đề án môn học pháp luật kinh doanh
Lời Mở Đầu
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng hiện nay, các quan hệ kinh tế đợc
xây dựng trên những nguyên tắc và quy luật vốn có của nền kinh tế thị trờng.
Muốn phát triển nền kinh tế thị trờng cần tổ chức và điều chỉnh các quan hệ
kinh tế bằng pháp luật, hạn chế tối đa những trở ngại đối với tự do hoá kinh
tế tức là đảm bảo đợc quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật.
Để đáp ứng yêu cầu đó của nền kinh tế thị trờng đồng thời để tiếp tục
hoàn thiện môi trờng pháp lý doanh nghiệp, phát huy nội lực phát triển kinh
tế, từng bớc hội nhập với nền kinh tế quốc tế, luật doanh nghiệp đợc ban hành
.
Luật doanh nghiệp ra đời mở ra nhiều cơ hội mới cho sự phát triển
kinh tế đồng thời thể hiện chủ trơng cải cách hành chính theo hớng đảm bảo
quyền tự do kinh doanh, giảm tối đa thủ tục hồ sơ rờm rà, phức tạp và tốn
kém trong việc đăng ký thành lập doanh nghiệp cũng nh mở rộng quy mô, đa
dạng hoá ngành nghề kinh doanh.
Tuy nhiên trong luật doanh nghiệp, những văn bản hớng dẫn luật doanh
nghiệp, những quy phạm pháp luật ở những văn bản quy phạm khác vẫn còn
những điểm cha thống nhất cần đợc nghiên cứu hoàn chỉnh đảm bảo sự đồng
bộ của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành ở nớc ta.
Vì vậy tôi đã chọn đề tài này: một số vấn đề pháp lý về ngành nghề
kinh doanh trong chế độ đăng ký kinh doanh theo luật doanh nghiệp làm đề
án môn học pháp luật kinh doanh Việt Nam.
Bài viết này, tôi đi sâu nghiên cứu một khía cạnh pháp lý của những bất
cập nói trên đó là vấn đề ngành nghề kinh doanh trong đăng ký kinh doanh.
Đây la, một vấn đề cực ký quan trọng trong đăng ký kinh doanh hiện nay và
cũng tạo ra rất nhiều trang cãi.
Tôi xin chân thành cảm ởn sự hỡng dẫn tận tình của thầy Phạm Văn
Luyện để đề án có thể hoàn thanh. Mặc dù vậy vì thời gian nghiên cứu và khả
năng có hạn nên bài viết chắc chắn còn nhièu thiếu sót rất mong nhận đợc ý
kiến đóng góp chỉ bảo của thầy Luyện và toàn thể bạn đọc đợc bài viết đợc
Điều 172 bộ luật dân sự quy định: tài sản bao gồm vật có thực tiền, giấy
tờ trị giá đợc bằng tiền và các quyền về tài sản.
Tài sản để thành lập doanh nghiệp phải thuộc quyền sở hữu của ngời
thành lập doanh nghiệp hình thức của tài sản tỳ theo loại hình doanh nghiệp,
có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử
dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài
sản khac ghi trong điều lệ của doanh nghiệp. Trừ tiền mặt (tiền Việt Nam và
ngọi là lệ chuyển đổi) và vàng, các hình thức tài sản khác phải đợc đánh gía
theo quy định của pháp lụât.
Điều 23.2 quy định: đối với tài sản góp vốn voà doanh nghiệp khi
thành lập, thì tất cả thành viên sáng lập là ngời định giá các tài sản đó. Giá trị
các tài sản góp vốn phải đợc thông qua theo nguyên tắc nhất trí.
2
đề án môn học pháp luật kinh doanh
Tài sản đa voà thành lập doanh nghiệp tạo thành vốn đầu t hoặc vốn
điều lệ của doanh nghiệp .
12.1.2.Vốn đầu t ban đầu.
Vốn đầu t ban đầu là vốn mà chủ doanh nghiệp t nhân bỏ ra để thành
lập doanh nghiệp.
Vốn đầu t ban đầu chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp t nhân vì doanh
nghiệp t nhân là một đơn vị kinh doanh do một ngời bỏ vốn thành lập và làm
chủ.
12.1.3.Vốn điều lệ.
Vốn điều lệ là vốn do tất cả thành viên của doanh nghiệp góp và đợc ghi
trong điều lệ của doanh nghiệp.
12.1.4.Vốn pháp định
Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật
để thành lập doanh nghiệp .
Theo quy định của luật doanh nghiệp 1999 chỉ có một số ít ngành nghề
kinh doanh phải có đủ mức vốn pháp định nh kinh doanh chứng khoán, bảo
Cán bộ, công chức nhà nớc theo quy định của pháp luật về cán bộ công
chức;
Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong các cơ
quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân, sĩ quan hạ sĩ quan chuyên nghiệp
trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân;
Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp nhà nớc,
trừ những ngời đợc cử làm đại điện quản lý phần vốn góp của nhà nớc
tại doanh nghiệp khác;
Ngời cha thành niên; ngời thành niên bị hạn chế hoặc bị mất năng lực
hành vi dân sự;
Ngời đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành
hình phạt tù hoặc bị toà án tớc quyền hành nghề vì vi phạm các tội buôn
lậu, làm hàng giả, buôn bán hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế,
lừa đối khách hàng và các tội khác theo quy định củ pháp luật;
Chủ doanh nghiệp t nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh,
giám đốc (tổng giám đốc), chủ tịch và các thành viên hội đồng quản trị,
hội đồng thành viên của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản không đợc
quyền thành lập doanh nghiệp, không đợc làm ngời quản lý doanh
nghiệp trong thời hạn từ một đến ba năm, kể từ ngày doanh nghiệp bị
tuyên bố phá sản, trừ trờng hợp quy định tại luật phá sản doanh nghiệp;
Tổ chức nớc ngoài, ngời nớc ngoài không thừơng trú tại Việt Nam.
Quyền góp vốn vào công ty đợc pháp luật quy định rộng hơn, chỉ trừ hai
trờng hợp sau đay (điều 10 luật doanh nghiệp đã dẫn):
Cơ qua nhà nớc, đơn vị vũ trang sử dụng tài sản nhà nớc và công quỹ
góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan đơn vị mình.
Các đối tợng không đợc quyền góp vốn theo quy định pháp luật về
cán bộ công chức.
Tài sản và công quỹ nhà nớc gồm (khoản 3 điều 9 nghị định
03/2000/NĐ-CP)
Tài sản đợc mua sắm bằng vốn ngân sách nhà nớc;
quyền chủ động đặt tên cho doanh nghiệp của mình nhng phải bảo đảm các
điều kiện sau đây: (điều 24 luật doanh nghiệp ).
1.2.4.1.Tên của doanh nghiệp phải bảo đảm.
Không trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã
đăng ký kinh doanh ;
Không vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong
mỹ tục của dân tộc;
Phải viết bằng tiếng việt và có thể viết thêm bằng một hoặc một số
tiếng nớc ngoài với khổ chữ nhỏ hơn;
5
đề án môn học pháp luật kinh doanh
Ngoài các quy định trên, thì còn phải ghi rõ loại hình doanh nghiệp
theo quy định của pháp luật : công ty trách nhiệm hữu hạn cụm từ trách
nhiệm hữu hạn viết tắt là trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần từ cổ
phần viết tắt là cp, công ty hợp danh từ hợp danh viết tắt là hd, doanh
nghiệp t nhân từ viết tắt là tn.
1.2.4.2.Trụ sở của doanh nghiệp phải có trên lãnh thổ việt nam, phải có
địa chỉ đợc xác định, gồm số nhà, tên phố (ngõ phố) hoặc tên thôn,
xã phờng, thị tấn, quận huyện, thị xã thành phố thuộc tỉnh, thành phố
trực thuộc trrung ơng, số điện thoại và số fax (nếu có).
1.2.4.3.Doanh nghiệp phải có con dấu riêng theo quy định của chính
phủ.
2. Sự đổi mới về quy chế thành lập doanh nghiệp theo luật doanh
nghiệp so với luật công ty và luật doanh nghiệp t nhân 1990
2.1.Thủ tục thành lập doanh nghiệp theo luật công ty và luật doanh
nghiệp t nhân 1990
2.1.1.Xin phép thành lập doanh nghiệp
Để thành lập đợc doanh nghiệp trớc hết ngời lập doanh nghiệp phải làm
đơn xin thành lập doanh nghiệp với đầy đủ các nội dung mà pháp luật yêu
cầu gửi đến cơ quan nhà nớc có thẩm quyền tuỳ theo từng loại hình doanh
báo địa phơng nơi đặt trụ sở chính về việc thành lập doanh nghiệp. Nội dung
thông báo là các dữ liệu cơ bản của doanh nghiệp.
2.2.Những bất cập trong thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp
theo luật công ty và luật doanh nghiệp t nhân 1990-hớng giải
quyết.
2.2.1.Theo quy định hiện hành của luật công ty và luật doanh nghiệp
t nhân 1990 để thành lập doanh nghiệp, nhà đầu t phải thực hiện
thủ tục qua hai giai đọan: xin phép thành lập và đăng ký kinh
doanh. Trong mỗi giai đoạn, nhà đầu t phải làm đủ từ 8-10 giấy
chứng nhận khá nhau. Nh vậy để thành lập đợc một doanh nghiệp
, nhà đâu t phải xin đợc khoảng gần 20 loại giấy tờ và con dấu
khác nhau. Đối với mỗi loại giấy chứng nhận, họ có thể phải đến
cơ quan nhà nớc 2 lần, mỗi lần đến xin và một lần đến để
cho một số tỉnh thành phố còn đặt ra những điều kiện và một
số trình tự thủ tục và giấy tờ trái với quy định của pháp luật .
Do thủ tục phiền hà nên thời gian cần thiết bình quân để thành lập một
công ty khoảng vài tháng . Ngoài ra nhà đầu t còn phải trả một khoản phí phi
chính thức không nhỏ. Qua trao đổi với cộng đồng doanh nghiệp Việt nam ,
thì chủ phí để thành lập một doanh nghiệp không ít hơn 10 tiệu đồng Việt
nam cha kể chủ phí đi lại
Trongkhi đó ở hầu hết các nớc trên thếa giới thủ tục để thành lập doanh
nghiệp hết mức đơn giản và ngời đầu t chỉ thực hiện một thủ tục duy nhất là
đăng ký thành lập doanh nghiệp với một chủ phí không đáng kể, ví dụ ở các
bang của hoa kỳ, canada thời gian cần thiết để thành lập xong một công ty
không quá một ngày với chủ phí không quá 100$. Ngời muốn thành lập công
ty ở những nớc đó không phải trực tiếp đến cơ quan đăng ký kinh doanh mà
có thể uỷ quyền cho ngời khác hoặc chỉ cần gọi điện thoại hoặc gửi hồ sơ qua
bu điện đến cơ quan nói trên.
Thủ tục phiền hà và tốn kém đã làm nản lòng không ít các nhà đầu t
muốn thành lập doanh nghiệp, thúc đẩy họ thực hiện kinh doanh ngầm, hoặc
và điều hành hoạt động kinh doanh phải có trình độ chuyên môn
tơng ứng mà pháp luật đòi hỏi với một số ngành nghề .
2.2.4.Mọi ngời đều có thể thống nhất rằng, cả 3 điều kiện trên đều
không rõ ràng cụ thể. Tuy vậy vấn đề đáng nói hơn là liệu có thể
cụ thể hó và rõ ràng hoá đợc các điều kiện nói tên hay không!
tiêu chẩu nào có thể đợc sử dụng để xác định tính chất rõ ràng
của ngành nghề kinh doanh? Thực tiễn thi hành luật và kinh
nghiệm quốc tế cho thấy rằng không thể tìm ra câu trả lời hợp lý,
có căn cứ cho câu hỏi trên. Để lợng hoá đợc tiêu chuẩn thứ hai,
trên thực tế, chúng ta đã áp dụng nguyên tắc tối thiểu. Tuy nhiên
kinh nghiệm những năm qua cho thấy, không có căn cứ để xác
định quy mô tối thiểu của ngành nghề kinh doanh. Chính việc
cho phép tồn tại doanh nghiệp dới vốn pháp định đã phủ nhận
quy mô tối thiểu của hoạt động kinh doanh. Tất cả các quy định
về quy mô và ngành nghề đều mang tính chủ quan, ớc đoán.
Khi tiêu chuẩn quy định không rõ ràng, không có căn cứ, thì ngời ta có
cơ sở để nghi ngờ về mục tiêu của nó cũng nh về khả năng đạt đợc mục tiêu
8
đề án môn học pháp luật kinh doanh
đó. Do quy định mang tính chủ quan, ớc đoán, nên nhiều ngành nghề kinh
doanh đã không đợc ghi trong văn bản pháp luật hoặc giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh do ngành nghề mà họ muốn kinh doanh không đợc kê trong
văn bản hớng dẫn thi hành luật.
2.2.5.Hớng giải quyết.
Hồ sơ cần thiết cho việc thành lập doanh nghiệp chỉ còn đơn đăng ký
thành lập công ty va điều lệ công ty, loại bỏ các giấy tờ còn lại cụ thể là:
2.2.5.1.Baĩ bỏ chế định xin phép thành lập công ty, chỉ còn thực hiện
đăng ký thành lập công ty.
2.2.5.2.Hồ sơ đăng ký thành lập công ty chỉ còn bao gồm đơn yếu
cầu đăng ký tành lập công ty và điều lệ công ty. Tất nhiên nội
quản lý và hoạt động của công ty. Nội dung của điều lệ công ty đợc quy
định cho từng loại công ty (điều 10 nghị định 03/2000/NĐ-CP).
Doanh sách thành viên (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai
thành viên trở lên và công ty hợp danh) hoặc danh sách cổ đồng sáng
lập (đối với công ty cổ phần). Nội dung của các bản danh sách đợc quy
định tại điều 11 nghị định 03/2000/NĐ-CP(đã dẫn).
Đối với doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề đòi hỏi phải có vốn
pháp định thì hồ sơ đăng ký kinh doanh còn phaỉ có thêm văn bản xác
nhận về vốn pháp định của cơ quan tổ chức có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật .
Đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề mà pháp luật quy định có
chứng chỉ hành nghề thì còn phải có thêm bản sao hợp lệ chứng chỉ hành
nghề đối với một trong những ngời quản lý doanh nghiệp (quy định tại điều
12 luật doanh nghiệp).
Hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp đợc nộp taị phòng đăng ký
kinh doanh trong sở kế hoạch và đầu t cấp tỉnh mà doanh nghiệp định đặt trụ
sở chính. Nếu doanh nghiệp có đủ các điều kiện kinh doanh (điều 17 luật
doanh nghiệp đã dẫn) thì trong thời gian 15 ngày kể từ ngày hồ sơ đợc tiếp
nhận, doanh nghiệp sẽ đợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Kết từ
ngày đợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp có quyền
hoạt động kinh doanh.
2.3.2.Thông báo thành lập doanh nghiệp .
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, việc cung cấp cho công chúng
những thông tin về sự ra đời của một thực thể kinh doanh là hết sức cần thiết.
Do đó luật doanh nghiệp quy định việc công bố nội dung đăng ký kinh
doanh là một bắt buộc đối với doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp (đã dẫn)
quy định: trong thời hạn là 30 ngày, kế từ ngày đợc cấp giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải đăng báo địa phơng hoặc báo hàng
ngày của trung ơng trong ba số báo liên tiếp về các nôị dung chủ yếu sau
đây:
ngành nghề kinh doanh có điều kiện còn lại, nhà kinh doanh có quyền tự do
lựa chọn.
Tuy nhiên sự tự do trong khuôn khổ và đi đúng pháp luật thì ngời
thành lập doanh nghiệp phải đăng ký ngành nghề kinh doanh khi đăng ký
kinh doanh thành lập doanh nghiệp . Vì nếu làm nh vậy nhà nớc sẽ quản lý đ-
ợc nền kinh tế một cách chặt chẽ và dễ dàng từ đó có sự điều tiết đúng hớng.
Đồng thời cũng là để ngăn ngừa sự kinh doanh trái phép (kinh doanh những
ngành nghề mà pháp luật cấm) và có sự quản lý chặt chẽ với một số ngành
nghề kinh doanh phải có điều kiện, có vốn pháp định và ngành nghề kinh
doanh phải có chứng chủ hành nghề.
2. Các quy định về ngành nghề kinh doanh trong luật doanh nghiệp
1999
Ngời thành lập doanh nghiệp doanh nghiệp phải có lĩnh vực kinh doanh
rõ ràng . Quy định điều kiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý
nmhà nớc đối với hoạt động kinh doanh và vai trò điều tiết , định hớng đối
với việc phát triển nền kinh tế quốc dân.
2.1.Ngành nghề cấm kinh doanh .
Những ngành nghề bị pháp luật cấm kinh doanh là những ngành nghề
gây phơng hại đến quốc phòng an ninh , trật tự , an toàn xã hội, truyền thống
lịch sử , văn hoá đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt nam và sức khẻo nhân
dân. Chính pủ đã cụ thể hoá 11 ngành nghề cấm kinh doanh từ điều 3 nghị
định số 03/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 bao gồm:
11
đề án môn học pháp luật kinh doanh
Kinh doanh vũ khí, đạn dợc, quân trang, quân dụng và phơng tiện kỹ
thuật quân sự chuyên dùng của các lực lợng vụ trang;
Kinh doanh chất nổ , chất độc hại, chất phóng xạ;
Kinh doanh chất ma tuý;
Kinh doanh mại dâm, dịch vụ tổ chức mại dâm, buôn bán phụ nữ , trẻ
em;
đó không có hiệu lực thi hành.
12