BỘ KHOA HỌC VÀCÔNG NGHỆ VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆT NAM ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
XÂY DỰNG CƠ SỞ KHOA HỌC, PHÁP LÝ CHO VIỆC
ĐÁNH GIÁ VÀ ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô
NHIỄM DẦU GÂY RA TRÊN VÙNG BIỂN VIỆT NAM
MÃ SỐ: ĐTĐL.2009G/10 Cơ quan chủ trì đề tài: Viện tài Nguyên và Môi trường biển
Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS. Đỗ Công Thung
GÂY RA TRÊN VÙNG BIỂN VIỆT NAM
Chủ nhiệm đề tài: Cơ quan chủ trì đề tài PGS. TS. Đỗ Công Thung PGS. TS. Trần Đức Thạnh Hải Phòng – 2011 1
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC BẢNG 9
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ 9
MỞ ĐẦU. TỔNG QUAN NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 10
1. Bối cảnh thực hiện nhiệm vụ (tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực
khoa học pháp lý của Đề tài) 11
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu chính 12
3. Các nội dung cụ thể và s
ản phẩm cần đạt theo Hợp đồng NCKH &PTCN 13
4. Kết quả thực hiện theo tiến độ so với Hợp đồng NCKH &PTCN và quyết định gia
hạn của Bộ Khoa học và Công nghệ 14
5. Phạm vi nghiên cứu của Đề tài 16
6. Cách tiếp cận vấn đề và phương pháp nghiên cứu 18
7. Nhận xét, đánh giá chung về kết quả thực hiện đề tài 18
2.1. Khung pháp luật quốc tế về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên
vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia 66
2.1.1. Các tổ chức quốc tế chuyên sâu về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên
biển 66
2.1.1.1. Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) 66
2.1.1.2. Ủy ban hàng hải quốc tế (CMI) 69
2.1.1.3. Các quỹ quốc tế về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu 69
2.1.1.4. Các cơ quan tài phán quốc tế 71
2.1.2. Tổng quan hệ thống điều ước quốc tế chuyên sâu về bồi thường thiệt
hại do ô nhiễm dầu trên biển 73
2.2. Các quy định pháp luật quốc tế về xác định trách nhiệm pháp lý đối với thiệt
hại,
đánh giá thiệt hại và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên
vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia 75
2.2.2. Các điều ước và hoạt động của Ủy ban Hàng hải quốc tế (CMI) 76
2.2.3. Xác định trách nhiệm pháp lý đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu trên
biển theo quy định của các điều ước quốc tế và hoạt động của
Tổ chức hàng hải quốc t
ế (IMO) 77
2.2.3.1. Công ước về can thiệp ngoài Biển cả trong các trường hợp sự cố ô nhiễm
dầu năm 1969 và Nghị định thư liên quan đến việc can thiệp ngoài Biển
cả trong các trường hp ô nhiễm do các chất khác không phải dầu, năm
1973 (Công ước can thiệp) 77
3
2.2.3.3. Công ước về trách nhiệm và bồi thường thiệt hại gắn liền với việc
vận chuyển bằng đường biển các chất độc hại và nguy hiểm
(HNS 1996) 85
2.2.4. Quy định của các điều ước quốc tế về thu thập chứng cứ và đánh giá
thiệt hại phục vụ quy trình đòi bồi thường do ô nhiễm dầu 86
2.3.3.12. Singapore 142
2.3.3.13. Philippines 144
2.3.3.14. Australia 145
2.3.3.15. New Zealand 147
2.3.4. Một số án lệ về bồi thường do ô nhiễm dầu trên biển 149
2.3.4.1. Vụ Erika (Pháp) 149
2.3.4.2. Một số vụ việc đáng chú ý khác ở Anh và Pháp 150
2.3.4.3. Vụ Mary Mackin (Canada) 150
2.3.4.4. Các vụ việc đòi BTTH Từ Quỹ SOPF (Canada) 151
2.3.4.5. Vụ Texaco (Hoa Kỳ) 152
2.3.4.6. Vụ Nissos Amorgos (Venezuela – Quỹ FUND 1971) 152
2.3.4.7. Vụ Hebei Spirit (Hàn Quốc) 153
2.3.4.8. Vụ Shosei Maru (Nhật Bản) 154
2.3.4.9. Vụ Evoikos (Singapore) 156
2.3.4.10. Một số kết luận về bài học từ các hệ thống án lệ rút ra cho
Việt Nam 156
2.3.5. Các điều kiện bảo đảm cho việc xây dựng và thực thi hiệu quả
quy trình pháp lý đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm
dầu trên biển 157
2.4. Một số kinh nghiệm quốc tế, n
ước ngoài cần được nghiên cứu vận dụng đối với
Việt Nam 160
2.4.1. Kinh nghiệm có thể vận dụng từ các điều ước quốc tế 160
2.4.2. Một số vấn đề cần lưu ý vận dụng từ kinh nghiệm pháp luật nước
ngoài 163
CHƯƠNG III. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ ĐÒI BỒI THƯỜNG THI
ỆT HẠI DO Ô
NHIỄM DẦU TRÊN VÙNG BIỂN VIỆT NAM 166
3.1. Thực trạng khung pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu
VIỆT NAM 226
4.1. Cơ sở và căn cứ của việc xây dựng quy trình pháp lý chuẩn về đòi bồi thường
thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển Việ
t Nam 226
4.1.1. Cơ sở chung về chính trị, kinh tế - xã hội 226
4.1.2. Cơ sở khoa học công nghệ: Quy trình công nghệ về đánh giá thiệt hại do ô
nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam 230
4.1.3. Cơ sở khoa học pháp lý 231
4.2. Nội dung quy trình pháp lý chuẩn về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu
trên vùng biển Việt Nam 252
4.2.1. Quy trình pháp lý về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng biển
Việt Nam giữa các tổ chức/cá nhân trong nước 252
6
4.2.2. Quy trình pháp lý về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng
biển Việt Nam trong vụ việc có yếu tố nước ngoài) 276
4.3. Xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật về quy trình đòi bồi thường thiệt hại
do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển 297
4.3.1. Bảng tổng hợp khái quát chung 297
4.3.2.Các nội dung giải trình về phương án xây dựng và hoàn thiện các quy định
pháp luật 299
4.4. Xây dự
ng hồ sơ pháp lý về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển
Việt Nam 301
4.5. Những điều kiện bảo đảm cho việc xây dựng và thực thi hiệu quả quy trình pháp lý
chuẩn về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển
Việt Nam 310
CÁC PHỤ LỤC 316
PHỤ LỤC I: Bảng thống kê t
ổng hợp các vụ tràn dầu lớn trên thế giới trong
ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự
BLDS Bộ luật Dân sự
BTTH Bồi thường thiệt hại
BVMT Bảo vệ môi trường
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CLC Internationl Convention on Civil Liability for Oil Pollution
Damage – gọi tắt là Civil Liability Convention – CLC (Công ước
quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu)
CMI Ủy ban Hàng hải quốc tế (tên viết tắt tiếng Anh)
ĐƯ
QT Điều ước quốc tế
FO Fuel Oil (dầu thô, dầu mỏ)
FC International Convention on Oil Pollution Compensation Fund
(Công ước quốc tế về bồi thường do ô nhiễm dầu)
GTVT Giao thông vận tải
HST Hệ sinh thái
HNS International Convention on Liability and Compensation for
Damage in Connection with the Carriage of Hazardous and
Noxious Substances by Sea (Công ước quốc tế về trách nhiệm và
bồi thường tổn thất liên quan đến vận chuyển các chất nguy hiểm
và độc hại bằng đường biển)
IOPC International Oil Pollution Compensation Fund (Quỹ quốc tế về bồi
th
ường do ô nhiễm dầu)
ITOPF International Tanker Owner Pollution Federation (Liên đoàn chủ
tàu chở dầu quốc tế)
IMO International Maritime Organization (Tổ chức Hàng hải Quốc tế)
KHCN&MT Khoa học công nghệ và môi trường
hải sản 89
Bảng 4. Các tiêu chí lượng hóa tổn thất kinh tế trong hoạt động nuôi trồng
hải sản 89
Bảng 5. Các tiêu chí lượng hóa tổn thất kinh tế trong hoạt động chế biến
hải sả
n 90
Bảng 6.So sánh tình hình gia nhập các điều ước quốc tế của Việt Nam và
một số nước 168
Bảng 7. So sánh hiện trạng pháp luật của Việt Nam và một số nước 174
Bảng 8. Bảng tổng hợp khái quát chung về hệ thống QPPL ………………… 297
Bảng 9. Tổng hợp các nội dung giải trình về hoàn thiện các quy định về
cơ chế giải quyết yêu c
ầu BTTH do ô nhiễm dầu trên vùng biển
Việt Nam 397
Bảng 10. Tổng hợp nội dung giải trình về Quy trình đánh giá và đòi
BTTH do ô nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam……………………… 404
10
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ Hình 1. Sơ đồ các bên liên quan trong vụ việc ô nhiễm dầu……………………….35
Hình 2: Ba cấp độ bồi thường được thiết lập bởi các Công ước quốc tế………… 84
Hình 3. Sơ đồ quy trình đòi bồi thường từ IOPC-FUND…………… ……………….96
Hình 4 :Sơ đồ quy trình đòi bồi thường ô nhiễm dầu ở Anh………………….…….116
Hình 5. Quy trình tổng thể về đánh giá thiệt hại và khôi phục nguồn lợi tự nhiên
ở Hoa Kỳ………………………………………………………………………….124
Hình 6. Các bước đánh giá thiệt hại ngu
biển, trên thế giới và ở các nước, đã có nhiều công trình, hoạt động nghiên cứu về
vấn đề này. Những nghiên cứu đó, ở phạm vi và mức độ nhất định, đã đề cập đến
các vấn đề lý luận và th
ực tiễn đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu
gây ra trên các vùng biển theo những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau.
i) Thứ nhất, đã có một số công trình nghiên cứu trực tiếp về đánh giá, đòi
bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển.
ii) Thứ hai, các công trình nghiên cứu chứng tỏ bước phát triển mới về trình
độ KH&CN trong lĩnh vực ứng phó, x
ử lý và khắc phục ô nhiễm môi trường biển
do dầu; đặc biệt là đã góp phần thể hiện rõ những thành tựu xây dựng pháp luật
quốc tế về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên biển.
iii) Thứ ba, chưa có công trình nào đề cập và giải quyết toàn diện, thấu đáo cả
về lý luận và thực tiễn hoạt động đánh giá và đòi bồi thường thiệ
t hại do ô nhiễm
dầu gây ra trên các vùng biển Việt Nam.
Ở Việt Nam, đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên
các vùng biển là vấn đề pháp lý khá phức tạp nhưng chưa được đầu tư nghiên cứu,
thực thi một cách thoả đáng trong thời gian qua. Hoạt động nghiên cứu khoa học về
đánh giá, đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng biển Việt Nam còn
rất hạ
n chế. Cho đến trước thời điểm triển khai Đề tài, chưa có một công trình (đề
tài, dự án) cấp Nhà nước nào về vấn đề này. Một số hoạt động hay công trình
nghiên cứu đã triển khai có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đều mới chỉ dừng lại ở
cấp Bộ, ngành, địa phương hoặc do một số chuyên gia, nhà khoa học thực hiện theo
tính chất cá nhân đơn lẻ. Nhà nước, các cơ quan tổ chức có trách nhiệm và cộng
đồng cư dân các địa phương ven biển đã triển khai và xúc tiến nhiều hoạt động
nhằm ứng phó, kh
ắc phục các sự cố tràn dầu trên vùng biển Việt Nam. Tuy vậy,
những nỗ lực nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm biển do dầu ở Việt Nam vẫn còn rất
nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học pháp lý cũng như trong mối liên h
ệ với những
nhân tố như: con người, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, hội nhập và hợp
tác quốc tế…chưa được phân tích, đánh giá một cách đầy đủ. Vì vậy mà cho đến
nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào về đánh giá, đòi bồi thường thiệt hại
do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển Việt Nam đáp ứng yêu cầu là tài liệu
tham khảo phục vụ đầy đủ
và hiệu quả cho các cơ quan, tổ chức hữu quan trong
việc xây dựng và thực thi pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Tình hình đó đã và đang ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của việc khắc
phục các sự cố ô nhiễm biển do dầu ở nước ta. Với thực tế rõ ràng là, nguy cơ và
hậu quả của ô nhiễm biển do dầu ngày càng gia tăng và là thách thức
đối với tất cả
các cấp, các ngành từ cấp Trung ương đến các địa phương ven biển, đang đặt ra yêu
cầu hết sức cấp thiết là khẩn trương xúc tiến việc nghiên cứu, xây dựng cơ sở khoa
học pháp lý về đánh giá, đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các
vùng biển Việt Nam bằng một đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp Nhà nước.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu chính
Nhiệm vụ nghiên cứu “Xây dựng cơ sở pháp lý cho việc đánh giá và đòi bồi
thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam” là một hợp phần thuộc
Đề tài độc lập cấp Nhà nước “Xây dựng cơ sở khoa học, pháp lý cho việc đánh giá
và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển Việt Nam” (mã số
:
ĐTĐL.2009 G/10, thời gian thực hiện 2009 – 2011) được giao cho Trung tâm Luật
biển và hàng hải quốc tế (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội) chủ trì thực hiện,
cùng với Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Viện Khoa học và Công nghệ Việt
Nam) là cơ quan chủ trì của Đề tài ĐTĐL.2009 G/10.
13
- Các giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật Việ
t Nam về đòi bồi thường
thiệt hại do ô nhiễm dầu trên biển
- Xây dựng Quy trình pháp lý về đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm dầu trên các vùng biển Việt Nam
- Kế hoạch phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan nhằm ứng dụng kết
quả nghiên cứu của đề tài.
3. Các nội dung công việc cụ thể và sản phẩm cần đạt theo Hợ
p đồng NCKH
&PTCN số 10/2009G/HĐ ngày 21/01/2009 giữa Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện
Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Tài nguyên và Môi trường biển và Hợp
đồng số 01/ĐTĐL.2009 G/10 ngày 06/8/2009 giữa Viện Tài nguyên và Môi trường
biển với Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế; sau đây viết tắt là Hợp đồng)
* Bộ tư liệu về cơ sở pháp lý phục vụ bồi thường thiệt hạ
i do ô nhiễm dầu
14
* Bộ chuyên khảo khoa học về:
- Quy trình đòi bồi thường thiệt hại do sự cố ô nhiễm dầu gây ra đối với tài
nguyên và môi trường biển trên thế giới và ở Việt Nam
- Báo cáo tổng hợp cơ sở pháp lý về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu
gây ra trên vùng biển Việt Nam và đề xuất quy trình pháp lý về đánh giá và đòi bồi
thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng bi
ển Việt Nam
- Báo cáo tổng hợp các giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên biển
* Các hoạt động bổ trợ: Kỷ yếu hội thảo, tọa đàm khoa học; Báo cáo điều
tra- khảo sát thực tế (trong nước và nước ngoài); các bài báo khoa học được công
bố; sách chuyên khảo (tham gia biên soạn) và các sản phẩm khác
về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên biển.
4.2. Các hoạt động bổ trợ
15
4.2.1. Xây dựng Bộ tư liệu tham khảo quốc tế, nước ngoài và Việt Nam;
trong đó có sản phẩm dịch một số tư liệu cần thiết từ tiếng nước ngoài sang tiếng
Việt.
4.2.2. Hoạt động hợp tác quốc tế: Tổ chức thành công 01 Đoàn ra (đi khảo
sát kinh nghiệm thực tế tại Hàn Quốc (tháng 9/2010).
4.2.3. Tổ chức 01 hội thảo khoa học và các tọa đàm khoa học; tham gia các
hội thảo khoa học của cơ quan chủ trì đề tài.
4.2.4. Khảo sát ý kiến chuyên gia (theo phương pháp điều tra xã hội học)
4.2.5. Các bài báo đã công bố (chỉ tiêu đăng ký là 03 bài)
Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế đã công bố 04 bài báo trên các tạp
chí trong nước, 01 bài báo tham gia hội thảo tại Viện Biển Hàn Quốc (KMI) trong
tháng 9/2010, các báo cáo khoa học tham gia hội thảo trong nước (02 hội thảo của
Viện Tài nguyên và Môi trường biển; 01 Hội thảo của Trung tâm Lu
ật biển và hàng
hải quốc tế). Cụ thể là:
1. PGS.TS. Nguyễn Bá Diến, Tổng quan pháp luật Việt Nam về phòng,
chống ô nhiễm dầu ở các vùng biển, Tạp chí Khoa học Kinh tế-Luật, Đại
học Quốc gia Hà Nội, số 4/2008;
2. PGS.TS. Nguyễn Bá Diến – Nguyễn Hùng Cường, Cơ chế giải quyết
tranh chấp trên biển theo Công ước Luật biển 1982, Tạp chí Khoa họ
c
Kinh tế-Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 1/2009;
3. PGS.TS. Nguyễn Bá Diến, Pháp luật Việt Nam về phân vùng, quản lý
tổng hợp vùng ven bờ biển, Tạp chí Khoa học Kinh tế-Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội, số 3/2010;
4. PGS.TS. Nguyễn Bá Diến, Tổng quan pháp luật quốc tế về phòng chống
c
viên cao học Nguyễn Văn Hải thực hiện (niên khóa 2006-2009) tại Khoa
Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Vấn đề bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên biển theo pháp luật quốc
tế và pháp luật nước ngoài, học viên cao học Nguyễn Song Hà thực hiện
(niên khóa 2007-2010) tại tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Pháp luật Việt Nam về việc bồi thường thiệ
t hại do ô nhiễm dầu trong
tương quan so sánh với pháp luật Australia, học viên cao học Nguyễn Thị
Ánh Nguyệt thực hiện (niên khóa 2007 -2010) tại Khoa Luật – Đại học
Quốc gia Hà Nội.
4. Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu theo pháp luật Trung Quốc, Nhật Bản
và pháp luật Việt Nam, học viên cao học Nguyễn Thiên Triệu thực hiện
(niên khóa 2007 -2010) thực hiện tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội.
5. Pháp luật quốc tế về chống ô nhiễm dầu trên biển liên hệ v ới pháp luật
Việt Nam, học viên cao học Trần Thúy Bình thực hiện (niên khóa 2009 –
2011) tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
5. Phạm vi nghiên cứu của Đề tài
5.1. Theo thuyết minh của Viện Tài nguyên môi trường biển – triển khai
mảng nghiên cứu về khoa học công nghệ
Thuyết minh Đề tài của Viện Tài nguyên môi trường biển xác định
phạm vi
không gian nghiên cứu là phạm vi không gian dọc giải ven bờ Việt Nam cụ thể là:
+ Những vấn đề nghiên cứu và đánh giá tổng quan, được thực hiện cho cả
dải ven bờ Việt Nam. Ranh giới phía Bắc được tính từ Móng Cái (cửa sông biên
giới Ka Long) và ranh giới phía Nam là mũi Cà Mau (mũi đất cuối cùng của Việt
Nam)
+ Các vấn đề nghiên cứu chi tiết được tập trung vào 04 vùng biển ven bờ và
một số đảo c
pháp lý cho việc đánh giá và đòi BTTH do ô nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam,
Đề tài phải đảm bảo xác định phạm vi như đã xác định trong quy chế pháp lý này,
mà không thể giới hạn phạm vi không gian gần bờ như thuyết minh của Viện Tài
nguyên và Môi trường biển.
Ô nhiễm dầu trên biển có nguồn gốc từ
các sự cố tràn dầu có thể xảy ra ngoài
khơi nhưng hậu quả thiệt hại thường lại phát sinh tại vùng ven bờ biển, do dầu bị
sóng gió làm táp vào vùng ven biển, bờ biển. Do đó, khi nghiên cứu về vấn đề này,
cần xác định thêm phạm vi không gian nghiên cứu còn phải là khu vực ven biển.
Theo quy định của Chính phủ Việt Nam hiện hành (Nghị định số 25/2009/NĐ-CP
ngày 06 /3 /2009 của Chính phủ về quản lý tổng hợ
p tài nguyên và bảo vệ môi
trường biển, hải đảo), vùng ven biển là vùng chuyển tiếp giữa lục địa và biển, bao
gồm vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển được xác định theo ranh giới hành
chính để quản lý. Ranh giới hành chính này có thể căn cứ vào quy chế khu vực biên
giới trên biển (theo Luật Biên giới quốc gia năm 2003 và Nghị định 140/2004/NĐ-
CP ngày 25/6/2004 cuả Chính phủ quy định chi tiết một số đ
iều của Luật Biên giới
quốc gia) tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã,
phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo. Đây cũng là khu vực thuộc phạm vi
nghiên cứu của Đề tài ở khía cạnh khoa học pháp lý.
18
6. Cách tiếp cận vấn đề và phương pháp nghiên cứu
Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế đã sử dụng hợp lý và đúng đắn các
cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu như đã trình bày trong Thuyết minh, đó là tiếp cận
lịch sử, tiếp cận hệ thống và tiếp cận liên ngành. Phương pháp nghiên cứu chính
được sử dụng là:
- Các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa họ
c pháp lý.
- Xây dựng quy trình pháp lý chuẩn về đánh giá và đòi BTTH do ô nhiễm
dầu trên vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia; trên cơ sở đó xác định những
điểm tồn tại, hạn chế của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành và đề xuất các giải
pháp từ tổng thể đến cụ thể về
sửa đổi, bổ sung các VBPL và quy định nhằm hoàn
thiện chế định về BTTH do ô nhiễm dầu trên các vùng biển.
* Về xây dựng quy trình pháp lý đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam
19
- Trong sản phẩm của Đề tài ĐTĐL.2009 G/10, kết quả của mảng khoa học
công nghệ do Viện Tài nguyên và môi trường biển thực hiện có Quy trình khoa học
công nghệ về đánh giá thiệt hại do ô nhiễm dầu đối với môi trường biển. Kết quả
này, theo nguyên lý chung và mục tiêu, nhiệm vụ của Đề tài, cần phải được thể hiện
trong Quy trình pháp lý về đánh giá và đòi bồi thường thiệt hạ
i (luật hóa các nội
dung khoa học công nghệ của Quy trình).
- Trong quá trình thực hiện Đề tài, Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế
đã cố gắng tìm hiểu, thu nhận thông tin về kết quả nghiên cứu xây dựng Quy trình
khoa học công nghệ của Viện Tài nguyên và Môi trường biển để phản ánh và
chuyển tải vào trong Quy trình pháp lý của Đề tài.
Đây là điểm mới và đóng góp quan trọng nhất của công trình nghiên cứu
này. Những nội dung mới này có ý ngh
ĩa lớn trong việc bổ sung và làm phong phú
thêm hệ thống cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn về BTTH do ô nhiễm dầu ở các
vùng biển. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu của Đề tài có giá trị tham khảo trực tiếp cho
các cơ quan, tổ chức hữu quan tham gia công tác nghiên cứu, xây dựng chính sách,
pháp luật về quản lý tài nguyên môi trường biển nói chung và lĩnh vực phòng
chống, khắc phục và xử lý hậu quả củ
a sự cố ô nhiễm dầu trên các vùng biển và ven
carbon lỏng nào có trong tự nhiên trên trái đất, có thể được xử lý hoặc không xử lý
để phù hợp cho việc vận chuyển.
Dầu thô, hay còn gọi dầu mỏ (tiếng Anh là petroleum hay crude oil; gốc
tiếng Hy Lạp: petra - đá và elaion - dầu; hay tiếng Latin oleum - dầu), một hỗn hợp
các chất ở dạng lỏng, sánh không tan trong nước và nhẹ hơn nước, tồn tại trong các
lớp đất đá tại một số nơi trong vỏ Trái Đất. Thành phần của dầu mỏ bao gồ
m các
hydrocacbon (RH) có cấu trúc khác nhau và có thể phân thành 03 loại: các
hydrocacbon mạch thẳng; hydrocacbon mạch vòng; hydrocacbon thơm; ngoài ra
trong dầu mỏ còn có các hợp chất chứa oxy (các axit, xeton, rượu), các hợp chất
chứa nitơ (indol, carbazol ), hợp chất chứa lưu huỳnh (nhựa đường, bitum).
Theo quy định của pháp luật Việt Nam (Quy chế hoạt động ứng phó sự cố
tràn dầu ban hành kèm theo Quyết định số 103/2005/QĐ- TTg ngày 12/05/2005 của
Thủ tướng Chính phủ, Điều 2.1 (a)), dầu bao gồm: dầu thô, dầu thành phẩm và các
loại khác như dầu thải, nước lacanh.
1.1.2. Ô nhiễm dầu và các khái niệm có liên quan
1.1.2.1. Môi trường biển, hệ sinh thái biển
* Môi trường [34][256][257][258][335]
Dưới góc độ khoa học pháp lý, môi trường là tổng thể
các yếu tố tự nhiên –
xã hội có quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, tác động tới cuộc sống
và sự phát triển thể chất và tinh thần của con người, xã hội, đồng thời chịu sự tác
động trở lại của con người. Năm 1975, Hội nghị quốc tế đầu tiên của Liên hợp
quốc về môi trường (tổ chức tại Thuỵ Điển) đ
ã đưa ra định nghĩa:“Môi trường là
điều kiện cho con người sinh sống và những cơ hội để phát triển trí tuệ, tinh thần
và đạo đức xã hội”. Năm 1992, tại Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển
(Rio de Janeiro, Brazin), khái niệm môi trường được đưa ra còn bao hàm cả sự tác
động của con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triể
đưa ra các định nghĩa khác nhau về ô nhiễm môi trường. Tiếp thu quan điểm của
luật quốc tế, Luật b
ảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005 định nghĩa ô nhiễm môi
trường là “sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu
chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”. Ngoài ra, Luật này
còn nêu định nghĩa về “suy thoái môi trường”, “sự cố môi trường”; theo đó, “suy
thoái môi trường” là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi
trường, gây ảnh hưởng x
ấu đối với con người và sinh vật; “sự cố môi trường” là tai
biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất
thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm
trọng.
* Ô nhiễm môi trường biển [214][235][252][304][459]
Công ước Luật biển năm 1982 quy định tại Điều 1 khoản 4: “Ô nhiễm môi
trường biển (pollution du milieu marin) là việc con người trực ti
ếp hoặc gián tiếp
đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông,
khi việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi
sinh vật, và đến hệ thống động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe
con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc
đánh bắt hải sản và
các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển
về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển” [1].
Ngoài việc đưa ra khái niệm ô nhiễm môi trường biển, Công ước Luật biển
năm 1982 (tại mục V phần XII) xác định các loại nguồn chủ yếu dẫn đến ô nhiễm
g
ồm: Ô nhiễm bắt nguồn từ đất liền (Điều 207); Ô nhiễm do hoạt động liên quan
22
đến đáy biển thuộc quyền tài phán quốc gia và hoạt động tiến hành trong Vùng gây
hàng hải và các tai nạn của các con tàu chiếm 46-47%. Hàng năm, số lượng khoảng
02 tỷ tấn dầu các loại được chuyên chở
bằng đường biển, cho thấy khả năng gây ô
nhiễm biển do dầu từ hoạt động hàng hải là rất lớn.
(ii) Ô nhiễm dầu do hoạt động dầu khí (thăm dò, khai thác, vận chuyển) trên
biển: Cho đến nay, dầu đã được tìm thấy ở thềm lục địa và biển của trên 30 nước,
những vùng có khả năng và khối lượng khai thác lớn là Biển Bắc, vịnh Pecxich,
Tây Nam Phi, Vịnh Mehico, Bắc M
ỹ Theo tính toán của các nhà khoa học, lượng
dầu thất thoát khi khai thác chiếm 0,23% (chỉ riêng một lô khai thác dầu của Anh
hoạt động 05 năm trên biển đã đổ ra biển 1.430 tấn dầu thô).
1
Theo báo cáo đánh giá về hiện trạng môi trường biển của nhóm GESAMP 1990, tỷ lệ các hoạt động của
con người gây ô nhiễm cho môi trường biển là: Các hoạt động dầu khí ngoài khơi: 1%; Giao thông biển:
12%; Nhận chìm: 10%; Phù sa và ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền : 44%; Ô nhiễm từ khí quyển: 33%.
23
(iii) Ô nhiễm dầu do sự cố, tai nạn của tàu biển xảy ra trên biển : Nguồn gây
ô nhiễm do các tàu biển bị tai nạn, sự cố trên biển chỉ chiếm 15 -25% số vụ ô nhiễm
dầu, nhưng khối lượng dầu đổ xuống biển lại rất lớn. Tai nạn gây tràn dầu làm nước
biển bị ô nhiễm để lại hậu quả, tổn hại lớn về cả
nh quan, môi sinh, thiệt hại cho
nguồn lợi thuỷ sản Có thể kể đến một số vụ tai nạn tràn dầu điển hình trên thế giới
như: Tàu Amoco Cadiz đắm ngày 16/3/1978 tại vùng biển Porstall của Pháp đổ ra
biển 223.000 tấn dầu; tàu Exxon Valdez tràn 40.000 tấn dầu thô xuống biển gây
thiệt hại lớn vào năm 1989; dàn khoan lớn nhất của công ty dầu khí Brazin
Petrobras bị sự cố làm tràn 26.000 tấn dầu ra biển tháng 3/2001; vụ nổ giàn khoan
của công ty BP (Anh) trên vịnh Mexico (Hoa Kỳ) năm 2010 làm tràn hơn 170 triệu
lít dầu trên một vùng khoảng 240 km vùng biển và bờ biển Hoa Kỳ…[454].
tài sản của cá nhân do ô nhiễm môi trường gây nên. Tuy nhiên, đến nay hầu hết các
nước trên thế giới đều cho rằng thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên biển bao gồm
các thiệt hại về tài nguyên và môi trường, bao gồm cả thiệt hại các giá trị trực tiếp,
gián tiếp của các hệ sinh thái biển và các hoạt động kinh tế cũng như sức khỏe cộng
đồng. Ngoài ra các thiệt hại kinh tế
phải bỏ ra để khắc phục sự cố tràn dầu và phục