối tợng áp
dụng của nó qua tên gọi: Luật phá sản doanh nghiệp. Nh vậy chỉ doanh
nghiệp mới chịu sự chi phối của Luật phá sản. Sở dĩ có qui định nh vậy là khi
xây dựng Luật phá sản chúng ta cho rằng nên tập trung sự quan tâm và các
đối tợng là các doanh nghiệp, bởi lẽ đây là chủ thể kinh doanh chủ yếu trên
thơng trờng, hơn nữa Toà án kinh tế mới đợc thành lập nên ngại rằng việc đa
ra tất cả các cá nhân và nhóm kinh doanh theo Nghị định 66 HĐBT vào
đối tợng điều chỉnh của Luật phá sản thì Toà án kinh tế không thể giải quyết
đợc khối lợng công việc đồ sộ này.
Tuy nhiên, việc đa Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam đi vào thực
tiễn cuộc sống là vấn đề hoàn toàn mâu thuẫn với quan điểm xây dựng luật.
Số vụ việc yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp so với thực tế là
quá ít. Luật có hiệu lực từ năm 1994, trong 6 năm thực hiện, tính đến năm
2000, trên toàn quốc, các Toà án mới chỉ giải quyết cha đầy 100 vụ yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Trong đó số vụ ra quyết định bởi Toà án lại
càng ít. Sở dĩ có tình trạng đó là do rất nhiều nguyên nhân, mà không thể nói

tuyên bố phá sản doanh nghiệp Nhà nớc u tiên cho việc hoà giải tự nguyện
giữa chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ, nhận bảo lãnh và mua lại các khoản nợ
của doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản đợc u tiên giải quyết đến
trớc ngày Toà án có quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá
sản doanh nghiệp.
Thứ hai: Chỉ có T.A.N.D cấp tỉnh trở lên mới có thẩm quyền tuyên bố
phá sản doanh nghiệp. Thẩm quyền sử lý yêu cầu tuyên bố phá sản doanh
nghiệp theo Luật phá sản doanh nghiệp qui định: Chỉ T.A.N.D cấp tỉnh,
T.A.N.D.T.C là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp.
Thứ ba: Nguyên tắc thi hành: phòng thi hành án thuộc sở T pháp, Cục
quản lý thi hành án dân sự thuộc bộ t pháp là cơ quan có thẩm quyền thi hành
quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Thứ t: Nguyên tắc kiểm soát và giám sát việc xử lý yêu câu phá sản.
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trở nên mới có chức năng kiểm soát và giám
sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết việc phá sản doanh
nghiệp theo qui định của pháp luật.
** Thủ tục làm đơn, nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp.
Thứ nhất: Thủ tục làm đơn của chủ nợ: Sau 30 ngày kể từ khi gửi giấy
đòi nợ cùng hạn mà không đợc doanh nghiệp thanh toán, hoặc doanh nghiệp
không trả lơng cho ngời lao động 3 tháng liên tiếp thì các chủ nợ có quyền
viết đơn nộp lên toà án nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.
Thứ hai: Thủ tục làm đơn của chủ doanh nghiệp. Trong trờng hợp đã
thực hiện các biện pháp khắc phục khó khăn về tài chính và để thanh toán các
khoản nợ đến hạn, kể cả hoãn nợ mà doanh nghiệp không thoát khỏi tình
trạng mất khả năng trả nợ đến hạn thì chủ doanh nghiệp hoặc ngời đại diện
hợp pháp của họ làm đơn đến Toà án nơi có trụ sở chính của doanh nghiệp
xin tuyên bố phá sản.
Thứ ba: Trách nhiệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản của Toà

án cũng nh các đơng sự. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đợc quyết
định khác của Chánh Toà kinh tế nếu các bên còn khiếu nại thì Chánh án
TAND cấp tỉnh xem xét. Trong thời hạn 7 ngày phải ra quyết đinh khác,
quyết định lần này có hiệu lực thi hành.
Nh vậy, việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp phải
dựa trên một số nguyên tắc và tuân theo những thủ tục nhất định.
Qua việc khảo sát pháp luật phá sản của một số nớc có nền kinh tế thị
trờng phát triển trên thế giới có thể đi đến kết luận: thủ tục phá sản trong
pháp luật các quốc gia đó rất thống nhất với nhau mặc dù còn rất khác nhau
về mặt nội dung điều chỉnh pháp luật. Sở dĩ nh vậy là pháp luật của
Các nớc đó có những quan niệm tơng đồng về những nhóm lợi ích cần
đợc bảo vệ và phơng pháp bảo vệ một cách có hiệu quả những lợi ích đó bao
gồm các giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thụ tục yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Giai đoạn thứ hai: Giai đoạn điều tra, đánh giá khả năng thanh toán
nợ của doanh nghiệp.
Giai đoạn thứ ba: - Nếu doanh nghiệp có khả năng phục hồi, toà án sẽ
mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp thông việc tổ chức hội nghị chủ nợ. Nếu
hội nghị chủ nợ tổ chức không thành thì toà án sẽ mở thủ tục tiếp theo.
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
- Nếu doanh nghiệp không có khả năng phục hồi, Toà án sẽ mở thủ tục
phá sản nhằm thanh lý tài sản của doanh nghiệp.
Khác với thủ tục phá sản của các nớc kể trên, pháp luật phá sản Việt
Nam đợc thiết kế theo một thủ tục duy nhất áp dụng chung cho tất cả các
doanh nghiệp mắc nợ. Theo đó, việc phục hồi doanh nghiệp thông qua thiết
chế Hội nghị chủ nợ là một thủ tục có tính chất bắt buộc trong trình tự phá
sản của một doanh nghiệp. Và nh vậy, thủ tục phá sản doanh nghiệp ở Việt
Nam trải qua các bớc:

Hội nghị chủ nợ hợp lệ lần 1
( 1/2 số chủ nợ đại diện,
1/3 tổng số nợ ko có bảo
đảm)
Hội nghị chủ nợ hợp lệ lần 2
(chủ nợ đại diện 2/3 tổng số
nợ ko có bảo đảm)
Đình chỉ giải quyết
Hoà giải và đa ra giải pháp tổ chức lại DN
Hoà giải thành và đa ra giải pháp
tổ chức lại DN
Hết hạn hoà giải, vợt quá tình trạng
phá sản và ko có khiếu nại của chủ nợ
Đ
Ă
N
G
B
A
O
( 10
ngày)
Quyết định tuyên bố phá sản DN
Kháng nghị, khiếu nại quyết
định tuyên bố phá sản DN
Ra quyết định phúc thẩm
(Toà Kinh tế T.A.N.D.T.C)
Thi hành quyết định tuyên bố phá sản
DN
Nộp đơn

doanh nghiệp mắc nợ không có sự bảo đảm hoàn trả nợ bằng tài sản của
doanh nghiệp mắc nợ.
Chủ nợ có bảo đảm một phần là chủ nợ có khoản nợ đợc bảo đảm bằng
tài sản của doanh nghiệp mắc nợ mà giá trị tài sản đảm bảo ít hơn khoản nợ
đó.
Chủ nợ có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ đợc bảo đảm bằng tài sản
của doanh nghiệp mắc nợ nh: đã thế chấp cầm cố, bảo lãnh bằng tài sản khi
vay mợn, mua, sang nhợng tài sản khác.
Vậy trong số những chủ nợ này thì những ai có quyền nộp đơn yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo qui định pháp luật. Theo Điều 7 Luật
phá sản doanh nghiệp (30/12/1993) thì chỉ có chủ nợ không có bảo đảm và
chủ nợ có bảo đảm một phần mới có quyền nộp đơn lên Toà án nơi đặt trụ sở
chính của doanh nghiệp để yêu cầu Toà án giải quyết việc tuyên bố phá sản
doanh nghiệp. Nếu sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày gửi giấy đòi nợ đến hạn
mà không đợc doanh nghiệp thanh toán nợ.
Khi nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, chủ nợ phải gửi
kèm theo bản sao giấy đòi nợ, các giấy tờ, các tài liệu chứng minh doanh
nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Và các chủ nợ còn phải nộp tiền
tạm ứng lệ phí trong trờng hợp này theo qui định của pháp luật.
Tuy vậy trên thực tế việc xác định và tiến hành phân loại chủ nợ không
phải là một công việc dễ dàng đối với toà án trong quá trình giải quyết tuyên
bố phá sản doanh nghiệp. Mặt khác thì việc xác định chủ nợ có bảo đảm một
phần dựa trên giá trị tài sản đợc dùng để bảo đảm nghĩa vụ tại thời điểm xác
lập giao dịch, mà nh hiện nay là không phù hợp vì trớc sự vận động và phát
triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trờng thì nó đã gây ra các thiệt hại cho
các chủ nợ. Vì vậy, có lẽ đó chỉ là giải pháp có tính chất quá độ ở nớc ta khi
các thị trờng hình thành cha đồng bộ và đặc biệt là thị trờng về các yếu tố sản
xuất.
Ngời lao động cũng có quyền đệ đơn yêu cầu giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp với tính cách là chủ nợ không có bảo đảm. Điều 8

tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn; kèm theo đơn phải có danh
sách các chủ nợ và số nợ phải trả cho các chủ nợ, địa chỉ của các chủ nợ, bản
tờng trình về trách nhiệm của giám đốc, các thành viên của Hội đồng quản trị
của doanh nghiệp đối với tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, báo
cáo tình hình kinh doanh 6 tháng trớc khi không trả đợc nợ đến hạn, báo cáo
tổng kết 2 năm cuối cùng, nếu doanh nghiệp hoạt động cha đến 2 năm thì gửi
báo cáo tổng kết tài chính của cả thời gian hoạt động và các hồ sơ kế toán
liên quan ( Theo Khoản 2 Điều 9 LPSDN 31/12/1993). Thêm vào đó thì các
doanh nghiệp còn phải nộp tiền tạm ứng lệ phí theo qui định của pháp luật.
Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp khi đã lâm vào tình trạng
phá snả thì hầu hết không đủ điều khiện để thực hiện đúng trình tự theo quy
định của Luật phá sản doanh nghiệp (31/12/1993).
Hơn nữa, khi hớng dẫn các toà kinh tế thuộc Toà án nhân dân cấp tỉnh,
Toà án nhân dân tối cao yêu cầu: mọi trờng hợp khi có đơn tới Toà án để yêu
cầu giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp thì đều phải có xác nhận của
cơ quan kiểm toán đối với báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Khi cha có
xác nhận của cơ quan kiểm toán thì Toà án không mở thủ tục giải quyết yêu
cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Song tài liệu để phục vụ kiểm toán rất
nan giải vì không ít các doanh nghiệp không có hoặc không còn sổ sách kế
toán, đặc biệt là các doanh nghiệp t nhân. Thêm nữa là chi phí kiểm toán rất
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
cao và các doanh nghiệp khi đang lâm vào tình trạng phá sản không có khả
năng nộp khoản lệ phí này nên dẫn đến tình trạng không có tài liệu kiểm
toán. Do vậy trên thực tế, số doanh nghiệp trong tình trạng phá sản rất nhiều
nhng số vụ Toà án thụ lý lại rất ít. Bên cạnh đó thì các Toà án không đủ kinh
phí để chi phí cho việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp,
thậm chí cả chi phí đăng báo, chi phí phục vụ kiểm toán
1.3 Toà án thụ lý và giải quyết:
Theo qui định của luật phá sản doanh nghiệp (31/12/1993): Toà án

Việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đợc tiến hành
thông qua hoạt động của thẩm phán và tổ quản lý tài sản. Tuỳ thuộc tính chất
và qui mô của vụ phá sản, Chánh toà án kinh tế Toà án nhân dân cấp tỉnh chỉ
định một thẩm phán hay tập thể gồm 3 thẩm phán để giải quyết. Trờng hợp
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
chỉ định 3 thẩm phán thì một thẩm phán đợc giao nhiệm vụ phụ trách. Theo
qui định tại Điều 16 LPSDN, thẩm phán có quyền và nhiệm vụ:
* Thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan để lập hồ sơ giải quyết yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
* Giám sát, kiểm tra hoạt động của các nhân viên trong tổ quản lý tài
sản.
* Ra quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trờng
hợp cần thiết theo qui định của pháp luật để đảm bảo tài sản của doanh
nghiệp mắc nợ.
* Triệu tập và chủ trì hội nghị chủ nợ.
* Ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
* Tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
* Nếu phát hiện có dấu hiệu phạm tội thì cung cấp tài liệu cho viện
kiểm sát nhân dân cùng cấp xem xét để khởi tố hình sự.
Về nội dung, quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá
sản doanh nghiệp bào gồm các việc chỉ định tổ quản lý tài sản. Vì vậy, trớc
khi ra quyết định, Chánh toà kinh tế phải có công văn yêu cầu các cơ quan
liên quan cử ngời tham gia tổ quản lý tài sản. Thành phần tổ quản lý tài sản
gồm: Một cán bộ toà án kinh tế thuộc TAND cấp tỉnh làm tổ trởng ( do
Chánh toà kinh tế chỉ định). Một chấp hành viên phòng thi hành án (do trởng
phòng thi hành án chỉ định); Chủ nợ có số tiền nhiều nhất (trờng hợp có
nhiều chủ nợ có số nợ ngang nhau thì chọn trong só đó, cho đến khi Hội nghị
chủ nợ chính thức cử ngời đại diện); Một đại diện cho doanh nghiệp mắc nợ;

điểm ngừng thanh toán nợ là thời điểm doanh nghiệp nhận đợc quyết định
của Toà án về việc mở thủ tục yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Kể từ
thời điểm ngừng thanh toán nợ, nghiêm cấm doanh nghiệp thực hiện các
hành vi: làm giảm giá trị tài sản còn lại; thanh toán nợ không có bảo đảm; cất
giấu, tẩu tán tài sản; từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ; tạo ra nguồn bảo đảm
cho các khoản nợ trớc đây không có bảo đảm. Tuy vậy, để bảo toàn tài sản
của doanh nghiệp mắc nợ một cách hiệu quả, thẩm phán phụ trách việc giải
quyết phá sản trên cơ sở sự đề nghị của tổ quản lý tài sản có thể áp dụng một
số các biện pháp khẩn cấp, tạm thời phù hợp.
2.3 - Đình chỉ các vụ án kinh tế có liên quan.
Theo điểm g khoản 1 Điều 39 pháp luật thủ tục giải quyết các vụ án
kinh tế, Toà án sẽ đình chỉ việc giải quyết các vụ án kinh tế sau khi đã có
quyết định của Toà án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh
nghiệp mà doanh nghiệp đó là đơng sự của vụ án. Vì vậy đã loại bỏ đợc việc
khởi kiện riêng lẻ để thu hồi nợ của các chủ nợ và đảm bảo đợc những mục
tiêu của pháp luật phá sản doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trên thực tế nảy sinh một vấn đề là nếu giữa chủ nợ và
doanh nghiệp mắc nợ có tranh chấp về số nợ thì giải quyết nh thế nào khi Toà
án đã mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ? Hơn
nữa, với qui định nh trên thì việc giải quyết nhằm xác định số nợ giữa doanh
nghiệp mắc nợ và chủ nợ sẽ không thể tiến hành bằng một vụ án với đầy đủ
tất cả các thủ tục tố tụng theo đúng qui định của pháp luật. Phù hợp với thông
lệ quốc tế, pháp luật phá sản Việt Nam giải quyết tranh chấp giữa chủ nợ và
doanh nghiệp mắc nợ theo thủ tục khiếu nại danh sách chủ nợ và đợc thảm
phán phụ trách giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản trực tiệp giải quyết (Điều
22 _ LPSDN _ 31.12.1993). Trong trờng hợp này, chủ nợ có khoản nợ bị
tranh chấp phải gánh chịu sự rủi ro do vụ việc không đợc xét xử theo trình tự
giải quyết một vụ án thông thờng và quyền lợi cá nhân của chủ nợ sẽ phải nh-
ờng chỗ cho mục đích chung của pháp luật PSDN.
3 Phục hồi doanh nghiệp thông qua thiết chế Hội nghị chủ nợ.

nợ của các chủ nợ và ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá
sản doanh nghiệp. Nếu phơng án hoà giải và giải pháp tổ chức lại kinh doanh
của doanh nghiệp đợc hội nghị nhất trí thông qua thì thẩm phán ra quyết định
công nhận biên bản hoà giải thành và tạm đình chỉ việc giải quyết yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
4 Tuyên bố phá sản và thanh lý tài sản của doanh nghiệp.
4.1 Quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Theo Điều 36 LPSDN (30/12/1993), thẩm phán sẽ ra quyết định tuyên
bố phá sản doanh nghiệp trong các trờng hợp:
* Chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp không
có phơng án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp theo Điều 20 LPSDN.
* Chủ doanh nghiệp hoặc ngời đại diện hợp pháp của doanh nghiệp
vắng mặt tại hội nghị chủ nợ để trình bày phơng án hoà giải và giải pháp tổ
chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhng không uỷ quyền cho
ngời khác tham gia hội nghị chủ nợ. Ngoài ra, trong trờng hợp chủ doanh
nghiệp t nhân bị chết mà ngời thừa kế vắng mặt tại hội nghị chủ nợ không có
lý do hoặc từ chối quyền thừa kế.
* Hội nghị chủ nợ không thông qua phơng án hoà giải và giải pháp tổ
chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
* Hết thời hạn tổ chức lại hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp vẫn
kinh doanh không có hiệu quả và các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản doanh
nghiệp.
*Trong thời hạn tổ chức lại kinh doanh, chủ doanh nghiệp t nhân chết
hoặc bỏ trốn mà không có ngời thừa kế.
Bên cạnh đó, trong quyết định tuyên bố phá sản ngoài việc phải đảm
bảo những yêu cầu về mặt thủ tục tại Điều 37 LPSDN, phải nêu rõ phơng án
phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp. Quyết định tuyên bố phá sản phải

quan từ tổ quản lý tài sản; thu hồi và quản lý toàn bộ tài sản cũng nh hồ sơ,
sổ sách kế toán, giấy tờ và con dấu của doanh nghiệp mắc nợ; yêu cầu chấp
hành viên cho thu hồi tài sản do doanh nghiệp đã bán hoặc chuyên giao bất
hợp pháp; tổ chức việc bán đấu giá tài sản và thực hiện việc thanh toán theo
quyết định của thẩm phán. Trong các giao dịch liên quan đến việc yêu cầu
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
tuyên bố phá sản doanh nghiệp, tổ thanh toán tài sản đợc sử dụng con dấu
của phòng thi hành án để làm nhiệm vụ.
* Bàn giao và quản lý tài sản phá giá:
Kể từ thời điểm Toà án ra quyết định tuyên bố phá sản, doanh nghiệp
hoàn toàn mất quyền quản lý tài sản. Tổ quản lý tài sản bảo quản tài sản của
doanh nghiệp cho đến khi hoàn thành việc bàn giao cho tổ thanh toán tài sản.
Việc bàn giao đợc thực hiện theo nguyên tắc bàn giao toàn bộ và chi tiết đến
từng tài sản. Nếu có trờng hợp mất mát h hỏng phải lập biên bản cụ thể cho
từng trờng hợp, ghi rõ lý do và trách nhiệm cá nhân về việc làm mất hay h
hỏng đó. Biên bản bàn giao tài sản có chữ kí của thẩm phán, tổ trởng tổ quản
lý tài sản và tổ trởng tổ thanh toán tài sản.
* Định giá và tổ chức bán đấu giá tài sản:
Về nguyên tắc, phơng án phân chia tài sản do tổ quản lý tài sản đề
nghị, đợc thẩm phán phê chuẩn trong quyết định tuyên bố phá sản và do tổ
thanh toán tài sản thực hiện. Việc thanh toán nợ cho các chủ nợ đợc tiến hành
theo phơng án thanh toán cụ thể từng đợt do tổ trởng tổ thanh toán tài sản mở
tại ngân hàng.
* Phân chia gía trị tài sản phá sản:
Về nguyên tắc, phơng án phân chia tài sản do tổ quản lý tài sản đề
nghị, đợc thẩm phán phê chuẩn trong quyết định tuyên bố phá sản và do tổ
thanh toán tài sản thực hiện. Việc thanh toán nợ cho các chủ nợ đợc tiến hành
theo phơng án thanh toán cụ thể từng đợt do tổ trởng tổ thanh toán lập và
theo thứ tự u tiên do Luật phá sản quy định tại Điều 39:

bảo đầy đủ các điều kiện và phải qua đầy đủ các trình tự thủ tục nhất định
cũng nh các nguyên tắc và các quy định pháp luật cụ thể nh đã trình bày ở
trên.
*** Một số vấn đề thực tiễn trong quá trình thi hành các quyết định
tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Để tiến hành giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Toà
kinh tế TAND cấp tỉnh phải tuân theo những trình tự thủ tục nhất định. Tuy
nhiên, khi một quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp có hiệu lực pháp
luật. Chuyển sang phòng thi hành án lại nảy sinh những tồn tại cần phải giải
quyết. Đó là việc ngời mắc nợ tại doanh nghiệp bị phá sản gửi đơn kiến nghị
đến toà án và cơ quan chức năng khác gây bức súc không đáng có khi cơ
quan thi hành án thi hành quyết định phá sản doanh nghiệp đối với họ.
Thực tế cho thấy những ngời có đơn kiến nghị đó hầu hết là những ng-
ời không đến làm việc theo giấy triệu tập của toà án hoặc có đến nhng lại
không có chứng cứ để chứng minh là mình không nợ ít hơn số liệu trên danh
sách. Do vậy toà án không có cơ sở để thay đổi khoản nợ mà phải căn cứ vào
sổ sách kế toán cũng nh những hồ sơ tài liệu đã đợc cung cấp một cách hợp lệ
để lập danh sách ngời mắc nợ. Nh vậy mọi thủ tục về lập danh sách ngời mắc
nợ tại toà án là đúng pháp luật và có căn cứ hợp lệ và ngời mắc nợ phải có
nghĩa vụ trả nợ đúng nh danh sách toà án đã lập và chuyển cho cơ quan thi
hành án.
Có thể nhận thấy rằng nguyên nhân sâu sa của vấn đề là do ngời mắc
nợ có địa vị, công việc chuyên trách khác nên họ không hiểu rõ về luật pháp
nói chung và luật PSDN nói riêng nên họ đã có những khiếu nại, kiến nghị
không đáng có và không thực hiện nghĩa vụ của mình, gây cản trở cho cơ
quan thi hành án.
III- Một số vấn đề bất cập và hớng hoàn thiện
Luật phá sản doanh nghiệp Một số vấn đề
Luật phá sản doanh nghiệp đợc Quốc hội thông qua ngày 31/12/1993,
có hiệu lực từ ngày 1/7/1994.Tuy hệ thống pháp luật phá sản ở nớc ta đợc ban

là:
Việc thi hành các quyết định về dân sự và kinh tế đã đợc Toà án tuyên
trớc khi có quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản.
Việc giải quyết tranh chấp về dân sự và kinh tế giữa chủ nợ và doanh
nghiệp bị yêu cầu tuyên bố phá sản cha triệt để.
Căn cứ để đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản cha đầy đủ.
Việc giải quyết kiếu nại giữa các bên đối với quyết định không mở thủ
tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp không đợc quy định rõ
ràng, cụ thể.
Quyền khiếu nại danh sách chủ nợ cha đợc qui định rõ.
Vấn đề giám sát, kiểm tra đối với doanh nghiệp trong quá trình tổ chức
lại doanh nghiệp cha đợc qui định chặt chẽ.
Cha có quy định rõ ràng về phơng án phân chia giá trị tài sản còn lại
của doanh nghiệp.
Nhiều qui định của LPSDN, các VB hớng dẫn thi hành và cả những qui
định trong các văn bản pháp luật có liên quan mâu thuẫn nơi nhau: Vấn đề
kiểm toán khi yêu cầu tuyên bố phá sản (có sự khác nhau trong qui định của
LPSDN, Điều 11 NĐ18 và Hớng dẫn của TANDTC); về đối tợng bị tuyên
bố phá sản (có sự khác nhau theo quy định tại: Điều 11 LPSDN, Khoản 1
- Điều 35 Luật TM); về u tiên thanh toán giá trị tài sản còn lại của doanh
nghiệp cho ngời lao động (có sự khác nhau theo quy định tại: Điều 39
LPSDN, Điều 2 NĐ92/CP 19/12/95 và Điều 5 NĐ92/CP, Điều 107
BLLĐ).
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
Nhiều qui định của pl ps có tính thực thi kém do thiếu chế tài cần thiết
hoặc do không có đủ thời gian để thực hiện: không qui định thời gian cụ thể
là bao lâu thì DN phải nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản và cũng không quy
định chế tài đối với trờng hợp DN không thực hiện nghĩa vụ đó; nhiều thời
hạn lại quy định quá ngắn ( Điều 13, Điều 15 và Điều 12).

(Điều 22- Luật PLDN) trong khi có nhiều trờng hợp thẩm phán xét thấy cần
bổ sung, sửa đổi danh sách này. Chẳng hạn: Các chủ nợ vì lý do khách quan,
chính đáng mà không thể gửi giấy đòi nợ tronh thời hạn luật định đẻ có tên
trong danh sách củ nợ; Vì vậy cần phải bổ sung quy định cho phép thẩm
phán bổ sung danh sách chủ nợ cho đến khi trớc lúc có quyết định tuyên bố
phá sản.
Thứ t: Giải quyết tranh chấp giá trị nợ: Luật PSDN 1993, cha có quy
định về việc giải quyết tranh chấp giá trị nợ giữa chủ nợ và con nợ khi lập hồ
sơ, lập danh sách các đối tợng mắc nợ doanh nghiệp. Hậu quả là thực tế đã
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
gây khó khăn, lúng túng cho thẩm phán khi sử lý. Vì vậy cần phải bổ sung
trong luật phá sản doanh nghiệp quy định cho thẩm phán phụ trách việc phá
sản đó có quyền quyết định số nợ có tranh chấp; nếu đơng sự có khiếu nại thì
Chánh án Toà án cấp tỉnh cử tập thể 3 thẩm phán xem xét và ra quyết định
cuối cùng.
Thứ năm: Đối với doanh nghiệp đanh bị Toà án giải quyết phá sản.
Luật PSDN 1993, không có quy định về việc doanh nghiệp đang bị Toà án
giải quyết phá sản là đơng sự phải thi hành các bản án đã có hiệu lực pháp
luật thì có phải chịu các biện pháp cỡng chế thi hành án nh bình thờng hay
không? Cơ quan thi hành án có thể kê biên tài sản của doang nghiệp để thi
hành án trong khi Toà án đang giải quyết phá sản hay không? Do vậy cần bổ
sung quy định trong luật PSDN rằng: Nếu ngời phải thi hành án là DN đang
bị giải quyết phá sản thì các chủ thể đợc thi hành án đợc coi là chủ nợ và
quyền lợi của họ đợc giải quyết nh các chủ thể khác.
Thứ sáu: Giấ trị tài sản còn lại cuă doanh nghiệp bị phá sản . Luật
PSDN 1993, không quy định giá trị tài sản còn của doanh nghiệp bị phá sẩn
là gì và xác điịnh để phan chia nó nh thế nào(Điều 39 LPSDN) nên các thẩm
phán đã có những cách hiểu không giống nhau về giá trị tài sản còn lại và đã
dẫn đến việc phân chia tài sản phá sản vừa không thống nhất, vừa không bảo

mở thủ tục phá sản DN. Theo quy định của pháp luật để Toà ans có thể ra
quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp phải
đảm bảo một số nhữnh yêu cầu nhất định:
Thứ nhất: Về hình thức:
* Chỉ có một số đối tợng nhất định có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
mới có quyền nộp đơn, gồm: Doanh nghiệp mắc nợ, chủ nợ không có bảo
đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và đại diện ngời lao động tại doanh nghiệp
mắc nợ.Toà án trong quá trình giải quyết các vụ án có liên quan, nếu phát
hiện doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản sẽ phải thông báo cho daonh
nghiệp và cchủ nợ biết để nộp đơn.
* Nh vậy chủ nợ có bảo đảm dù biết doanh nghiệp đang lâm vào tình
trạng phá sản dù muốn nộp đơn yêu cầu Toà án mở thủ tục giải quyết PSDN
cũng không có quyền, dẫn đến hậu quả là làm hạn chế, chậm trễ việc mở thủ
tục. Do đó nên quy định tất cả các chủ nợ đều có quyền nộp đơn yêu cầuToà
án tuyên bố PSDN.
* Trong quá trình giải quyết các vụ việc có liên quan, Toà án phát hiện
DN đang lâm vào tình trạng phá sản cũng không có quyền mở thủ tục giải
quyết phá sản đối với doanh nghiệp đó mà phải thông báo cho doanh nghiệp
và các chủ nợ biết để họ làm đơn yêu cầu Toà án tuyên bố PSDN. Thực tế
xảy ra trờng hợp Toà án thông báo nhng không nhận đợc đơn yêu cầu từ chủ
thể nào và Toà án đã không thể mở thủ tục mặc dù biết rõ là doang nghiệp
đang lâm vào tình trạng vô phơng cứu chữa. Do vậy cần thay đổi quy định
rằng: Toà án đợc quyền mở thủ tục phá sản doanh nghiệp đối với những trờng
hợp cần thiết; Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình thực hiện chức năng
truy tố cũng có quyền yêu cầu Toà án mở thủ tục PSDN nếu xét thấy DN đã
lâm vào tình trạng phá sản.
* Tuy đã có quy định là doanh nghiệp phải có nghĩa vụ nộp đơn yêu
cầu Toà án tuyên bố phá sản nếu sau khi đã thực hiện các biện pháp tài chính
mà vẫn không khắc phục đợc tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn,
nhng lại không quy định thời hạn cho việc nộp đơn và biện pháp chế tài đối

Có thể nói đây là điều kiện quan trọng nhất mang tính quyết định đối
với việc mở thủ tục PSND. Điều 1- LPSDN 1993 quy định thủ tục giải quyết
yêu cầu tuyên bố PSDN chỉ đợc mở khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá
sản đợc cụ thể hoá trong Điều 2 LPSDN và Điều 3- NĐ 198- CP hớng dẫn thi
hành LPSDN. Song tại những quy định đó nổi lên 3 vấn đề :
* Một là: Về mặt thuật ngữ thì cha minh bạch giữa hai khái niệm :
tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và tình trạng phá sản .
* Hai là: Về mặt kỹ thuật lập pháp thì các nội dung nêu trong định
nghĩa vừa thừa lại vừa thiếu. Thừa vì quy định quá cụ thể: Nêu ra cả nguyên
nhân dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp, nhng lại
thiếu do không bao quát các tình huống có thể xẩy rả trong thực tế (sau định
nghĩa) về nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán nợ của
doanh nghiệp. Bởi vì thực tế cho thấy, ngoài hai nguyên nhân đã nêu trong
định nghĩa thì đối với những trờng hợp mà doanh nghiệp không thể trả đợc
nợ đến hạn vì những nguyên nhân khác, nh: Mất khách hàng quan trọng, thị
trờng tiêu thụ sản phẩm bị đóng băng, thì có đợc toà án ra quyết định mở
thủ tục tuyên bố phá sản hay không? Vì vậy, trong định nghĩa không nên đa
ra các nguyên nhân cụ thể gây ra tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến
hạn mà nêu ra một cách bao quát các đặc trng của tình trạng này.
*Ba là: Thời điểm mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản so
với mục tiêu u tien của thủ tục là cứu sống DN là quá chậm. (DN phải làm
ăn thua lỗ trong hai năm liêm tiếp đến mức không thể trả đợc các khoản nợ
đến hạn, không trả lơng cho ngời lao động trong ba tháng liên tiếp) Vậy nên
đã làm đẩy lùi thời điểm mở thủ tục giải quyết PSDN và là kẽ hở cho các
doanh nghiệp trì hoãn nộp đơn yêu cầu tuyên bố PSDN. Do vậy việc xác định
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42
Đề án môn học PLKDVN Thủ tục phá sản doanh nghiệp
mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố PSDN nên sửa đổi lại cho hợp lý và
kịp thời. (Nếu mở thủ tục sớm quá thì sẽ làm triệt tiêu sự năng động sáng tạo
của các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh và làm lẵng phí

không có nghĩa là quyết định đó đã có hiệu lực thi hành- quyết định đó sẽ đ-
ợc Toà phúc thẩm TANDTC xem xét lại nếu có khiếu nại, kháng nghị của
các chủ nợ và doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản( nếu trong thời hạn 30 ngày
kể từ ngày có quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp ) Vì vậy nên sửa
lại là: Kể từ thời điểm quyết định tuyên bố PSDN có hiệu lực thi hành, DN
mất quyền quản lý tài sản, tổ quản lý tài sản thực hiện viẹc bảo vệ tài sản cho
đến khi hoàn thành việc bàn giao tài sản cho tổ thanh toán tài sản.
Thứ t: Về nộp lệ phí: Khoản 3 điều LPSDN quy định ngời nộp
đơn phải nộp tiền tạm ứng lệ phí. Nhng sau khi có quyết định mở thủ tục
giải quyết yêu cầu tuyên bố PSDN thì các chủ nợ đợc gửi giấy đòi nợ DN lại
SV. Vũ Thị Vân Huyền Lớp: Luật Kinh doanh - K42


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status