Pháp luật Việt Nam về việc bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trong tương quan so sánh với pháp luật Australia - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VIỆC BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM DẦU TRONG TƯƠNG
QUAN SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT AUSTRALIA

Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VIỆC BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM DẦU TRONG TƯƠNG
QUAN SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT AUSTRALIA

Chuyên ngành : Luật quốc
tế

Mã số : 60 38
60


Hà Nội –
2011

MỤC LỤC
Trang Lời cảm ơn
Lời cam đoan

Mục lụcDanh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ
MỞ ĐẦU
1

Chương 1: TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ 5

BỒI THƯỜNG THIỆT DO Ô NHIỄM DẦU

1.1. Thực trạng về ô nhiễm dầu tại Việt Nam và các nước trên 5
thế giới
1.2. Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu và vai trò của chế định bồi 14



2.1.2 Một số văn bản pháp luật chuyên biệt 392.2 Các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về bồi thường 51
thiệt hại ô nhiễm dầu
2.3 Một vài bất cập của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành về 58
chế định bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu
Chương 3: HỆ THỐNG PHÁP LUẬT AUSTRALIA VỀ 66

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM DẦU VÀ
KINH
NGHIỆM

CHO
VIỆT NAM.
3.1. Hệ thống Pháp luật về phòng chống ô nhiễm dầu trên Biển và 66

bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu của Australia (Úc).3.1.1 Giới thiệu khái quát về Australia 66

3.1.2 Các quy định chung của pháp luật
Australia
về ô nhiễm dầu. 683.1.3 Các đạo luật đáng chú ý của Liên bang Australia quy định về 73
trách nhiệm và chế tài liên quan đến ô nhiễm dầu trên biển.


3.1.12 Trách nhiệm hình sự
893.2 Bài học kinh nghiệm và khuyến nghị, đề xuất cho Việt Nam 92
trong việc hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về
bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu.

3.2.1
Sự
cần thiết của việc
kiểm
soát ô
nhiễm dầu

trên
biển bằng Luật 923.2.2 Hoàn thiện các quy định về Ủy ban quốc gia ứng phó sự cố tràn dầu 100
độc lập và
Quỹ

quốc
gia đối phó với nạn ô nhiểm dầu trên biển.
3.2.3 Bổ sung và hoàn thiện các quy định về việc lượng giá các thiệt hại 103
kinh tế do ô nhiễm dầu trong các văn bản pháp luật.
3.2.4 Hoàn thiện các quy định về trình tự thủ tục giải quyết tranh 106
chấp về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu.

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AMSA : Cơ quan an toà n biể n củ a Australia .
BLHS 1999 : Bộ luậ t Hì nh sự năm 1999
BLDS 2005 : Bộ luật dân sự năm 2005.
BLTTDS 2005 : Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005.
BUNKER 2001 : Công ướ c quố c tế về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệ t
hại do ô nhiễ m dầ u từ kho nhiên liệ u củ a tà u , 2001
BTTH : Bồi thường thiệt hại
BVMT : Bảo vệ môi trường
CLC 1992 : Công ướ c quố c tế về trá ch nhiệ m dân sự đố i vớ i cá c thiệ t hạ i
do ô nhiễ m dầ u 1992
CUQT/ ĐUQT : Công ước quốc tế/ Điều ước quốc tế
GT : Tức Gross Ton, bằng 2240 pounds hay 1.016,047kg
(tương đương Tấn)
GTVT : Giao thông vận tải.
HNS 1996 : Công ướ c quố c tế về trá ch nhiệ m dân sự và bồ i thườ ng tổ n thấ t
(thiệt hại) liên quan đế n vậ n chuyể n cá c chấ t nguy hiể m và độ c


DANH SÁCH BẢNG BIỂU

Bảng 3. 1. Nhữ ng sự cố gây ô nhiễ m dầ u tạ i Australia 68
Bảng 3.2: Căn cứ đánh giá mức độ sự cố tràn dầu 73
Bảng 3.3: Mứ c giới hạ n trá ch nhiệ m theo CLC và mứ c bồ i thườ ng theo FC (FUND)
tính đến năm 2003 86
Bảng 3.4: Mứ c giớ i hạ n trá ch nhiệ m C LC và mứ c bồ i thườ ng thiệ t hạ i theo FC
(FUND) từ năm 2003 87
Bảng 3.5: Mứ c bồ i thườ ng theo HNS 1996 88
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài.
Trong những thập niên gần đây, ô nhiễm dầu trở thành một trong những vấn
nạn của nhiều quốc gia vùng ven biển trên thế gới, trong đó có Việt Nam. Thực tế
cho thấy những vụ đắm tàu, tràn dầu đã và đang đe dọa nghiêm trọng đến môi
trường biển trên khắp hành tinh. Do đó đây là một vấn đề không chỉ ở Việt Nam mà
cả thế giới quan tâm.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều các hoạt động khai thác dầu khí và hoạt
động vận tải trên biển. Theo thống kê từ 1987 đến nay đã xảy ra khoảng trên 90 vụ
tràn dầu lớn nhỏ, trong đó có một số vụ điển hình gây ra tình trạng ô nhiễm dầu đặc
biệt nghiêm trọng. Từ đó có tác động tiêu cực đến môi trường, hệ sinh thái và ảnh
hưởng lớn đến sự phát triển bền vững của đất nước mà trước tiên phải kể đến những
thiệt hại đối với nến kinh tế quốc gia như ngành kinh tế thuỷ sản, làm muối, du lịch
và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân. Cũng theo thố ng kê củ a Bộ
Tài nguyên môi trường , lượ ng dầ u trà n làm ô nhiễ m biể n Việ t Nam đến năm 1992 là
7.380 tấ n, năm 1995 là 10.020 tấ n, và theo mức độ gia tăng của vận tải biển , khai
thác dầu khí và công nghiệp hóa , năm 2000 lên đế n 17.650 tấ n. Dự bá o đế n năm
2010, lượ ng dầ u trà n gây ô nhiễ m biể n Việ t Nam có thể lên đế n trên 21.000 tấ n. Tuy

khác phát sinh từ các chất hữu cơ sản sinh cả trên lục địa lẫn trong biển. Chất độc
trong dầu có tác dụng công phá chức năng của màng tế bào và làm tổn hại đến sự
sống, sự phát triển và sự sinh sản của rất nhiều loại sinh vật, chim biển, động thực
vật, thực vật phù du cũng như đời sống của con người.[20]
Từ các nhận định trên cho thấy, việc luật hóa và hoàn thiện hệ thống pháp luật
về việc phòng ngừa, xử lý, khắc phục và BTTH do ô nhiễm dầu tại Việt Nam đã trở
nên cấp bách. Do đó, với mong muốn được nghiên cứu khoa học và để tìm hiểu các
quy định pháp luật về ô nhiễm dầu, một vấn đề tuy không còn mới nhưng đáng báo
động ở nước ta nên học viên đã chọn đề tài: “Pháp luật Việt Nam về việc bồi thường
thiệt hại do Ô nhiễm dầu trong tương quan so sánh với pháp luật Australia” làm
luận văn thạc sỹ của mình. Trên cơ sở nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống các
quy định của pháp luật Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật Australia
(Úc) về cùng một vấn đề là BTTH do ô nhiễm dầu, đề tài sẽ rút ra những bài học kinh
nghiệm cho việc xây dựng và hoàn thiện các quy định về BTTH do ô nhiễm dầu và
phòng ngừa xử lý , khắc phục ô nhiễm dầu ở Việt Nam trong thời gian tới . Đồng thời
sẽ đề xuấ t mộ t số kiế n nghị để sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật Việt Nam hiện
hành liên quan đến ô nhiễm dầu sao cho đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng
có tính đến hoàn cảnh đặc thù của nước ta.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài .
Đề tài “Pháp luật Việt Nam về việc bồi thường thiệt hại do Ô nhiễm dầu trong
tương quan so sánh với pháp luật Australia” có các mục đích và nhiệm vụ chính sau
đây:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về BTTH do ô nhiễm dầu, trong đó có các nội
dung chính như các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề này cũng như vai trò của
chế định BTTH do ô nhiễm dầu trong hệ thống pháp luật quốc gia của Việt Nam.
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện
hành về chế định BTTH do ô nhiễm dầu.
- Trên cơ sở tìm hiều về các quy định trong hệ thống pháp luật của Australia về
cùng một vấn đề này, đề tài sẽ đưa ra những bài học kinh nghiệm cho việc hoàn
thiện các quy định về BTTH do ô nhiễm dầu tại nước ta cũng như các chế định về

biển nói riêng và môi trường nói chung khỏi các sự cố làm ô nhiễm môi trường từ
dầu.
Trên thế giới đã từng chứng kiến những vụ tràn dầu lớn, để lại hậu quả nặng
nề cho môi trường, có thể điểm qua những vụ tràn dầu lớn trên thế giới từ năm 1967
đến năm 2010 như sau: [12, 36]
Ngày 18/3/1967, tại vùng eo biển La Manche (Đại Tây Dương), tàu chở dầu
Torrey Canyon đã mắc cạn ở bờ biển của nước Anh, hệ quả là làm tràn 38 triệu
gallon dầu; Ngày 15/12/1976, tại Vịnh Buzzards, bang Massachusetts, Mỹ, tàu Argo
Merchant va vào đất liền và vỡ tại đảo Nantucket, làm tràn 7,7 triệu gallon dầu;
Ngày 16/3/1976, tại biển Portsall, Pháp, siêu tàu chở dầu Amoco Cadiz làm tràn 68
triệu gallon ; Tháng 4/1977 xảy ra vụ nổ giếng dầu tại dàn khoan dầu Ekofisk khiến
81 triệu gallon dầu thô tràn ra Biển Bắc ; Tháng 7/1995 tàu Iron Baron làm tràn 550
tấ n dầ u bunker ở vù ng biể n Bắ c Tasma nia Australia; Ngày 15/2/1996, tại biển xứ
Wales, siêu tàu chở dầu Sea Empress va vào đất liền tại vịnh Milford Haven, làm
tràn 70 triệu lít dầu thô; Ngày 28/7/2003, tàu chở dầu Tasman Spirit mắc cạn và nứt
làm đôi, làm một trong số 4 bồn chứa dầu bị vỡ, tràn 28.000 tấn dầu thô, tại cảng
Karachi, Pakista; Ngày 7/12/2007, Tàu Hebei Spirit đụng phải một dây thép nối giữa
một tàu kéo và một xà lan làm tràn 2,8 triệu gallon dầu thô tại 5 dặm ngoài khơi bờ
biển phía tây Hàn Quốc.

Hình 1.1: Hình ảnh tràn dầu ở Trung Quốc năm 2010
(theo http:// Vnexpress.net)

Gần đây nhất là ngày 20-24/4/2010, dàn khoan dầu Deepwater Horizon (BP) bị nổ
và chìm khiến 60.000 thùng dầu thô bị tràn mỗi ngày tại vịnh Mexico - Hoa Kỳ và
đây là thảm họa môi trường khủng khiếp nhất mà Mỹ từng phải đối phó. Ít nhất 43
triệu gallon dầu đã tràn ra đại dương kể từ khi giếng dầu Deepwater Horizon bốc
cháy và chìm xuống biển trong tháng 4, lớn hơn rất nhiều con số 11 triệu gallons dầu
do tàu Exxon Valdez gây ra vào năm 1989. Tổng thống Obama đã phả chỉ đạo thực
hiện một chiến dịch có quy mô chưa từng thấy trong lịch sử nước Mỹ để đối phó với

cho vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng
dầu khí với trữ lượng dự báo khoảng 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trong đó trữ lượng khai
thác khoảng 2 tỷ tấn. Do đó khai thác dầu khí ở Việt Nam đứng hàng thứ tư Đông
Nam Á, sau Malaysia, Indonesia và Philippin, đứng thứ 44 trong danh sách các nước
sản xuất dầu lửa trên thế giới. Hiện dầu thô được khai thác tại các dàn khoan Bạch Hổ,
Đại Hùng, Rồng, Rạng Đông Bên cạnh đó, khí đốt cũng được khai thác ở một số dàn
khoan như Bạch Hổ, Thăng Long Tổng công ty dầu khí đang xây dựng dự án khai
thác khí đốt tại vùng Nam Côn Sơn (khu vực Lan Anh, Lan Đổ) Song song với các
hoạt động khai thác và vận chuyển dầu khí tăng lên thì các sự cố gây ô nhiễm cũng
ngày một nhiều lên [23].
Theo thống kê chưa đầy đủ vùng biển nước ta có khoảng 340 giếng khoan
thăm dò và khai thác dầu khí. Từ năm 1986 đến năm 2000 sản lượng dầu thô khai
thác hàng năm của Việt Nam đã tăng từ 40.000 tấn lên 16.500.000 tấn. Quan trắc
chất lượng nước ở các khu công nghiệp dầu khí miền Nam Việt Nam được thực hiện
tại sáu trạm chính. Người ta đánh giá rằng lượng dầu thất thoát từ các giàn khoan
vào biển là 270 tấn năm 1995 và 550 tấn năm 2000. Từ năm 1990 đến 1995 đã có 12
vụ tràn dầu được ghi nhận. Từ năm 1995 đến 2000 đã có 91.497 tấn từ 31 vụ tràn
xảy ra ở biển Việt Nam [23]. Ngoài việc thải nước lẫn dầu với khối lượng lớn, trung
bình mỗi năm hoạt động khai thác dầu khí này còn phát sinh khoảng 5.600 tấn rác
thải dầu khí, trong đó có 20 - 30% là chất thải rắn nguy hại còn chưa có bãi chứa và
nơi xử lý [27]. Ngoài ra, còn có nguyên nhân từ các giàn khoan sau khi dỡ bỏ không
khai thác, các miệng dầu không được bịt kín, gây thất thoát dầu ra bên ngoài làm ô
nhiễm môi trường
Bên cạnh các hoạt động khai thác dầu khí thì hoạt động giao thông vận tải trên
sông trên biển, mà đặc biệt là các vụ tai nạn do đâm va của tàu dầu và tai nạn hàng
hải là một trong những nguồn chính gây ra các sự cố tràn dầu làm ô nhiễm dầu tại
Việt Nam (chiếm khoảng 43% tổng lượng dầu được đưa vào Việt Nam) [27]. Thực
tế ở nước ta trong những năm qua cho thấy với gần 90.000 lượt tàu biển ra vào cảng
biển với tổng dung tích hơn 320 triệu GT, trong đó có 44.224 lượt tàu nước ngoài,
nguy cơ xảy ra tai nạn hàng hải mà đặc biệt là những vụ tai nạn tràn dầu luôn thường

triệu đồng và thiệt hại về ngư nghiệp 122 triệu đồng, chưa kể việc bồi thường phục
hồi môi trường bị suy thoái. Gần đây nhất là vụ 14,5 tấn dầu FO đã tràn ra ngoài bồn
chứa dầu của Nhà máy đường Quảng Phú (thuộc Công ty Cổ phần Đường Quảng
Ngãi) và loang rộng trên sông Trà Khúc. Hậu quả là do số dầu loang trên sông quá
lớn nên khu vực sông từ phường Trần Phú (Thành Phố Quảng Ngãi) trở về hạ lưu bị
ô nhiễm nặng và ảnh hưởng lâu dài đến môi trường sinh thái.
Hình 1.4: Ô nhiễm dầu không rõ nguồn gốc ở ven biển Bà Rịa-Vũng Tàu
năm 2007 (nguồn http://vietbao.vn)
Theo ước tính lượng dầu tràn gây ô nhiễm biển ở nước ta đến năm 1992 là 7.380 tấn,
năm 1995 là 10.020 tấn, và theo mức độ gia tăng của vận tải biển, khai thác dầu khí
và công nghiệp hóa, năm 2000 lên đến 17.650 tấn. Dự báo đến năm 2010, lượng dầu
tràn gây ô nhiễm tại Việt Nam là 21 ngàn tấn [32].
Những vụ tràn dầu trên đã làm cho hàm lượng dầu trong nước biển của Việt
Nam nhìn chung đều vượt giới hạn tiêu chuẩn Việt Nam và vượt rất xa tiêu chuẩn
Hiệp hội các Nước Đông Nam Á (ASEAN). Đặc biệt, có những thời điểm vùng nước
khu vực cảng Cái Lân có hàm lượng dầu đạt mức 1,75 mg/l, gấp 6 lần giới hạn cho
phép; vịnh Hạ Long có 1/3 diện tích biển hàm lượng dầu thường xuyên từ 1 đến 1,73
mg/l [27].
Hậu quả là ô nhiễm môi trường do dầu sẽ làm huỷ hoại các hệ sinh thái động
thực vật trên biển, ven biển, trên sông, các hệ sinh thái nhạy cảm như san hô, rừng
ngập mặn, đặc biệt nó còn tác động trực tiếp và gây nên những thiệt hại kinh tế vô

Hình 1.5: Ô nhiễm và thu gom dầu thải tại Côn Đảo năm 2007
(nguồn http://www.tin247.com)

Mặc dù việc ô nhiễm dầu đã và đang diễn ra rất nghiêm trọng nhưng trên thực
tế hiện nay có tới 77% sự cố tràn dầu trên hải phận Việt Nam chưa được bồi thường
hoặc đang trong quá trình giải quyết[32]. Nguyên nhân là pháp luật của nước ta còn có
nhiều lỗ hổng, cho đến nay chưa có một văn bản chuyên biệt nào quy định cụ thể về
BTTH do ô nhiễm dầu, các quy định liên quan đến ô nhiễm dầu chủ yếu nằm rải rác
trong một số văn bản luật nhưng không rõ ràng và quá chung chung. Thủ tục BTTH
do ô nhiễm dầu nếu có mới chỉ dừng lại ở việc xử lý ngăn chặn còn vấn đề khắc phục
thiệt hại trong tương lai hầu như không được đề cập tới và giải quyết. Trang thiết bị
phục vụ cho công tác ứng cứu khi có các SCTD hoặc để tính toán, đo đạc mức độ thiệt
hại của nước ta cũng rất thiếu. Các cơ quan chức năng thiếu kinh nghiệm và rất lúng
túng trong việc xử lý các sự cố tràn dầu và giải quyết các vụ việc liên quan đến BTTH
do ô nhiễm dầu. Do đó cần thiết phải có điều chỉnh một cách toàn diện bằng công cụ
pháp luật để giải quyết triệt để những thiếu xót nêu trên.
1.2 Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu và vai trò của chế định bồi thường thiệt
hại do ô nhiễm dầu.
1.2.1 Một số khái niệm về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu.
Chúng ta biết rằng, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm là một vấn đề không phải
mới nhưng cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện cả phương diện lý luận và

môi trường, ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái và thiệt hại đến các hoạt động kinh tế,
đặc biệt là các hoạt động có liên quan đến khai thác và sử dụng các dạng tài nguyên
thuỷ sản.
- Khái niệm thiệt hại và thiệt hại do ô nhiễm dầu:
Theo nghĩa thông thường và theo pháp luật của nhiều nước trên thế giới thì:
“thiệt hại là tổn thất và mất mát về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của
cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ.

Tại Việt Nam vấn đề thiệt hại và BTTH
được quy định tại BLDS 2005(điều 307) và Luật BVMT 2005(điều 131). Theo đó,
có hai loại thiệt hại : 1, Thiệt hại đối với môi trường tự nhiên; 2, Thiệt hại về sức
khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra. Cụ
thể, tại điều 307, BLDS 2005 quy định:
1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần.
2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất
vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài
sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị
mất hoặc bị giảm sút. …………
Mặc dù pháp luật Việt Nam chưa đưa ra định nghĩa thế nào là thiệt hại do ô
nhiễm dầu nhưng theo học viên thì thiệt hại do ô nhiễm dầu được hiểu là những tổn
thất, mất mát cho môi trường, cho nền kinh tế, cho sức khỏe và tính mạng của người
dân khi có các hành vi làm ô nhiễm dầu mà chủ yếu từ sự cố tràn dầu gây ra. Do
đó, bất cứ ai (có thể là công dân, pháp nhân của Việt Nam hay của nước ngoài ) có
hành vi làm ô nhiễm dầu và gây thiệt hại cho chủ thể khác (nhà nước Việt Nam,
công dân, pháp nhân Việt Nam ) trên lãnh thổ Việt Nam, thì phải có nghĩa vụ BTTH
theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Khái niệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu: Bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm dầu là việc một hay nhiều chủ thể (người có nghĩa vụ) phải có trách nhiệm đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status