pháp luật việt nam về bảo hộ người việt nam ở nước ngoài thực trạng và phương hướng hoàn thiện - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2011 - 2015
ĐỀ TÀI:
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI
THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Ths. KIM OANH NA
Bộ Môn: Luật Thương Mại

LÝ VĂN PHÚC
MSSV: 5116011
Lớp: Luật Thương Mại-Khóa 37

Cần Thơ, tháng 11 năm 2014


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................

................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
................................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
................................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày tháng 11 năm 2014


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ...................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI VIỆT NAM VÀ BẢO HỘ NGƯỜI
VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI ........................................................................................... 3
1.1. Khái niệm về người Việt Nam và bảo hộ Người Việt Nam ở nước ngoài ................ 3
1.1.1. Khái niệm người Việt Nam ở nước ngoài ........................................................... 3
1.1.2. Bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài ................................................................ 4
1.2. Mục đích, ý nghĩa của việc bảo hộ Người Việt Nam ở nước ngoài .......................... 6
1.2.1. Mục đích của việc bảo hộ Người Việt Nam ở nước ngoài ................................. 6
1.2.2. Ý nghĩa của việc bảo hộ Người Việt Nam ở nước ngoài .................................... 7
1.3. Khái quát tình hình Người Việt Nam ở nước ngoài .................................................. 8
1.3.1. Tình hình làm ăn, sinh sống, học tập, du lịch của người Việt Nam ở nước
ngoài ........................................................................................................................... 8
1.3.2. Người Việt Nam có quốc tịch quốc gia sở tại hoặc quốc gia khác .................. 10
1.4. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển các quy định về bảo hộ công dân ở
nước ngoài ........................................................................................................................... 11

3.2. Những thuận lợi và khó khăn trong việc bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài .. 44
3.2.1. Những thuận lợi trong việc bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài ................. 44
3.2.2. Những khó khăn trong việc bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài ................ 45
3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài 47
3.3.1. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật .............................................................. 47
3.3.2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện thực tiễn bảo hộ công dân ................................... 48
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Pháp luật Việt Nam về bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài-Thực trạng và phương hướng hoàn thiện

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngay từ xưa, trong lịch sử phát triển, các quốc gia đã có mối quan hệ hợp tác với
nhau trong lĩnh vực đời sống, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…để cùng tồn tại và phát
triển. Đây được coi là nhu cầu tất yếu, bởi vì nếu không có mối quan hệ qua lại thì sẽ dẫn
đến suy yếu. Xuất phát từ nhu cầu khách quan này, giữa các quốc gia đã cử cơ quan đại
diện của mình đến quốc gia khác để thiết lập quan hệ ngoại giao và cùng giải quyết các
vấn đề phát sinh. Nhu cầu này ngày càng cao nên đã hình thành các cơ quan đối ngoại ở
các quốc gia như cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, phái đoàn thường trực của
các nước tại các tổ chức quốc tế…Làm thế nào để các cơ quan đại diện ngoại giao thực
hiện tốt nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả, nhanh chóng, bảo đảm quyền, lợi ích chính
đáng của Nhà nước, công dân, pháp nhân,…trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, bình đẳng
quốc gia, tôn trọng pháp luật của nước cử và nước nhận đại diện, pháp luật quốc tế mà các
bên là thành viên. Để giải quyết vấn đề đó, Công ước Viên về quan hệ lãnh sự 1963 (viết
tắt là Công ước Viên 1963) đã được thông qua, theo đó tại Điều 5 quy định về chức năng
của lãnh sự. Đây là Công ước có giá trị cao nhất trong quan hệ lãnh sự đã được hầu hết các
nước tham gia.
Việt Nam là một quốc gia độc lập có chủ quyền, thế nên Việt Nam cũng không nằm

công dân trong luật pháp quốc tế nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Với đề tài này, người viết đã phân tích những quy định của Công ước Viên 1963 về
quan hệ lãnh sự, Luật cơ quan đại diện Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước
ngoài 2009. Người viết cũng đã hệ thống lại những khái niệm cơ bản về bảo hộ công dân.
Bên cạnh đó là nêu lên thực trạng trong việc bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài;
những thuận lợi và hạn chế của pháp luật, đồng thời nêu lên những kiến nghị, đề xuất của
người viết.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Khi phân tích vấn đề này người viết kết hợp nghiên cứu, phân tích, so sánh, đánh
giá những quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Chủ yếu dựa vào kiến
thức có được trong quá trình học tập, nghiên cứu của bản thân và dựa vào các nguồn tài
liệu như: văn bản pháp luật quốc tế và Việt Nam, giáo trình, tập bài giảng, sách, báo, tạp
chí nghiên cứu quốc tế, các thông tin từ truy cập Internet…
5. Bố cục đề tài
Lời nói đầu
Nội dung gồm 3 chương:
 Chương 1: Khái quát chung về người Việt Nam và bảo hộ người Việt Nam ở nước
ngoài
 Chương 2: Pháp luật về bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài
 Chương 3: Thực trạng, những thuận lợi, khó khăn và giải pháp bảo hộ người Việt
Nam ở nước ngoài
Kết luận

GVHD: Ths. Kim Oanh Na

-2-

SVTH: Lý Văn Phúc


Khái niệm này còn được khẳng định lại tại Luật quốc tịch Việt Nam “Người Việt
Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống
lâu dài ở nước ngoài”2.
Như vậy, theo khái niệm trên, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm hai
loại là công dân Việt Nam: là những người có quốc tịch Việt Nam; Người gốc Việt Nam
định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra
quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư
trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.
1

Khoản 3 Điều 3 Nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài.
2
Khoản 3 Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam 2008

GVHD: Ths. Kim Oanh Na

-3-

SVTH: Lý Văn Phúc


Pháp luật Việt Nam về bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài-Thực trạng và phương hướng hoàn thiện

1.1.2. Bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài
Bảo hộ công dân là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền
và lợi ích của công dân nước mình ở nước ngoài, khi các quyền và lợi ích này bị xâm hại ở
nước ngoài đó, đồng thời bao gồm cả các hoạt động giúp đỡ về mọi mặt mà nhà nước dành
cho công dân của nước mình đang ở nước ngoài, kể cả trong trường hợp không có hành vi
xâm hại nào tới các công dân của nước này.

Ts Lê Mai Anh (chủ biên): Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.125
5
Điểm b, Khoản 1 Điều 3 Công ước Viên 1961
3
4

GVHD: Ths. Kim Oanh Na

-4-

SVTH: Lý Văn Phúc


Pháp luật Việt Nam về bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài-Thực trạng và phương hướng hoàn thiện

Thẩm quyền này còn thuộc về cơ quan lãnh sự. Theo Công ước Viên 1963 thì các
chức năng lãnh sự đối với hoạt động bảo hộ công dân được quy định gồm có: bảo vệ tại
nước tiếp nhận lãnh sự các quyền lợi của nước lãnh sự và của người dân nước đó, cá nhân
cũng như pháp nhân trong phạm vi luật quốc tế quy định; cứu trợ và giúp đỡ những công
dân, cá nhân cũng như pháp nhân của nước cử lãnh sự; bảo vệ lợi ích của người dân, cá
nhân cũng như pháp nhân của nước cử lãnh sự trong trường hợp có thừa kế di sản trên lãnh
thổ nước tiếp nhận lãnh sự, theo đúng luật lệ của nước tiếp nhận lãnh sự; trong phạm vi
luật lệ của nước tiếp nhận lãnh sự cho phép, bảo vệ quyền và lợi ích của những vị thành
niên và những người không đủ năng lực mà là người dân của nước cử lãnh sự6. Khi tiến
hành các hoạt động bảo hộ công dân, các cơ quan chức năng có thẩm quyền phải dựa trên
cơ sở pháp lý là các văn bản pháp luật quốc gia về bảo hộ công dân và các điều ước quốc
tế hữu quan về bảo hộ công dân.
Tùy thuộc vào từng điều kiện hoàn cảnh, vụ việc cụ thể, quốc gia sẽ tiến hành các
biện pháp bảo hộ công dân thích hợp từ đơn giản đến phức tạp, từ các biện pháp hành
chính, pháp lý đến các biện pháp tư pháp đơn thuần.



Pháp luật Việt Nam về bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài-Thực trạng và phương hướng hoàn thiện

chính đáng của người lao động Việt Nam ở nước ngoài7. Với bộ máy này, công tác bảo hộ,
giúp đỡ công dân ở nước ngoài đã và chắc chắn sẽ đạt được nhiều kết quả tích cực.
Trong nghị quyết của Bộ Chính trị về người Việt Nam ở nước ngoài, Đảng ta nhấn
mạnh: Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên
tâm làm ăn sinh sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại, đồng thời duy trì quan hệ
gắn bó với quê hương, đất nước; đổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các
hình thức tập hợp với mục đích đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm giúp đỡ
lẫn nhau, khuyến khích những hoạt động hướng về Tổ quốc của bà con, nhất là của thế hệ
trẻ trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với pháp luật và phong tục tập quán nước sở tại; hỗ trợ
các dự án của người Việt Nam ở nước ngoài nhằm mục tiêu trên.
Theo Hiến pháp “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời
của cộng đồng dân tộc Việt Nam”8. Do đó các cơ quan nhà nước ở trong nước, cơ quan đại
diện ở nước ngoài có trách nhiệm thi hành các biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật
của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ người Việt
Nam ở nước ngoài.
1.2. Mục đích, ý nghĩa của việc bảo hộ Người Việt Nam ở nước ngoài
1.2.1. Mục đích của việc bảo hộ Người Việt Nam ở nước ngoài
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chính sách khuyến khích và tạo
điều kiện thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giữ mối quan hệ gắn bó
với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Các cơ quan nhà
nước, cơ quan đại diện có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi chính đáng phù hợp với pháp luật
quốc tế và pháp luật quốc gia sở tại, với mục đích:
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và pháp nhân nước mình tại nước
tiếp nhận lãnh sự trong phạm vi pháp luật quốc tế.
Cấp hộ chiếu và giấy thông hành cho công dân nước mình; cấp thị thực và các giấy
tờ cần thiết khác cho những người muốn đến nước cử lãnh sự.

nhập với xã hội tại quốc gia tiếp nhận; kiến nghị biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người Việt Nam, ngăn ngừa hành động phân biệt đối xử đối với cộng
đồng người Việt Nam ở quốc gia tiếp nhận .
Tổ chức hoặc phối hợp tổ chức hoạt động văn hóa phục vụ cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài.
Kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền hình thức khen thưởng thích hợp đối với tổ
chức, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có thành tích xuất sắc trong hoạt động xây
dựng cộng đồng và đóng góp xây dựng đất nước.
1.2.2. Ý nghĩa của việc bảo hộ Người Việt Nam ở nước ngoài
Bảo hộ công dân chủ yếu mang tính chất hành chính - pháp lý quốc tế. Được thiết
lập trong hoạt động đối ngoại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức
nước mình ở quốc gia khác.
Trước tiên, bảo hộ công dân thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa công dân và Nhà
nước, khẳng định rằng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời
của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Xác định địa vị pháp lí của người Việt Nam ở nước
ngoài dựa trên pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế cũng như pháp luật tại quốc gia sở
tại. Tạo tiền đề cho các mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia.
Bảo hộ công dân còn là cầu nối cho hợp tác phát triển kinh tế trong mối quan hệ
quốc tế giữa các quốc gia. Góp phần giới thiệu văn hóa quốc gia ra trường quốc tế, nâng
cao vị thế quốc tế của đất nước, củng cố thêm niềm tự hào dân tộc và tinh thần yêu nước
của người Việt Nam ở nước ngoài.
Không những thế, đây còn là điều kiện hợp tác quốc tế về khoa học, kỹ thuật, giáo
dục. Tạo điều kiện để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện
nghiêm chỉnh pháp luật nước sở tại.
Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài chăm
lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ
gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc,
thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp
phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tùy
theo khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ

dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nâng cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn
tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc, đoàn kết, đùm bọc yêu thương, giúp
đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường
quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tùy theo khả năng và
điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động đấu tranh với
các biểu hiện cố tình đi ngược lại với lợi ích chung của dân tộc”.
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện có gần 4 triệu người làm ăn, sinh
sống rải rác ở các nước và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% ở các nước công nghiệp phát
triển, như Bắc Mỹ, Oxtraylia, Tây Âu, Nga và các nước Đông Âu, các nước Châu Á như:
Hàn Quốc, Thái Lan, Campuchia, Lào, Trung Quốc... Phần đông bà con có cuộc sống ngày
càng ổn định và hòa nhập vào xã hội nơi cư trú, có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế,
văn hóa, xã hội ở nước sở tại. Cuộc sống cũng như các hoạt động khác nhau của cộng đồng
Việt kiều sẽ có ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các nước sở tại
với Việt Nam. Bên cạnh đó, trong những năm qua, hàng trăm ngàn người Việt Nam đã ra
nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp, đoàn tụ gia đình, hình thành các cộng đồng người
Việt Nam đáng kể ở một số địa bàn như: Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia,…
So với cộng đồng ngoại kiều khác, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một
cộng đồng trẻ, năng động, nhanh chóng hòa nhập vào xã hội nước sở tại và có xu hướng
định cư lâu dài ở những nước như Mỹ, Oxtraylia, Canađa và các nước Tây Âu. Trong khi
GVHD: Ths. Kim Oanh Na

-8-

SVTH: Lý Văn Phúc


Pháp luật Việt Nam về bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài-Thực trạng và phương hướng hoàn thiện

phần lớn người Việt Nam ở Đông Âu và Nga vẫn coi cuộc sống ở nước sở tại là tạm cư với
mục đích làm ăn kinh tế là chính, khi có điều kiện sẽ trở về nước sinh sống. Cộng đồng

nước ngoài trong việc tuyên truyền đường lối đối ngoại của Đảng và chủ trương đại đoàn
kết dân tộc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với bạn bè quốc tế.

9

Bộ Ngoại giao Việt Nam: Cục Lãnh sự,
[truy cập ngày 15-8-2013

GVHD: Ths. Kim Oanh Na

-9-

SVTH: Lý Văn Phúc


Pháp luật Việt Nam về bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài-Thực trạng và phương hướng hoàn thiện

1.3.2. Người Việt Nam có quốc tịch quốc gia sở tại hoặc quốc gia khác
Tình hình quốc tịch của người Việt Nam định cư ở nước ngoài có thể xem xét theo
các khu vực: các nước Đông Âu, các nước châu Á và các nước phương Tây.
Ở các nước Đông Âu: cộng đồng người Việt Nam ở các nước Đông Âu được hình
thành chủ yếu vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Hầu hết họ sang
Đông Âu để làm việc, học tập rồi ở lại hoặc một số khác thì đi theo con đường du lịch,
thăm thân nhân. Họ ra đi hợp pháp nhưng sau đó ở lại quá hạn và trở thành cư trú bất hợp
pháp. Do những nguyên nhân khác nhau như bị mất giấy tờ, không được cấp giấy tạm trú,
không được phép đăng ký cư trú nên hiện có khoảng 80% người Việt Nam ở các nước này
không có quy chế định cư hoặc giấy tờ hợp pháp. Trong số còn lại có quy chế định cư và
giấy tờ hợp pháp thì cũng chỉ có một số ít là có quốc tịch của nước sở tại. Chính điều này
đã khiến cho cuộc sống của họ không ổn định và gặp nhiều khó khăn.
Ở các nước châu Á: Các nước thuộc khu vực Đông Nam Á: Lào, Campuchia, Thái



Pháp luật Việt Nam về bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài-Thực trạng và phương hướng hoàn thiện

phủ cấp phép và thu phí môi giới khá cao. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến
sự thương mại hóa các cuộc hôn nhân Đài - Việt.
Ở các nước phương Tây: Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tại các nước tư
bản phát triển chiếm số lượng lớn nhất, khoảng 4/5 tổng số người Việt Nam ở nước ngoài
trên toàn thế giới. Người Việt Nam ở khu vực này phần đông đã có quốc tịch nước sở tại
(70-80%) do thủ tục xin nhập quốc tịch các nước này ít phức tạp, không đòi hỏi phải xin
thôi quốc tịch gốc, chỉ cần đáp ứng các tiêu chuẩn theo luật nhập cư là có thể được nhập
tịch (ví dụ: Mỹ, Pháp…). Riêng đối với Cộng hoà liên bang Đức, pháp luật về quốc tịch
của Đức quy định người nước ngoài muốn nhập quốc tịch Đức thì phải thôi quốc tịch mà
họ đang có. Do đó, hàng năm, số người Việt Nam định cư ở Đức xin thôi quốc tịch Việt
Nam khá nhiều.
Như vậy, ngoại trừ số người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã xin thôi quốc tịch
Việt Nam để nhập quốc tịch nước sở tại thì hiện nay, còn nhiều người vừa có quốc tịch
Việt Nam, vừa có quốc tịch nước ngoài. Việc họ vẫn còn quốc tịch Việt Nam khi đã được
nhập quốc tịch nước ngoài là do nước mà họ định cư công nhận 2 quốc tịch hoặc chấp
nhận 2 quốc tịch trên thực tế. Trong khi đó, trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở
nước ngoài này vẫn có một bộ phận chỉ có quốc tịch Việt Nam mà chưa được nhập quốc
tịch nước sở tại. Số này chủ yếu sống ở Nga, các nước Đông Âu và những người ra đi hợp
pháp đang định cư ở các nước phương Tây. Hầu hết họ đã được Việt Nam cấp đổi hộ chiếu
trừ những người vượt biên hoặc ra đi bất hợp pháp. Những người này đã được nước sở tại
cấp giấy chứng nhận quy chế ngoại kiều, giấy thông hành tỵ nạn…Đến nay, một số người
không có giấy tờ gì, sống bất hợp pháp hoặc rơi vào tình trạng không quốc tịch, nhất là ở
Nga và các nước Đông Âu. Bên cạnh đó, cũng có một bộ phận đã xin thôi quốc tịch Việt
Nam để được gia nhập quốc tịch của nước sở tại như: Lào, Séc, Hàn Quốc, Đài Loan,
Đức…
1.4. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển các quy định về bảo hộ công dân ở

Lahaye, bắt đầu từ ngày 13/03/1930. Tuy nhiên, Hội nghị đã không thể đưa ra tiếng nói
chung. Vì vậy, vấn đề bảo hộ ngoại giao chủ yếu được điều chỉnh tại các điều ước quốc tế
song phương có liên quan và các tập quán quốc tế được hình thành và áp dụng rộng rãi
trong vấn đề này.
Trước hết, quyền công dân cũng là quyền con người, các quy định về bảo vệ quyền
con người suy cho cùng vẫn dùng để bảo vệ quyền công dân. Và khi thực hiện việc bảo vệ
quyền công dân là đã thực hiện việc bảo hộ công dân ở nước ngoài.
Những tư tưởng triết học về quyền con người ở Châu Âu thời kỳ Phục Hưng đã có
ảnh hưởng quan trọng đến sự ra đời của những văn bản pháp luật về quyền con người ở
một số nước của châu lục này, cũng như đến hai cuộc cách mạng nổi tiếng thế giới nổ ra
vào cuối những năm 1700 ở Mỹ và Pháp. Hai cuộc cách mạng này đã có những đóng góp
rất to lớn vào sự phát triển của tư tưởng và quá trình lập pháp về quyền con người không
chỉ ở hai nước Mỹ và Pháp mà còn trên toàn thế giới. Trong cuộc cách mạng thứ nhất, năm
1776, mười ba thuộc địa ở Bắc Mỹ đã tuyên bố độc lập với đế chế Anh thông qua một văn
bản có tên là Tuyên ngôn độc lập , trong đó khẳng định rằng : “… mọi người sinh ra đều
bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những
quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Mặc dù không
phải văn kiện pháp lý đầu tiên trên thế giới đề cập đến vấn đề này, tuy nhiên, Tuyên ngôn
Độc lập 1776 của nước Mỹ có thể coi là sự xác nhận chính thức đầu tiên trên phương diện
nhà nước về quyền con người. Đánh giá về văn kiện này, Các Mác đã cho rằng, nước Mỹ
là nơi lần đầu tiên xuất hiện ý tưởng về nền cộng hoà dân chủ vĩ đại, nơi đã tuyên bố bản
tuyên ngôn đầu tiên về quyền con người.
Trong cuộc cách mạng thứ hai, vào năm 1789, nhân dân Pháp, mà chủ yếu là thợ
thuyền, trí thức và một số thị dân, đã đứng lên lật đổ chế độ phong kiến, thành lập nền
cộng hòa đầu tiên, đồng thời công bố bản Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền nổi
tiếng của Pháp. Điều 1 bản Tuyên ngôn này khẳng định : “Người ta sinh ra và sống tự do
và bình đẳng về các quyền …”. Đặc biệt, không dừng lại ở những nguyên tắc, ý tưởng như
Tuyên ngôn Độc lập 1776 của nước Mỹ, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền 1789 đã
xác định một loạt các quyền cơ bản của con người như quyền tự do và bình đẳng, quyền sở
GVHD: Ths. Kim Oanh Na

chức Lao động quốc tế, quyền con người càng trở thành một vấn đề có tầm quốc tế rộng
lớn. Cả hai tổ chức này đã nâng nhận thức và các hoạt động về quyền con người lên một
mức độ mới. Tổ chức Lao động quốc tế, trong Điều lệ của mình, đã khẳng định, hoà bình
trên thế giới chỉ có thể được thực hiện nếu được dựa trên cơ sở bảo đảm công bằng xã hội
cho tất cả mọi người. Trong Thoả ước của Hội quốc liên, các nước thành viên tuyên bố
chấp nhận nghĩa vụ bảo đảm, duy trì sự công bằng và các điều kiện nhân đạo về lao động
cho đàn ông, phụ nữ và trẻ em cũng như bảo đảm sự đối xử xứng đáng với những người
bản xứ tại các thuộc địa của họ. Cũng trong thời kỳ này, một loạt văn kiện khác của luật
nhân đạo quốc tế đã được thuông qua trong hội nghị Lahaye, tại các Hội nghị của Hội Chữ
Thập đỏ quốc tế (ICRC) và Hội Quốc liên, bổ sung những bảo đảm rộng rãi hơn với các
quyền con người trong hoàn cảnh chiến tranh và xung đột vũ trang. Cũng trong thời kỳ
này, cuộc Cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới nổ ra ở nước Nga vào tháng 10 năm
1917, mở ra một chương mới trong lịch sử chính trị quốc tế, đồng thời tạo ra những biến
chuyển quan trọng trong tư tưởng và thực tiễn về quyền con người. Cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trong những thập kỷ 1940 đến 1980 của
thế kỷ trước, các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá được đề cao, và đặc biệt, các quyền độc
GVHD: Ths. Kim Oanh Na

-13-

SVTH: Lý Văn Phúc


Pháp luật Việt Nam về bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài-Thực trạng và phương hướng hoàn thiện

lập và tự quyết của các dân tộc được cổ vũ. Đây là những quyền con người mà trước đó đã
không hoặc rất ít được đề cập trên các diễn đàn quốc tế.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, việc Liên Hợp quốc ra đời, thông qua Hiến chương
(24/10/1945), Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (10/12/1948) và hai công ước
quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hoá (năm 1966) đã chính thức

rộng khắp, thường xuyên và nồng nhiệt nhất trong đời sống hiện nay của nhân loại.

GVHD: Ths. Kim Oanh Na

-14-

SVTH: Lý Văn Phúc


Pháp luật Việt Nam về bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài-Thực trạng và phương hướng hoàn thiện

1.4.2. Trong pháp luật Việt Nam
Hiến pháp 1946
Nhận thức rõ tầm quan trọng của bản hiến pháp, chỉ sau ngày tuyên bố độc lập,
ngày 3/09/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Hồ Chủ tịch đã đưa ra
sáu nhiệm vụ, trong đó có việc ban hành hiến pháp. Dự thảo hiến pháp được thông qua tại
kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I ngày 08/11/1946. Bản hiến pháp này gồm 7 chương, trong
đó chương đề cập về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân dược đặt ở vị trí thứ 2 sau
chương về chính thể nhà nước. Ở bản hiến pháp này, chưa xuất hiện chế định bảo vệ người
Việt Nam ở nước ngoài, tuy nhiên trước đó không lâu, ngày 14/09/1946 đã có một Tạm
ước giữa Việt - Pháp được ký kết có quy định “Những kiều dân Việt ở Pháp và những kiều
dân Pháp ở Việt Nam đều được hưởng quyền tự do cư trú như người bản xứ và tất cả các
quyền tự do dân chủ”. Tuy Tạm ước tồn tại không lâu, song cho thấy sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Hiến pháp 1959
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam
tiếp tục cách mạng dân chủ. Hiến pháp 1946, theo nhận định của Đảng, đã hoàn thành
nhiệm vụ của mình. Vì vậy, Hiến pháp 1959 được quốc hội khóa I kỳ họp thứ 11 ngày
31/12/1959 thông qua. Để phù hợp với chiến lược phát triển, chương II quy định về chế độ
kinh tế và xã hội, chương về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được đặt ở vị trí thứ

bản hiến pháp mới, phù hợp hơn để thức đẩy sự tiến bộ xã hội, nâng cao đời sống của
người dân. Theo tinh thần của hiến pháp, các chế định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân được coi trọng hơn (có 34 điều, Hiến pháp 1980 có 28 điều). Vấn đề bảo vệ
người Việt Nam ở nước ngoài từ đó được nâng cao. Không còn là quy định chung chung,
hiến pháp này khẳng định “Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài”11. Quy định như thế ta thấy rằng người Việt Nam ở nước ngoài
được hưởng những quyền như công dân Việt Nam. Có một điểm mới so với Hiến pháp
1980 là “Nhà nước tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn
bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước”. So với các bản
hiến pháp trước thì đây là một bước quan trọng đánh dấu sự hội nhập của Nhà nước trong
mối quan hệ quốc tế. Đến năm 2001, hiến pháp có sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn trên tinh
thần nâng cao đời sống người dân, phát triển kinh tế - xã hội. Có thêm một điểm mới trong
quan hệ bảo hộ đó là Nhà nước khẳng định rằng “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là
bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam”12.
Hiến pháp 2013
Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội (khóa XIII) thông qua tại kỳ họp thứ 6, gồm 11
chương, 120 điều có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, giảm 01 chương và 27 điều so với Hiến
pháp năm 1992. Hiến pháp năm 2013 đã quy định bao quát hầu hết các quyền cơ bản về
chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa của con người. Nếu như Hiến pháp năm 1992
quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định tại chương V thì ở Hiến
pháp năm 2013 chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là
chương II, chỉ xếp sau chương về chế độ chính trị. Đây không phải là sự ngẫu nhiên hoặc
cơ học mà đây là một điểm mới, thể hiện tầm quan trọng của quyền con người trong Hiến
pháp. Hiến pháp đã làm rõ hơn các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân và trách nhiệm
của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân; thể hiện rõ
bản chất dân chủ của Nhà nước ta. Trải qua 5 bản hiến pháp, những quy định về bảo vệ
người Việt Nam ở nước ngoài từng bước hoàn thiện, chỉ rõ tầm quan trọng cũng như mối
quan hệ giữa công dân và Nhà nước.
Luật quốc tịch năm 2008
Ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Nhà nước ta

Nam ở nước ngoài, phù hợp với chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong
giai đoạn đó.
Xuất phát từ những đòi hỏi về mặt pháp lý và thực tiễn, ngày 20/5/1998 Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật quốc tịch Việt Nam năm
1998 thay thế Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988. Liên quan đến vấn đề người Việt Nam ở
nước ngoài, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 quy định: “Nhà nước Việt Nam bảo hộ
quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài”, khác với Luật quốc tịch năm
1988 chỉ quy định việc bảo hộ đối với “Công dân Việt Nam ở nước ngoài”. Như vậy,
phạm vi bảo hộ của nhà nước Việt Nam đã được mở rộng. Nhà nước Việt Nam sẽ bảo hộ
không những đối với người có quốc tịch Việt Nam (công dân Việt Nam) mà còn bảo hộ cả
với những người gốc Việt Nam ở nước ngoài. Quy định này đã khiến cho cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt
Nam.
Sau hơn 9 năm thực hiện, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 đã phát huy vai trò là
cơ sở pháp lý quan trọng trong vấn đề quản lý quốc tịch. Tuy nhiên, Luật năm 1998 cũng
bộc lộ một số điểm hạn chế, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung. Chính vì vậy, ngày 13
tháng 11 năm 2008, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008
thay thế Luật quốc tịch năm 1998. Luật quốc tịch năm 2008 so với Luật năm 1998 có
nhiều điểm mới, riêng đối với quy định liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài, Luật
quốc tịch năm 2008 ngoài việc kế thừa các quy định trước đó về quan hệ giữa Nhà nước
với công dân, bảo hộ đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài, chính sách đối với người
gốc Việt Nam ở nước ngoài còn bổ sung quy định mới về quyền và nghĩa vụ của công dân
Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài đang định cư ở nước ngoài. Theo đó, “Quyền
và nghĩa vụ của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài đang định cư ở
nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan”. Đặc biệt, tại Luật
quốc tịch Việt Nam năm 2008, lần đầu tiên vấn đề quốc tịch của người Việt Nam định cư ở
nước ngoài đã được khẳng định rõ: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất
13

Điều 2 Luật quốc tịch Việt Nam 1988

Nam tại các tổ chức quốc tế liên chính phủ. Qua thực tiễn thực hiện hai Pháp lệnh nêu trên
cho thấy, các quy định của hai Pháp lệnh, về cơ bản phù hợp với Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước
Viên 1993 về quan hệ lãnh sự cũng như phù hợp với tập quán quốc tế.
Tuy nhiên, do mối quan hệ quốc tế ngày càng phát triển chính vì thế một số quy
định trong hai Pháp lệnh nêu trên không còn phù hợp với thực tiễn hoạt động của cơ quan
đại diện. Xuất phát từ thực trạng đó, Luật cơ quan đại diện được thông qua, quy định cụ
thể những nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đại diện, như : Thúc đẩy quan hệ chính trị - xã
hội, quốc phòng - an ninh, phục vụ phát triển kinh tế đất nước, thúc đẩy quan hệ văn hóa,
thực hiện nhiệm vụ lãnh sự…Đặt biệt là nhiệm vụ “Hỗ trợ và bảo vệ cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài”.
Ngoài những quy định nói trên, nhà nước ta còn thành lập quỹ Bảo hộ công dân và
pháp nhận Việt Nam ở nước ngoài theo Quyết định số 119/2007/QĐTTg ngày 25/07/2007
của Thủ tướng Chính phủ, nhằm thực hiện hiệu quả hơn công tác bảo hộ công dân. Quỹ có
tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Ngoại giao về tổ
chức và hoạt động. Cục Lãnh sự là cơ quan được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ủy quyền trực
14

Khoản 2 Điều 13 Luật quốc tịch Việt Nam 2008

GVHD: Ths. Kim Oanh Na

-18-

SVTH: Lý Văn Phúc


Pháp luật Việt Nam về bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài-Thực trạng và phương hướng hoàn thiện

tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của Quỹ. Hỗ trợ các

con người đã được coi trọng hơn. Không chỉ dừng lại ở những quy tắc, ý tưởng quyền con
người được xác định cụ thể như quyền tự do, quyền bình đẳng…Vào những năm đầu của
thế kỷ XIX, nhận thức và hành động bảo vệ quyền con người được nâng lên một tầm cao
mới để đảm bảo công bằng xã hội cho tất cả mọi người.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên hợp quốc ra đời, đã chính thức khai sinh ra
ngành luật quốc tế về quyền con người, đặt nền móng cho việc tạo dựng một nền văn hoá
quyền con người-nền văn hoá mới và chung của mọi dân tộc-trên trái đất.
Theo nguyên tắc chung, việc bảo hộ công dân ở nước ngoài thuộc về các cơ quan
đại diện ngoại giao, lãnh sự của nước cử đại diện tại nước nhận đại diện. Việc bảo hộ công
dân do các cơ quan đại diện thực hiện được ghi nhận trong các công ước Viên 1961 về
quan hệ ngoại giao, Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự.
 Công ước Viên 1961
Chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao đã được luật quốc tế hiện đại ấn định cụ
thể15:
Thay mặt cho quốc gia cử đại diện tại quốc gia nhận đại diện;
Bảo vệ quyền lợi cho quốc gia cử đại diện và những người thuộc quốc tịch của quốc
gia cử tại quốc gia nhận đại diện;
Đàm phán với Chính phủ của quốc gia nhận đại diện;
Tìm hiểu bằng những phương tiện hợp pháp về điều kiện và tình hình tiến triển của
quốc gia nhận đại diện và báo cáo tình hình đó cho Chính phủ của quốc gia cử đại diện;
Đẩy mạnh các quan hệ hữu nghị và phát triển các quan hệ kinh tế, văn hóa, khoa học giũa
quốc gia cử và quốc gia nhận đại diện.
Ngoài chức năng nêu trên, tại Khoản 2 Điều 3 của công ước Viên 1961 còn khẳng
định: “Không một điều khoản nào của Công ước này có thể được giải thích như có ý ngăn
15

Điều 3 Công ước Viên 1961

GVHD: Ths. Kim Oanh Na


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status