Đề án môn học: Hoạt động kinh doanh của công ty Toyota tại thị trường Việt Nam - Pdf 23

Đề án môn học
LỜI MỞ ĐẦU

Ngành công nghiệp ô tô là một ngành công nghiệp còn non trẻ. Chính phủ
đang tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho cả các doanh nghiệp trong nước lẫn các
doanh nghiệp FDI để cùng phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn này. Là một
nước đang trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị
trường, Chính phủ Việt Nam đang dần hoàn thiện những chủ trương, chính sách
của mình. Tuy nhiên với đặc điểm của một nước đang chuyển đổi, bên cạnh việc
tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp, không ít những chủ trương, chính
sách, hay sự điều tiết của Chính phủ đã và đang gây ra những trở ngại cho các
doanh nghiệp nói chung và cho các doanh nghiệp trong ngành sản xuất, lắp ráp ô
tô nói riêng.

Toyota Motor Corp là công ty ô tô lớn nhất Nhật Bản và lớn thứ hai thế
giới. Qua quá trình tìm hiểu thị trường, công ty đã quyết định đầu tư trực tiếp vào
Việt Nam năm 1995. Sau hơn 10 năm hoạt động kinh doanh, bên cạnh những
thành công rất đáng tự hào, công ty cũng gặp nhiều khó khăn trước những sự thay
đổi trong chính sách điều tiết vĩ mô của chính phủ Việt Nam hay phải thích nghi
với chính những đặc điểm kinh tế, pháp luật của một nước có nền kinh tế chuyển
đổi. Trên cơ sở nghiên cứu quá trình hoạt động kinh doanh của công ty Toyota Việt
Nam từ năm 1996 đến nay, việc nghiên cứu đề án“Hoạt động kinh doanh của
Toyota tại thị trường Việt Nam” có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm hiểu
những khó khăn cũng như những biện pháp mà công ty sử dụng để ứng phó với
những khó khăn đ
CHƯƠNG I
QUÁ TRèNH HèNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CễNG
TYTOYOTA VIỆT NAM
1.1. GIỚI THIỆU VỀ CễNG TY TOYOTA VIỆT NAM (TMV)
Công ty TNHH Liên Doanh Ô tô Toyota Việt Nam (gọi tắt là công ty Toyota
Việt Nam) là một doanh nghiệp liên doanh giữa ba đối tác là Tập đoàn Ô tô Toyota

tung ra thị trường ô tô Việt Nam dòng xe Hiace (10/1996). Nhờ chất lượng, kiểu
dáng và mẫu mã khá phù hợp, Hiace đời đầu tiên đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị
trường xe thương mại. Khởi đầu với kết quả bán hàng là 109 chiếc trong năm đầu
tiên, cho đến hết năm 2007, dòng Hiace (sau khi cải tiến, TMV đã đưa raxe Hiace
với 3 phiên bản khác nhau) này đã đạt được thành tích bán hàng cao nhất trong
phân khúc thị trường xe thương mại với doanh số bán cộng dồn lên tới gần
13.000xe. Tiếp nối thành công này, TMV tiếp tục cho xuất xưởng dòng xe du lịch
nhãn hiệu Corolla, đến nay hơn 14. 000 chiếc đã được tiêu thụ.
TMV chủ yếu kinh doanh dòng xe đa dụng, dòng xe sedan (xe 5 chỗ) và
dòng xe thương mại. Các mẫu xe Camry, Vios, Land Cruiser, Innova lần lượt được
TMV giới thiệu tại thị trường Việt Nam. Với phương châm “Khỏch hàng là trên
hết”, Toyota sẽ không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng sản, chính vì vậy, dù giá
xe của TMV khá cao so với các đối thủ cạnh tranh nhưng TMV vẫn luôn chiếm
được sự tin tưởng và hài lòng của khách hàng. Với chính sách như vậy TMV đã đạt
tới mức tiêu thụ kỷ lục, dẫn đầu ngành sản xuất và lắp ráp ô tô Việt Nam.

Hình 1.1: Mức tiêu thụ ô tô của TMV trên thị trường Việt Nam giai đoạn từ
2005 đến 9/ 2008 (Đơn vị: chiếc)
Một bước đi mới của TMV là đưa vào thị trường Việt Nam các dòng xe với
hệ thống công nghệ hybrid hiện đại - Toyota Hybrid Synergy Drive và chiếc Vios
1.5E - mẫu xe sedan tiết kiệm nhiên liệu nhất của Toyota tại Việt Nam. Dòng xe
này gây được chú ý và sự yêu thích của người tiêu dùng bởi ngoài khả năng tiết
kiệm nhiên liệu, nú còn được đánh giá là mẫu xe có lượng khí thải carbonic thấp
thứ hai thế giới, rất thân thiện với môi trường. Kết quả cuộc khảo sát mới đây cho
thấy, trong danh sách những chiếc Hybrid đang có mặt trên thị trường Việt Nam thì
Toyota Prius là chiếc xe Hybrid tốt nhất và được ưa chuộng nhất. So với những
chiếc xe cùng phân hạng thì Toyota Hybrid xứng đáng là ngôi sao sáng giá nhất
hiện nay. Trước khi đưa vào thị trường Việt Nam, doanh sốbán của mẫu
xe Toyota Prius đã vượt ngưỡng 1 triệu chiếc
Toyota VN cũng được đánh giá là nhà sản xuất ô tô đầu tiên thực hiện lộ

nhiều thành tựu to lớn và tăng trưởng nhanh chóng, hoàn thành sứ mệnh của mình
đối với khách hàng, tiên phong trong mọi lĩnh vực, đồng thời đóng góp đáng kể
cho ngành công nghiệp ô tô và xã hội Việt Nam. Với những nỗ lực vượt bậc, TMV
đã giữ vững vị trí dẫn đầu trong thị trường ô tô kể từ năm 1998 với tổng số sản
xuất và bán hàng cộng dồn hơn 90. 000 xe, đạt thị phần xấp xỉ 30%. Hơn nữa,
TMV còn luôn đi tiên phong trong việc phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt
Nam và ngành công nghiệp phụ trợ bằng việc đưa công nghệ dập vào Việt Nam,
khai trương Trung tâm Xuất khẩu phụ tùng ô tô đầu tiên và mời gọi các nhà cung
cấp của Toyota đầu tư vào Việt Nam. Không chỉ là nhà sản xuất ô tô đứng đầu thị
trường ô tô Việt Nam, TMV còn luôn tích cực đóng góp cho xã hội Việt Nam với
mực tiêu cùng Việt Nam hướng tới tương lai. Cho đến nay, TMV đã đóng góp trên
10 triệu đô la Mỹ thông qua nhiều hoạt động đóng góp xã hội trong mọi lĩnh vực
như: giáo dục, văn hoá, thể thao, môi trường, an toàn giao thông, thực hiện tốt
nghĩa vụ địa phương, tích cực tham gia phong trào đến ơn đáp nghĩa, xây dựng nhà
tình nghĩa, chăm sóc phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, đóng góp giúp đỡ
đồng bào bị thiên tai… Chính từ những cố gắng không ngừng đó mà thành công
của TMV đã được Chính phủ Việt Nam và các tổ chức Quốc tế ghi nhận:
1999 : Nhà sản xuất ô tô đầu tiên nhận chứng chỉ ISO 14001 về thiết lập &
áp dụng hệ thống quản lý môi trường
2000 : Nhận Bằng khen của Thủ Tướng Chính Phủ về những thành tích và
đóng góp tích cực cho ngành công nghiệp ô tô và xã hội Việt Nam
2005 : Nhận Huân chương Lao động hạng 3 do Chủ tịch nước CHXHCN
Việt Nam trao tặng
2006 : Nhận giải thưởng Doanh nghiệp xuất khẩu xuất sắc do Ủy ban Quốc
gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế, Bộ thương mại và 53 Thương vụ Việt Nam tại các
nước, vùng lãnh thổ xét chọn.
2001 – 2008 : 7 năm liên được giải thưởng Rồng Vàng (giải thưởng của
Thời báo Kinh tế Việt Nam) cho sản phẩm chất lượng cao được người tiêu dùng ưa
chuộng.


2006; 50% vào 2007; 55% vào 2008 và 60% vào 2010.
- Với các loại ôtô cao cấp (Xe du lịch do liên doanh sản xuất) đạt tỷ lệ
NĐH 20%-25% vào 2005; 30%-35% vào 2007 và 40%-45% vào
2010.
- Xe buýt cao cấp đạt tỷ lệ NĐH 20% vào 2005; 30% vào 2007; 35%-
40% vào 2010.
- Đối với động cơ đạt tỷ lệ NĐH 30% vào năm 2005; 35% vào năm
2006; 40% vào năm 2007; 45% vào năm 2008 và 50% vào năm 2010.
- Hộp số đạt 65% vào năm 2005; 70% vào 2006; 75% vào năm 2007;
80% vào 2008 và 85% vào 2009 và 90% vào 2010.
Theo Toyota Việt Nam nói riêng và hiệp hội VAMA nói chung, phương pháp
tính theo giá trị đang được các nước ASEAN áp dụng, vì vậy, Việt Nam nên áp
dụng để hài hũa với khu vực. Trước kia, phương pháp tính theo điểm đã được áp
dụng ở một số quốc gia thuộc ASEAN, tuy nhiên nú đã bị bãi bỏ hoàn toàn vào
năm 2000 và chuyển sang tính theo giá trị. Phương pháp này đã trở thành tiêu
chuẩn chung của khối ASEAN để xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng húa xuất
nhập khẩu theo Hiệp định về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung CEPT (Hàng húa
xuất khẩu từ một quốc gia thuộc ASEAN sang các quốc gia ASEAN khác sẽ được
hưởng mức thuế ưu đãi 5% theo CEPT nếu có 40% hàm lượng ASEAN).
Việt Nam muốn áp dụng cách tính theo điểm thì bước tiếp theo là phải thuyết
phục các quốc gia ASEAN khác công nhận phương pháp đó. Nếu không, Việt Nam
sẽ không được hưởng ưu đãi theo CEPT khi xuất khẩu ôtô hoặc phụ tùng sang các
nước ASEAN khác, trong khi vẫn phải chấp nhận cho các nước này hưởng CEPT.
TMV sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi cùng một lúc phải tuân thủ cả hai
phương pháp tính tỷ lệ NĐH: vừa theo điểm như Việt Nam quy định, lại vừa theo
giá trị được quốc tế công nhận. TMV cho rằng phương pháp tính theo điểm là thiếu
thực tế vì không tính đến các chi phí sản xuất, được thừa nhận rộng rói trong quy
tắc xác định nguồn gốc xuất xứ hàng húa của AFTA/CEPT, như khấu hao và công
lao động.
Tuy nhiên theo Bộ Khoa học và Công nghệ nếu áp dụng cách tính tỷ lệ

tăng thuế đối với mặt hàng linh kiện, phụ tùng ôtô nhập khẩu thêm 5-10% so với
hiện hành. Các mức thuế này áp dụng cho các tờ khai hải quan bắt đầu từ 20/6.
Trước động thái này, liên doanh ôtô có thị phần lớn nhất Việt Nam tăng giá xe từ
100 USD đến 1. 000 USD cho hầu hết các sản phẩm.
Mẫu xe Giá cũ Giá mới Mức tăng
(USD) (USD) (USD)
Innova G 30. 100 30. 600 500
Innova J 27. 100 27. 600 500
Vios 1. 5 G 29. 200 29. 300 100
Vios 1. 5 E 26. 400 26. 800 400
Corolla Altis 1. 8MT 34. 900
Corolla Altis 1. 8AT 37. 200
Camry 2. 4 G 51. 100 52. 100 1. 000
Camry 3. 5 Q 66. 600 67. 600 1. 000
Hiace (diesel) 32. 000 32. 500 500
Hiace (xăng) 33. 900 34. 400 500
Hiace super wagon 37. 600 38. 100 500

- Thuế nhập khẩu ô tô mới nguyên chiếc

Thuế suất đới với ô tô nguyên chiếc phải cắt giảm theo lộ trình và đã giảm từ
mức 100% xuống còn 90% từ tháng 11/2005. Trong năm 2007, Bộ Tài chính tiến
hành 3 đợt giảm thuế với hy vọng hạ nhiệt giá bán xe trong nước. Tại thời điểm
VN gia nhập WTO hồi tháng 1/ 2007, các loại ôtô mới nguyên chiếc được giảm từ
mức 90% xuống còn 80%. Hồi tháng 8/ 2007, thuế được cắt giảm tiếp xuống còn
70% và vào ngày 16/11/2007, thuế suất đối với ôtô mới nguyên chiếc còn 60%.
Chính sách thuế thuận lợi đã tạo đà cho xe ngoại ồ ạt đổ bộ về thị trường. Theo số
liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, chỉ tính riêng 2 tháng đầu năm 2008, lượng
xe nhập khẩu về thị trường đã đạt con số gần 6. 000 xe, bằng doanh số của cả 8
tháng đầu năm 2007 cộng lại. TMV đã gặp rất nhiều sự cạnh tranh trong thời gian

(USD/chiếc)
Mức giảm
(%)
Từ 8/ 8/ 07
(USD/chiếc)
Mức
giảm
(%)
Xe từ 5 chỗ ngồi trở xuống,
kể cả lái xe, có dung tích xi
- lanh động cơ:

Dưới 1. 0 3. 000 3. 000 0% 3. 000 0%
Từ 1. 0 đến 1. 5 7. 000 6. 300 10% 6. 300 10%
Từ 1. 5 đến 2. 0 10. 000 8. 500 15% 8. 075 5%
Từ 2. 0 đến 2. 5 15. 000 12. 000 20% 11. 400 5%
Đề án môn học
Từ 4. 0 đến 5. 0 22. 000 22. 000 0% 20. 900 5%
Trên 5. 0 25. 000 26. 250 (tăng 5%) 26. 250 0%
Xe từ 6 đến 9 chỗ, kể cả lái
xe, có dung tích xi - lanh
động cơ:

Từ 2. 0 trở xuống 9. 000 7. 650 15% 7. 267 5%
Trên 2. 0 đến 3. 0 14. 000 11. 200 20% 10. 640 5%
Trên 3. 0 đến 4. 0 16. 000 16. 000 0% 15. 200 5%
Trên 4. 0 20. 000 20. 000 0% 20. 000 0%
Xe từ 10 đến 15 chỗ, kể cả
lái xe, có dung tích xi - lanh
động cơ

• Ngay cuối năm 2006 chính phủ phải bãi bỏ qui định hàm lượng nội địa trongsản
phẩm theo Hiệp định về các biện pháp quản lý đầu tư có liên quan đến thương mại
TRIMs (Trade - related Investment Measures).
• Kể từ năm 2009, các nhà đầu tư sản xuất ô tô có thể thành lập doanh nghiệp100%
vốn nước ngoài tại Việt Nam chứ không bị ràng buộc phải liên doanh với doanh
nghiệp trong nước nữa. Ngay cả những công ty liên doanh đang hoạt động cũng có
thể chuyển thành công ty 100% vốn nước ngoài thông qua việc đối tác nước ngoài
tìm mọi cách mua đứt phần hùn (hay cổ phần) của Bên Việt Nam trong liên doanh.
Hệ quả là, lực lượng sản xuất của ngành ô tô sẽ có sự phân húa mạnh, các doanh
nghiệp 100% vốn trong nước (với qui mônhỏ bé) sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong
quan hệ cạnh tranh.
• Theo cam kết trong đàm phán song phương với Mỹ (và đương nhiên khi có hiệu
lực đầy đủ cũng sẽ được áp dụng cho cả những thành viên WTO khác), thì các mức
thuế nhập khẩu ô tô hoàn chỉnh nêu ở trên sẽ phải giảm đi 50%, và thuế nhập khẩu
linh kiện ô tô chỉ còn ở mức trung bình là 13%.
• Ngoài ra, theo biểu thuế CEPT (thực hiện AFTA), thì ô tô và linh kiện ô tô nhập
khẩu từ các nước ASEAN hầu hết đã giảm còn 5% kể từ đầu năm 2006, phần lớn
trong số đó sẽ tiếp tục giảm còn 0% trong vài năm tới. Ngoại trừ các loại xe tải nhẹ
thuế nhập khẩu còn ở mức 20%, thì đến năm 2009 cũng sẽgiảm còn 5%.
2.1.4. Những khó khăn khác
Về mặt chủ quan, khó khăn lớn nhất kìm hãm sự phát triển của ngành công
nghiệp ô tô ở Việt Nam là nguyên liệu trong nước không thể sử dụng được, phải
nhập khẩu đến 90%. Mà thuế đánh vào mặt hàng nguyên liệu nhập khẩu còn khá
cao, vì vậy nếu không có nguồn nguyên liệu từ trong nước thì chi phí sản xuất ô tô
trong nước sẽ rất cao.
Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng cơ sở giao thông của Việt Nam chưa đáp ứng
nhu cầu phát triển và chưa phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Hiện nay các xa lộ của
ta chưa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống đường xá ở Việt Nam vẫn chưa đáp
ứng tiêu chuẩn, các biển báo chưa đạt yêu cầu, do vậy việc sử dụng quá nhiều ô tô
chưa được Nhà nước khuyến khích.

VN thực hiện việc xuất khẩu phụ tùng, linh kiện ôtô. Được khai trương vào tháng
7/ 2004 đến nay, TMV đã xuất khẩu được hơn 67, 3 triệu USD giá trị các loại phụ
tùng như ăng ten, van điều hoà khí xả, bàn đạp chân ga sang 10 nước trong mạng
lưới Toyota toàn cầu, được sử dụng cho nhiều mẫu xe nằm trong dự án IMV và
nhiều mẫu xe khác của Toyota trên thế giới. Dự kiến, kim ngạch xuất khẩu TMV sẽ
tiếp tục tăng lên 25 triệu USD cho năm 2008 và 30 triệu USD cho năm 2009. Việc
tăng tỷ lệ NĐH của TMV, ngoài việc mở rộng và ổn định thị trường, có thể nhìn
nhận sự đóng góp của TMV trong nỗ lực kêu gọi các nhà cung cấp phụ tùng vào
đầu tư tại VN, góp phần phát triển công nghiệp phụ trợ như Denso, Toyota
Boshokhu Hải Phòng, Toyota Goisei Hà Nội và Hải Phòng Tính đến nay, Toyota
đang có 9 nhà sản xuất cung ứng phụ tùng lớn như Harada VN, Denso VN, Cty
dụng cụ cơ khí xuất khẩu, Yazaki VN, Sumi Hanel, Cty Tân Đức, Cty GS VN và
Nagata VN. Ông Murakami khẳng định TMV luôn quyết tâm mời gọi các nhà đầu
tư sản xuất phụ tùng vào VN dựa trên cơ sở nâng cao sản lượng và mở rộng sản
xuất: " Nếu gia tăng sản lượng sản xuất, tức là TMV sẽ cần thêm nhiều linh kiện
phụ tùng để sản xuất. Các nhà phụ trợ sẽ nhìn thấy tiềm năng lớn từ thị trường và
họ sẽ theo chân Toyota vào đầu tư tại VN. Như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa,
nếu chúng tôi có thể tăng sản lượng và mở rộng sản xuất, nhiều nhà sản xuất phụ
trợ của Toyota sẽ tới đầu tư vào VN".
Với mục tiêu mở rộng, nâng công suất nhà máy lên 30. 000 xe/ năm vào
năm 2009 và tăng cường tỷ lệ NĐH, TMV sẽ đầu tư thêm khoảng 50 triệu USD.
Riêng trong năm 2007 TMV đã đầu tư 22 triệu USD, trong đó 16 triệu USD được
dành cho việc tăng công suất, cải tiến sản phẩm và NĐH. Trong kế hoạch NĐH
của mình, Innova vẫn là mẫu xe được TMV chú trọng với mục tiêu tăng tỷ lệ NĐH
lên 37% vào năm 2008, 40% vào năm 2009 và khoảng 45% khi thế hệ mới của
Innova ra đời. Tới lúc đó, sản lượng dự kiến tiêu thụ của Innova sẽ lên tới khoảng
3. 000 xe/thỏng. Nếu vậy mẫu xe Innova sẽ tiếp tục phá vỡ những kỷ lục của mình
về doanh số, về tỷ lệ NĐH và khẳng định câu chuyện thành công của TMV với
thực tế đúng với mục tiêu đầu tư lâu dài tại VN
2. 2. 3 Cung cấp dịch vụ hoàn hảo, tăng tính cạnh tranh trên thị trường

vỏ và sơn (cho tất cả
các xe)
1. Số xe sửa chữa trong ngày (hư hỏng nhẹ) 6, 2 xe 7, 0 xe
2. Thời gian chờ phê duyệt s/ c 0, 4 ngày 0, 5 Ngày
3. Thời gian sửa chữa 2, 3 ngày 1, 5 Ngày
4. Thời gian chờ giao xe 0, 5 ngày 0, 5 Ngày
5. Thời gian cho mỗi công đoạn Không xác định 65 phút
6. Tổng thời gian sửa chữa dự kiến (từ khi xe
vào đến khi xe ra, không thay thế phụ tùng)
3, 2 ngày 2, 5 ngày
7. Doanh thu công lao động/ ngày
(VND/ngày)
6. 634. 000 VND 7. 490. 000 VND
8. Tỷ lệ giao xe đúng hạn 44% 100%
2. 2. 4 Thành lập trung tâm đào tạo trước sự thiếu hụt nhân lực chất
lượng cao ở Việt Nam
Có thể nhận thấy là ở Việt Nam, đội ngũ lao động có tay nghề ở trình độ cao
làm việc trong ngành công nghiệp ô tô là rất ít. Đối phó với khó khăn này khi tiến
hành kinh doanh trên một đất nước đang trên đà chuyển đổi, Toyota Việt Nam đã
đầu tư 500. 000 USD thành lập Trung tâm Ðào tạo với diện tích 1. 000 m 2
vào tháng 4 năm 1997. Trung tâm có khả năng đào tạo tối đa 500 học
viờn/năm. Tháng 9 năm 2000, Toyota Việt Nam mở rộng Trung tâm Ðào tạo
với Trung tâm Ðào tạo sơn và thân xe (B/P). Trung tâm Ðào tạo sửa chữa
thân xe và sơn này là một trong những trung tâm được trang bị những thiết bị
hiện đại nhất trong các nước châu Á và việc sử dụng tối đa trung tâm này đã
cải thiện các hoạt động đào tạo. Trung tâm được trang bị đầy đủ những thiết bị
tiên tiến như máy hàn, thiết bị kéo nắn khung và buồng sơn. Ðặc biệt thiết bị
kéo nắn khung với các dụng cụ đo đạc chính xác là một thiết bị hiện đại trên thế
giới và đây sẽ là chìa khóa để tiến hành các khúa đào tạo một cách chuyên
nghiệp và hiệu quả cho các kỹ thuật viên sửa chữa Thân vỏ và Sơn.

DOANH TRấN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
Từ những phân tích về quá trình kinh doanh của Công ty Toyota trên thị
trường Việt Nam ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm sau:
- Khi có sự thay đổi về các chính sách liên quan đến lĩnh vực hoạt động
của doanh nghiệp thì ban lãnh đạo phải có thái độ điềm tĩnh, phân tích và suy xét
tình hình, không nên điều chỉnh ngay chiến lược vì với nền kinh tế chuyển đổi, sự
thay đổi chính sách có thể thường xuyên diễn ra. Như khi Chính phủ Việt Nam
điều chỉnh thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào sản phẩm ô tô nhập khẩu
nguyên chiếc và linh kiện sản xuất ô tô trong nước hay quyết định cho nhập khẩu ô
tô đã qua sử dụng, Toyota không vội tăng hay giảm giá bán mà đưa ra chiến lược
dài hơi hơn, đó là tăng cường nâng cao tỷ lệ nội địa hoá nhằm giảm giá thành sản
xuất, từ đó giảm giá bán sản phẩm, thu hút người tiêu dùng bởi thương hiệu đã
quen thuộc.
- Luôn luôn coi trọng khách hàng và hoạt động gắn với sự phát triển củacộng
đồng là tôn chỉ hoạt động của công ty. Tích cực đổi mới, cải tiến sản phẩm. Đây là điểm
mà Toyota đã để lại ấn tượng lớn đối với người tiêu dùng Việt Nam. Vì hầu hết trong các
quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi nhu cầu của người tiêu dùng còn rất cao và cũng dễ bị
tác động bởi các hoạt động xã hội của các doanh nghiệp.
- Bên cạnh hoạt động kinh doanh trong nước cũng nên chú trọng đến hoạt
động xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP Cể VỐN ĐẦU
TƯ NƯỚC NGOÀI KINH DOANH TRONG NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI
3.2.1. Tìm hiểu hệ thống pháp luật để ứng phó kịp thời với những
thay đổi trong chính sách của Chính phủ
Do nền kinh tế chuyển đổi là một nền kinh tế có sự giao thoa giữa hội
nhập và hội nhập yếu, chính vì thế mà chính sách của Nhà nước có thể thay đổi
trong một thời gian ngắn. Vì vậy, đối với bất kỳ một doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài nào khi kinh doanh trong nền kinh tế chuyển đổi đều nên chú trọng đến
những thay đổi nhỏ trong chính sách, hệ thống luật pháp của quốc gia đó. Bên cạnh
việc tìm những biện pháp ứng phó với những thay đổi đó, doanh nghiệp cũng nên tích

KẾT LUẬN

Thị trường ô tô Việt Nam là một thị trường còn non trẻ với rất nhiều tiềm
năng và hết sức hứa hẹn đối với nhiều doanh nghiệp, liên doanh nước ngoài. Đặc
biệt sau khi Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới
WTO, cơ hội có một sân chơi quốc tế bình đẳng là không thể phủ nhận. Vì vậy, các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang không ngừng phấn đấu, gia tăng sức
cạnh tranh của mình trên thị trường trong nước và tiến tới thúc đẩy xuất khẩu
thành phẩm ra nước ngoài bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu
mã phù hợp nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng.
Toyota là một tập đoàn lớn mạnh trên thế giới, thương hiệu Toyota được
rất nhiều quốc gia trên thế giới công nhận. Với trên 10 năm hoạt động tại thị
trường Việt Nam, Toyota đã gặt hái rất nhiều thành công và chiếm được
lòng tin của người tiêu dùng cả nước. Đầu tư vào Việt Nam Toyota mong muốn phát
triển ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam và vì một nền kinh tế phát triển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status