BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ BẢO HIỂM
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
VŨ MINH HẢI
HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ BẢO HIỂM
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
VŨ MINH HẢI
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VŨ THỊ DUYÊN THỦY
học còn hạn chế nên luận văn sẽ không ừánh khỏi những thiếu sót. Tác giả
mong nhận được những ý kiến đóng góp nhiệt tình để có thể hoàn thiện hơn
nữa đề tài nhằm phục vụ tốt hơn trong công tác thực tế cũng như những
nghiên cứu khoa học sau này.
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG.. 10
1.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường...................... 10
1.2. Chủ thể được bồi thường do ÔNMT ........................................................ 21
1.3. Bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường ...... 22
1.3.1. Hình thức của bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi
trường ............................................................................................................ 25
1.3.2. Đối tượng, phạm vi và sự kiện bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do ô nhiễm môi trường ................................................................................... 26
1.3.3. Thời hạn bảo hiểm ................................................................................ 29
1.3.4. Mức phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường.......................................................... 29
1.4. Pháp luật bảo hiểm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường ........... 31
1.5. Các yếu tố chi phối đến pháp luật và thực thi pháp luật bảo hiểm trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường ....................................... 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG..................................... 35
2.1. Thực trạng quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi
nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường ....................................... 62
3.2.1. Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm
môi trường ..................................................................................................... 62
3.2.2. Hoàn thiện các quy định pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do ô nhiễm môi trường ............................................................................. 64
3.3 Các giải pháp hỗ trợ việc thực thi có hiệu quả pháp luật bảo hiểm trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường ....................................... 68
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Ý Nghĩa
1
BLDS
Bộ luật Dân sự
2
BVMT
Môi trường và tài nguyên
8
TN&MT
Tài nguyên và môi trường
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình tồn tại và phát triển của loài người là quá trình đấu tranh để
cải tạo và hòa hợp với thiên nhiên. Quá trình đó chịu sự tác động của thiên
nhiên theo hai hướng tích cực và tiêu cực. Sự tác động tiêu cực của thiên
nhiên như bão, lũ lụt, động đất, hạn hán… , là những thiên tai có thể gây ra
những thiệt hại đối với đời sống của con người, gây nên những hậu quả cho
con người, tài sản của họ và gây ra những thiệt hại cho môi trường. Trước
thực trạng trên, bên cạnh những biện pháp mang tính phòng ngừa nhằm hạn
chế hoặc loại trừ những nguyên nhân gây ra những thiệt hại này, con người
(đặc biệt là Nhà nước) còn thực hiện những biện pháp nhằm giúp đỡ những tổ
chức, cá nhân gặp rủi ro khắc phục các hậu quả như sự cứu tế, cứu trợ của
Nhà nước, xã hội; lập các quỹ dự phòng để bù đắp các tổn thất và bảo hiểm
nhân thọ hoặc phi nhân thọ cho những trường hợp này.
Bên cạnh đó, hoạt động của con người cũng có thể gây ra những thiệt
hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho những người khác và những thiệt hại
chung cho chất lượng môi trường sống. Theo nguyên tắc chung của pháp luật
dân sự thì tổ chức, cá nhân nào có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại về
tính mạng sức khỏe, tài sản của tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường cho
người bị thiệt hại. Thiệt hại xảy ra có thể gây ra những tổn thất vượt quá khả
năng tài chính của người có trách nhiệm bồi thường và nếu hậu quả không
giá trị thực tiễn cao, góp phần thực thi có hiệu quả quy định của Luật Bảo vệ
môi trường 2014.
Do đó, việc xem xét các vấn đề lý luận, đánh giá các quy định hiện
hành về bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường có
giá trị cả về lý luận và thực tiễn.
2
Từ những lý do trên đây, em xin chọn đề tài “Những vấn đề pháp lý
về bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường”
làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Với kinh nghiệm và kiến thức pháp luật còn nhiều hạn chế nên đề tài
không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được quý thầy cô đóng góp ý kiến
để đề tài được hoàn thiện, góp phần thúc đẩy có hiệu quả thị trường bảo hiểm
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường nhằm hạn chế những
rủi ro cho cả bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi
trường đã đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các luật gia, cũng như
những người làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực quản lý môi trường. Ở các
mức độ và phạm vi khác nhau, đã có một số công trình và tài liệu đề cập đến
vấn đề này, như:
- Giáo trình: Giáo trình Luật Môi trường của Trường Đại học Luật Hà
Nội (1999 đến năm 2014); Giáo trình Luật Môi trường của Viện Đại học mở
Hà Nội, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009
- Luận án: luận án tiến sĩ luật học của Vũ Thu Hạnh về “Xây dựng và
hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại
Việt Nam” năm 2004; Lưu Ngọc Tố Tâm, Pháp luật kiểm soát ÔNMT biển
trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Hà nội, 2012
pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường hoặc pháp
luật bảo hiểm trách bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường. Mới chỉ có
một vài luận án có liên quan như: Giám sát thị trường bảo hiểm phi nhân thọ
ở Việt nam, Luận án tiến sĩ tài chính - ngân hàng của Nguyễn Thanh Nga,
4
Học viện tài chính, Hà nội, năm 2015, “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo
hiểm tài sản tại Việt Nam”, Luận án tiến sỹ luật học, của Nguyễn Thị Thủy,
trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, 2009
- Đề tài nghiên cứu: Chuyên đề: Bước đầu nghiên cứu về bảo hiểm
trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường của Nguyễn Văn Phương
trong Trách nhiệm BTTH do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây nên ở
Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường đại học luật Hà
Nội, Hà nội 2007.
- Sách: Bảo hiểm và pháp luật kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam của
TS. Phạm Văn Tuyết, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2007
- Các bài viết trên tạp chí: Theo rà soát của tác giả thì chưa có bài viết
nào trực tiếp về lĩnh vực của đề tài.
Bài viết có liên quan: Các yếu tố chi phối các quy định của pháp luật
trong bảo hiểm tài sản của Nguyễn Thị Thủy, Tạp chí Khoa học pháp lý, số
04/2006; Phí Thị Quỳnh Nga, Những bất cập của điều khoản loại trừ trách
nhiệm bảo hiểm trong luật kinh doanh bảo hiểm, Tạp chí Nghiên cứu Lập
pháp 10/2006
Cho tới thời điểm này, hầu như chưa có công trình nghiên cứu trực
tiếp nào về pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm
môi trường.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a) Mục đích nghiên cứu:
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường nói riêng, cả trong
nước và quốc tế.
6
- Hệ thống quy định pháp luật về bảo vệ môi trường có liên quan đến
bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường theo Luật
Bảo vệ môi trường 2014, Bộ luật dân sự 2005, Luật kinh doanh bảo hiểm năm
2000, 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành cho đến hiện nay.
5. Phạm vi nghiên cứu
Với yêu cầu về dung lượng, luận văn được xác định giới hạn nghiên
cứu như sau:
Mặc dù, khi đề cập tới pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do ô nhiễm môi trường thì cần đề cập tới các vấn đề như: Quy định về
doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh bảo hiểm; Quy định về hợp đồng bảo
hiểm; Quy định về giám sát đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Tuy
nhiên những vấn đề về doanh nghiệp bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm, giám sát
đối với hoạt động bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi
trường được thực hiện theo quy định chung về bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Do đó, những nghiên cứu của luận văn hướng tới hệ thống lý luận và các quy
định pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm, người
bảo hiểm và người thụ hưởng bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm môi trường mà không đi sâu vào các quy định về hoạt động kinh doanh
bảo hiểm, nội dung của hợp đồng bảo hiểm, giám sát đối với hoạt động bảo
hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Khi đi vào nghiên cứu đề tài, tôi đã xác định một số câu hỏi mà đề tài
tôi cần nghiên cứu là:
Các vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt
của đề tài có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và thực thi pháp
8
luật trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
9. Kết cấu của Đề tài:
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do ô nhiễm môi trường
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hiểm trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
9
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
1.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
Bồi thường, theo Từ điển Tiếng Việt, là “đền bù bằng tiền những thiệt
hại về vật chất và tinh thần mà mình phải chịu trách nhiệm” [47, tr 82] …
Dưới giác độ pháp lý. khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của
mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành
vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn
BTTH do ÔNMT gây ra là việc chi trả các khoản tiền BTTH về môi
trường, tính mạng, sức khỏe và tài sản cho người bị thiệt hại. Thực hiện trách
nhiệm BTTH về môi trường, tính mạng, sức khỏe và tài sản cho người bị thiệt
hại nhằm thiệt lập lại sự bình đẳng, khắc phục những hậu quả về tài sản cũng
như nhân thân do hành vi làm ÔNMT gây ra.
Hành vi làm ô nhiễm môi trường là một trong những hành vi vi phạm
nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Đây là loại trách nhiệm phát sinh dưới sự tác
động trực tiếp của các quy phạm pháp luật mà không cần có sự thoả thuận
trước của các chủ thể. Do đó, BTTH trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ bảo
vệ môi trường luôn là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
Trên cơ sở khái niệm trách nhiệm BTTH theo quy định của pháp luật
dân sự và những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm trách nhiệm
BTTH do ÔNMT gây ra như sau: trách nhiệm BTTH do ÔNMT gây ra là
một loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, theo đó, tổ chức, cá nhân
11
thực hiện hành vi làm ÔNMT, gây thiệt hại thì phải trả giá về hành vi của
mình qua việc khôi phục, đền bù, bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh
thần cho bên bị thiệt hại.
Theo khái niệm này, trách nhiệm BTTH do hành vi làm ÔNMT gây ra
có những đặc điểm sau đây:
i) Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm BTTH do hành vi làm ÔNMT gây ra
là một loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng và chịu sự điều chỉnh của pháp
luật sân sự và pháp luật môi trường.
ii) Về điều kiện phát sinh: Trách nhiệm BTTH do hành vi làm ÔNMT
gây ra chỉ đặt ra khi thoả mãn các điều kiện: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi
làm ÔNMT và môi trường bị ô nhiễm, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
làm ÔNMT với thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại. Tuy nhiên, yếu
cụ thể. Các sự cố môi trường là nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm, suy
thoái môi trường hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng (Điều 3 Luật
BVMT 2014). Do đó có thể thấy rằng, thiệt hại do hành vi làm ÔNMT là
những thiệt hại phát sinh từ tình trạng môi trường bị ô nhiễm do hành vi gây
ÔNMT của con người, có thể là hành vi gây ÔNMT hoặc do hành vi gây sự
cố môi trường gây ra.
Trên phạm vi thế giới, hiện đang tồn tại song song 2 quan niệm khác
nhau về thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường [26,tr 33-36; 27, tr 160-165]:
Một là, thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường chỉ gồm thiệt hại
đối với các yếu tố môi trường tự nhiên, như hệ động vật, thực vật, đất, nước,
không khí... mà không bao gồm thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe và tài
sản của con người. Cụ thể:
Cộng đồng chung châu Âu [26, tr 33-36; 27,tr 160-165] quan niệm
thiệt hại trong lĩnh vực môi trường là sự thay đổi bất lợi về tài nguyên thiên
13
nhiên hoặc cản trở đáng kể đến các dịch vụ môi trường có thể xảy ra một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Pháp luật các quốc gia như Kazakhstan,
Kyrgystan, Phần Lan, Canada, Hàn Quốc cũng quy định tương tự [26, tr 3336; 27, tr 160-165].
Quan niệm chung của các quốc gia nêu trên là thiệt hại về môi trường
có thể được nhận dạng theo nhiều cách phân tầng khác nhau, từ rộng đến
hẹp, từ tổng hợp đến hợp phần, từ môi trường chung đến từng thành phần
môi trường cụ thể, song cho dù là tiếp cận ở góc độ và cấp độ nào thì thiệt
hại về môi trường đều không bao gồm thiệt hại đối với con người hoặc tài
sản, mặc dù chúng có thể là hậu quả trực tiếp của thiệt hại về môi trường.
Hai là, thiệt hại về môi trường không chỉ bao gồm các thiệt hại đến
chất lượng môi trường mà còn cả thiệt hại về sức khỏe, tài sản của cá nhân
do ÔNMT gây nên. Thuộc nhóm quốc gia có quan niệm này bao gồm Cộng
hữu cơ với nhau và có tác động qua lại giữa các thành phần môi trường này.
Khi một thành phần môi trường bị ô nhiễm làm chức năng và tính hữu ích
của thành phần môi trường bị ảnh hưởng thì nó sẽ tác động tới các thành
phần môi trường tự nhiên khác và có thể làm cho thành phần môi trường này
cũng bị ô nhiễm hoặc/và suy thoái. Bên cạnh đó, sự suy giảm chức năng, tính
hữu ích của môi trường nhiều khi là một quá trình mà những biểu hiện của
nó không dễ nhận biết bằng những nhận biết thông thường. Vì vậy, trong rất
nhiều trường hợp, biểu hiện của thiệt hại được nhận biết thì đã ở giai đoạn
cuối của quá trình phát sinh thiệt hại và do hậu quả trở nên khá nặng nề với
hậu quả rất lớn.
Trong trường hợp xảy ra sự cố môi trường như sự cố hạt nhân, sự cố
hóa chất, đắm tàu chở dầu… thì hiển nhiên là những thiệt hại xảy ra là rất
nghiêm trọng.
15
- Hai là, thiệt hại phát sinh do hành vi làm ÔNMT gây ra thường khó
xác định một cách chính xác.
Khi xác định mức thiệt hại để tính giá trị tranh chấp BTTH do hành vi
làm ÔNMT gây ra thường khó xác định được mức chính xác. Nguyên nhân
là thiệt hại trong lĩnh vực môi trường có thể bao gồm các thiệt hại: i) thiệt hại
trực tiếp, thiệt hại gián tiếp, thiệt hại thứ sinh; ii) thiệt hại trước mắt, thiệt hại
lâu dài; iii) thiệt hại có thể do một chủ thể gây ra nhưng có thể do nhiều chủ
thế gây ra và trong đó có những chủ thể có hành vi làm ÔNMT, có những
hành vi không làm ÔNMT …. Do đó, để xác định thiệt hại nào đó do hành vi
làm ÔNMT gây ra một cách chính xác là một việc làm không đơn giản.
- Ba là, thiệt hại do hành vi làm ÔNMT gây ra thường xảy ra trên một
phạm vi rộng.
Đặc trưng này xuất phát từ tính thống nhất và sự phụ thuộc lẫn nhau
i) Thiệt hại do hành vi làm ÔNMT gây ra có thể do hiện tượng tích tụ,
cộng dồn của môi trường
Do đặc tính tích tụ và cộng dồn của môi trường nên có những trường
hợp không xuất hiện hành vi làm ÔNMT nhưng thiệt hại về môi trường vẫn
xảy ra. Đây là những trường hợp nhiều hành vi không gây ÔNMT nhưng tập
trung tại một địa điểm và từ đó tạo nên môi trường bị ô nhiễm và từ đó gây
thiệt hại.
ii) Thiệt hại phát sinh từ tình trạng ÔNMT do lập pháp hoặc do lạm
dụng công quyền gây ra
Tình trạng ÔNMT và từ đó gây thiệt hại có thể do lập pháp gây ra
trong những trường hợp mà pháp luật môi trường, kể cả trong trường hợp
thực thi nghiêm túc, cũng không loại trừ được một cách triệt để nguyên nhân
gây ÔNMT.
17
Từ tình trạng ÔNMT này có thể xuất hiện thiệt hại về môi trường, tính
mạng, sức khỏe, tài sản cho các chủ thể là tổ chức, cá nhân.
iii) Một thực trạng môi trường bị ô nhiễm có thể là do một hoặc nhiều
hành vi làm ÔNMT gây ra hoặc có thể là kết quả của nhiều hành vi của nhiều
chủ thể, trong đó có cả hành vi gây ÔNMT hoặc hành vi không gây ÔNMT.
Cũng có những trường hợp có hành vi gây ÔNMT nhưng do hiện tượng phát
tán, pha loãng của môi trường nên không có tình trạng môi trường bị ô nhiễm
và từ đó không xuất hiện thiệt hại.
iiii) Thực trạng môi trường bị ô nhiễm có thể còn là hệ quả của sự cố
môi trường. Sự cố môi trường có thể do con người hoặc thiên nhiên gây ra.
Vấn đề BTTH chỉ đặt ra trong trường hợp sự cố môi trường do con người gây
ra.
Từ những phân tích trên đây cho thấy, trách nhiệm BTTH do ÔNMT