những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp - Pdf 28

Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
Lời nói đầu
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã khẳng định là Xoá bỏ
tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách
quan và với trình độ phát triển của nền kinh tế.
Tại Điều 15, Hiến pháp nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 đã khẳng định: Nhà nớc phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ
nghĩa.
Sự ra đời một cơ chế mới kéo theo sự phát triển của nhiều loại hình doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhà nớc xoá bỏ
bao cấp, các doanh nghiệp phải tự hạch toán lo liệu mọi hoạt động kinh doanh
của mình với sự cạnh tranh khắc nghiệt, với những biến động của nền kinh tế thị
trờng Luật phá sản ra đời là một hệ quả tất yếu của quá trình đổi mới đó.
Luật phá sản đợc Quốc hội thông qua ngày 30/12/1993 và có hiệu lực thi
hành từ 01/7/1994. Luật ban hành nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
các doanh nghiệp. Thực tiễn áp dụng Luật phá sản những năm qua góp phần tích
cực vào việc sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
khác nhau. Tuy vậy trong quá trình vận dụng các quy định của pháp luật để giải
quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, đã bộc lộ khá nhiều vớng mắc, gây không
ít khó khăn cho những ngời thực thi pháp luật. Một trong những nguyên nhân đó
là Luật phá sản doanh nghiệp của nớc ta cha thật sự hoàn thiện, các văn bản h-
ớng dẫn cha đầy đủ, đảm bảo để giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn.
Nhằm góp phần hạn chế thiếu sót với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về phá sản
và pháp luật phá sản.
Vì vậy, em đã chọn đề tài Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh
nghiệp. Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
1
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
Chơng I: Phá sản doanh nghiệp và pháp luật về phá sản doanh nghiệp.

khai sinh từ thời cổ đại La Mã, danh từ Bankrupcy hay Baqueroute tức phá sản
bắt nguồn từ chữ Ban Rotta của La Mã, có nghĩa là chiếc ghế bị gãy. Thời đó
các thơng gia của một thành phố thờng hợp lại, ngời nào mất khả năng thanh
toán thờng bị bắt làm nô lệ để bán khấu trừ nợ hay phải bỏ trốn, do đó mất luôn
quyền tham gia Đại hội các Thơng gia và chiếc ghế dành cho ngời đó bị đem ra
khỏi nơi hội họp. Tài sản của con nợ bị các chủ nợ xâu xé, giành
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
3
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
nợ của mỗi ngời. Giải pháp này đợc các chủ nợ đồng tình và cải tiến nâng lên
thành Luật phá sản thời cổ đại La Mã.
Tại Châu Âu, thời Trung cổ, các quốc gia Châu Âu cũng ban hành Luật
phá sản, lúc đầu chỉ áp dụng trong lĩnh vực thơng nghiệp, sau đó đợc mở rộng ra
nhiều lĩnh vực kinh doanh khác. Lúc đầu Luật phá sản có tính cách hình sự rõ
rệt nhằm trừng trị các thơng gia. Luật phá sản của Anh do vua Henry VIII ký
vào năm 1542 đã đa các con nợ vào trại giam. Tại Pháp các thơng gia đã gian
lận trong việc cung cấp hàng hoá cho quân đội gây ra một cuộc khủng hoảng tài
chính làm nhiều thơng gia bị khánh tận, chính Napoleon đã soạn thảo gấp bộ
Luật thơng mại, trong đó những tội danh phá sản đợc dự liệu ngay trong bộ luật.
Sự gắt gao của Luật phá sản đem lại thiệt hại cho chủ nợ, vì ngời thiếu nợ
trớc viễn cảnh của hình phạt đã cố ý che dấu tình trạng mất khả năng thanh toán
của mình, cuối cùng khi không che dấu đợc thì bỏ trốn.
Do đó pháp luật phá sản sau này sửa đổi nhiều theo chiều hớng khoan
dung hơn. Coi thơng gia phá sản nh một kẻ sa cơ thất thế nên đã có những quy
định bảo vệ hợp pháp của cả con nợ lẫn chủ nợ. Chính vì vậy pháp chế phá sản
hiện nay trên thế giới đều có xu hớng chung là cố gắng có thời gian để hồi vực
lại doanh nghiệp mắc nợ.
Xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mỗi nớc, mỗi quốc gia đều có
Luật phá sản riêng với các nội dung đợc quy định phù hợp với đặc điểm của nớc
mình nh: Phá sản Cộng hoà Liên bang Đức (1877), của Anh (1986), của Thuỵ

Luật phá sản Trung Quốc thi hành 1986, tại Điều 3 đã quy định: Xí
nghiệp thua lỗ nghiêm trọng vì quản lý kinh doanh không giỏi, không
thể thanh toán các món nợ đến hạn, bị tuyên bố phá sản
Pháp luật phá sản Pháp trớc 1985 để định nghĩa một doanh nghiệp
mất khả năng thanh toán nợ. Toà án thờng nhận xét thấy tình trạng tài
chính của doanh nghiệp đó đã lâm vào tình trạng nguy hại không có cách
nào cứu chữa đợc. Vì vậy dù cho tài sản của doanh nghiệp có đủ để thanh
toán tất cả các khoản nợ nhng không có khả năng trả các món nợ chắc
chắn đã đến hạn thì cũng bị coi là lâm vào tình trạng phá sản. Nói cách
khác khi tất cả tiền và tài sản sẵn có của doanh nghiệp không đủ để trả nợ
đến hạn thì doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ.
Luật phá sản cũ của Singapore năm 1985 quy đinh, đơn yêu cầu tuyên
bố phá sản dựa trên một số tình trạng đặc biệt nh chuyển tài sản doanh
nghiệp cho ngời khác hởng lời, có tạo ra các khoản chi mà pháp luật coi
là bất hợp lý khi doanh nghiệp bị đề nghị phá sản, cố ý lẩn tránh hoặc trì
hoãn nợ bằng cách bỏ trốn khỏi Singapore hoặc nằm lỳ ở nớc ngoài, bỏ
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
5
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
trốn khỏi nhà hoặc đóng cửa nhà, cửa hiệu, không kinh doanh để giấu
mặt, con nợ bị toà án xét xử bằng cách tịch thu tài sản.
Luật phá sản Vơng quốc Anh quy định một doanh nghiệp mất khả
năng thanh toán nợ khi có một chủ nợ số tiền trên 50 bảng đã:
Gửi đơn đòi nợ sau 3 tuần doanh nghiệp đã không trả đợc hoặc
không thơng lợng xong với chủ nợ hay không tìm đợc các biện pháp bảo
đảm cho số nợ.
Có án lệnh hoặc doanh nghiệp trả nợ nhng không thi hành đợc.
Khiếu nại số nợ không xong.
Tại Việt Nam khái niệm phá sản là vấn đề đợc bàn cãi rất nhiều trong
quá trình soạn thảo luật doanh nghiệp. Có quan điểm cho rằng chỉ định

doanh nghiệp không có khả năng thoả mãn yêu cầu thanh toán nợ đến hạn cho
các chủ nợ bằng tài sản hiện có. Việc doanh nghiệp không đủ khả năng chi trả
hoàn toàn không phải lúc nào cũng có nghĩa là doanh nghiệp không đủ tài sản
chi trả, vì có thể doanh nghiệp không đủ tài sản để chi trả nhng bằng các khoản
vay, doanh nghiệp có thể còn khả năng chi trả. Doanh nghiệp có thể không có
khả năng chi trả nhng không bị coi là phá sản. Doanh nghiệp không có khả năng
chi trả không mang tính tạm thời mới là cơ sở cho việc tuyên bố phá sản doanh
nghiệp.
Trên cơ sở tham khảo Luật phá sản của các nớc vận dụng vào hoàn cảnh
Việt Nam, thích hợp hơn cả là khái niệm phá sản doanh nghiệp căn cứ hai điều
kiện:
Điều kiện thứ nhất: Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến
hạn.
Điều kiện thứ hai: Hiện tợng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
không phải là hiện tợng nhất thời mà đã lâm vào tình trạng trầm trọng.
Với ý nghĩa này, Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam đã đợc Quốc hội
thông qua ngày 30/12/1993, có hiệu lực thi hành từ 01/07/1994 đa ra khái niệm:
Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn
hoặc bị thua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi đã áp dụng các
biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.
(Điều 2 Luật phá sản doanh nghiệp).
3. Dấu hiệu đánh giá doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản:
Phá sản là một hậu quả tất yếu của nền kinh tế thị trờng, pháp luật Việt
Nam đã phản ánh hiện tợng phá sản doanh nghiệp trong Điều 17 Luật doanh
nghiệp t nhân và Điều 24 Luật công ty ban hành cùng ngày 21/12/1990 (cha sửa
đổi) đã nêu: Luật công ty (hay Luật doanh nghiệp t nhân) gặp khó khăn hoặc
bị thua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh doanh đến mức tại một thời điểm
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
7
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp

lơng.
Cũng theo Nghị định 189/CP, điều quan trọng cần phải xem xét là việc
không trả đủ lơng cho ngời lao động chỉ đợc xem là dấu hiệu doanh nghiệp lâm
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
8
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
vào tình trạng phá sản khi việc không trả đủ lơng là hậu quả của việc doanh
nghiệp kinh doanh thua lỗ trong hai năm liên tiếp (Điều 3 Nghị đinh 189/CP).
3. Nh vậy một dấu hiệu thứ 3 nữa cho thấy là doanh nghiệp phải rơi vào
tình trạng thua lỗ trong hai năm liên tiếp. Dấu hiệu này là cốt lõi, là
nguyên nhân, còn hai dấu hiệu kia là hậu quả bổ sung cho dấu hiệu thứ
3.
Ba dấu hiệu này là một thể thống nhất, không thể chia cắt trong việc đánh
giá doanh nghiệp có lâm vào tình trạng phá sản hay không? Thực tế, có doanh
nghiệp làm ăn thua lỗ hàng năm liền nhng vẫn đủ tài chính để thanh toán nợ đến
hạn và ngợc lại dù thiếu nợ nhng doanh nghiệp vẫn làm ăn phát triển, tài chính
vẫn đầy đủ: Việc không trả đúng hạn có thể do việc cố ý trả chậm để dùng tiền
vào việc kinh doanh hoặc tiền từ các tổ chức tín dụng hay con nợ của doanh
nghiệp chậm chuyển vào tài khoản của doanh nghiệp.
Điều 9 Luật phá sản doanh nghiệp nêu biện pháp hoãn nợ là một trong
các biện pháp tài chính cần thiết, Nghị định 189/CP tại Khoản 2 Điều 2 đã nêu
cụ thể 5 biện pháp tài chính cần thiết mà doanh nghiệp mắc nợ phải áp dụng:
1.Có phơng án tổ chức lại sản xuất kinh doanh, quản lý chặt chẽ các
khoản chi phí tìm kiếm thị trờng tiêu thụ sản phẩm.
2. Có biện pháp sử lý hàng hoá, sản phẩm, vật t tồn đọng.
3.Thu hồi các khoản nợ và tài sản bị chiếm dụng.
4. Thơng lợng với các chủ nợ để hoãn nợ, mua nợ, bảo lãnh nợ, giảm xoá
nợ.
5. Tìm kiếm các khoản tài trợ và các khoản vay để trang trải các khoản
nợ đến hạn và đầu t đổi mới công nghệ.

sự tồn tại của doanh nghiệp và phân chia tài sản còn lại của các chủ nợ, giải
quyết quyền lợi cho ngời làm công. Nhng xét về bản chất chúng có sự khác
nhau cơ bản đó là:
- Nguyên nhân của phá sản là tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến
hạn do thua lỗ trong kinh doanh, còn lý do giải thể thì rộng hơn nhiều. Ví dụ nh
cơ sở sản xuất kinh doanh có thể chấm dứt hoạt động khi mục tiêu đề ra không
đạt đợc thậm chí có thể bị thu hồi giấy phép hoạt động vì lý do vi phạm pháp
luật nghiêm trọng.
- Thủ tục tiến hành giải thể là thủ tục mang tính chất hành chính gắn liền
với hình thức tổ chức doanh nghiệp, do doanh nghiệp tự tiến hành. Các quy định
về giải thể đợc ghi nhận trong các văn bản pháp luật về thành lập, tổ chức và
hoạt động các loại hình doanh nghiệp. Còn thủ tục phá sản là thủ tục t pháp, do
toà án tiến hành theo quy định riêng của pháp luật phá sản.
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
10
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
Việc giải thể cơ sở sản xuất kinh doanh có thể tiến hành do ý chí tự
nguyện của chủ doanh nghiệp sau khi đã đợc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy
phép thành lập chấp nhận ( đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh) hoặc do
cơ quan quản lý nhà nớc đã ra quyết định thành lập doanh nghiệp cho phép (đối
với doanh nghiệp Nhà nớc).
Trái lại việc tuyên bố phá sản chỉ thuộc thẩm quyền của toà án.
- Về nguyên tắc, cả phá sản và giải thể phải giải quyết triệt để chấm dứt
mọi quan hệ pháp lý mà doanh nghiệp đã thiết lập và cam kết thực hiện, xong
cách thức thực hiện lại khác nhau:
Giải thể doanh nghiệp phải bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và thanh
lý hết hợp đồng mà doanh nghiệp đã ký kết (Điều 23 Luật công ty và Điều 16
Luật doanh nghiệp t nhân), còn phá sản không bắt buộc phải nh vậy, doanh
nghiệp chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ trên cơ sở trị giá tài sản thực có tức
là doanh nghiệp mắc nợ đợc Nhà nớc cho phép phân chia rủi ro với những ngời

II.Pháp luật về phá sản doanh nghiệp:
1. Khái niệm pháp luật về phá sản doanh nghiệp:
Phá sản là hiện tợng khách quan phản ánh hậu quả của cuộc cạnh tranh
sinh tồn trong nền kinh tế thị trờng. Pháp luật về phá sản là yếu tố thuộc thợng
tầng kiến trúc phản ánh hiện tợng khách quan đó và tác động lại đối với nền
kinh tế thị trờng. Nếu phản ánh đúng, phù hợp với pháp luật phá sản thì sẽ phát
huy tác dụng sắp xếp lại doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngợc lại,
nếu phản ánh sai lệch pháp luật sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế. Vì vậy
pháp luật phá sản phải không ngừng hoàn thiện cho phù hợp với sự thay đổi của
hiện tợng phá sản và phản ánh đúng hiện tợng, bản chất của phá sản nhằm đa ra
pháp luật phá sản vào thực tế cuộc sống.
Pháp luật phá sản là tổng thể các quy phạm pháp luật đợc Nhà nớc ban
hành có liên quan đến việc giải quyết một vụ yêu cầu tuyên bố phá sản. Trong
pháp luật kinh tế pháp luật về phá sản doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng
trong hệ thống pháp luật về phá sản doanh nghiệp thì Luật phá sản giữ vai trò
chủ đạo.
ở nhiều nớc vấn đề xử lý phá sản thuộc đối tợng điều chỉnh của nhiều
loại văn bản khác nhau. Ví dụ ở Anh bên cạnh Luật phá sản 1986 còn có luật
đình chỉ hoạt động giám đốc công ty, Luật mất khả năng thanh toán. ở Thuỵ
Điển thứ tự u tiên thanh toán đợc quy định tại một đạo luật riêng.
ở Việt Nam phá sản là một vấn đề còn rất mới mẻ, do vậy hệ thống pháp
luật phá sản còn nhiều hạn chế. Sau khi Luật phá sản doanh nghiệp đợc Quốc
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
12
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
hội thông qua ngày 30/12/1993 và đợc công bố vào ngày 30/12/1993, có hiệu
lực thi hành từ 01/07/1994. Các văn bản dới luật hiện có rất ít bao gồm: Nghị
định 189/CP ngày 23/12/1994 hớng dẫn thi hành Luật phá sản doanh nghiệp và
Nghị định số 92/CP ngày 19/12/1995 của Chính phủ hớng dẫn quyền lợi giải
quyết của ngời lao động ở doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản. Để hớng dẫn cách

khoan dung hơn, xem doanh nghiệp phá sản vì sa cơ thất thế, vì gặp vận không
may nên lâm vào tình trạng phá sản.
Luật phá sản Việt Nam trên tinh thần bảo vệ lợi ích chính đáng của cả
chủ nợ và con nợ, đã có những điều khoản cụ thể nhằm bảo vệ lợi ích không
những của chủ nợ mà cả lợi ích của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Nh chúng ta đã biết kinh doanh là một quá trình mạo hiểm mà nguy cơ
phá sản có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Khi cái chết của một doanh nghiệp
không phải bàn cãi gì nữa thì cái đáng quan tâm là phải bảo vệ sự sống còn của
các doanh nghiệp có quan hệ với nó. Cho nên mặc dù Luật phá sản ở các nớc là
rất khác nhau nhng tất cả các Luật phá sản đều tìm cách giải quyết các vấn đề
giống nhau. Vấn đề cơ bản nhất là nên giành thuận lợi thế nào cho chủ nợ. Sự
phá sản của một doanh nghiệp có thể gây ra sự phá sản tiềm năng của doanh
nghiệp khác. Do vậy, việc bảo vệ các doanh nghiệp chủ nợ là cần thiết.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình luật cho phép các chủ nợ
có thể gửi đơn yêu cầu đến cơ quan nhà nớc có thẩm quyền tuyên bố phá sản
doanh nghiệp mà mình cho rằng đã lâm vào tình trạng phá sản. Luật phá sản đã
quy định trình tự gửi đơn và tạo điều kiện cho các chủ nợ bảo vệ lợi ích chính
đáng của mình. Tuy nhiên, một doanh nghiệp phá sản sẽ có nhiều chủ nợ cùng
đòi, cho nên việc thanh toán giải quyết phá sản rất phức tạp. Để đảm bảo quyền
bình đẳng giữa các chủ nợ Luật phá sản quy định hội nghị chủ nợ có quyền giải
quyết vấn đề về tài sản, ở đó mọi vấn đề tài sản đợc đặt ra bàn bạc, quyết định
theo đa số, thoả thuận hoặc quyết định cuối cùng của hội đồng chủ nợ có giá trị
pháp lý.
Để tránh hiện tợng bừa bãi gây thiệt hại danh dự, lợi ích của doanh
nghiệp, Luật phá sản cũng quy định chủ nợ khi nộp đơn phải có đầy đủ bằng
chứng về số nợ của doanh nghiệp-Toà xem xét rất kỹ lỡng và toàn diện mọi
chứng cứ mới quyết định mở hay không mở thủ tục giải quyết phá sản và phải
nêu rõ lý do.
Đối với con nợ, việc tuyên bố phá sản còn là hình thức giải phóng cho
họ khỏi những ràng buộc về mặt pháp lý cũng nh đạo lý, tạo điều kiện và cơ hội

đợc miễn nộp án phí. Trong trờng hợp này, khi tham gia hội nghị chủ nợ, Công
đoàn hay đại diện ngời lao động có quyền biểu quyết nh các chủ nợ khác; Công
đoàn hay đại diện ngời lao động dù không có đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp vẫn đợc tham gia hội nghị chủ nợ để cùng thảo luận bàn bạc
những vấn đề liên quan đến lợi ích chung của các chủ nợ, nhng không có quyền
biểu quyết (Điều 25).
Trong việc quản lý và thanh toán tài sản, ngời lao động cũng đợc quyền
cử đại diện tham gia Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh toán tài sản (Điều 42).
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
15
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
Đặc biệt khi phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp thì khoản
nợ của doanh nghiệp đối với ngời lao động đợc trả trớc tiên sau khi đã thanh
toán các lệ phí và chi phí cho việc tuyên bố phá sản (Điều 39) các khoản nợ của
ngời lao động bao gồm Điều 5 Nghị định 92/CP ngày 19/12/1995 của Chính phủ
về giải quyết quyền lợi của ngời lao động ở doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản.
- Tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng
- Tiền bảo hiểm xã hội: nếu doanh nghiệp cha đóng hoặc cha đóng đủ cho
cơ quan bảo hiểm xã hội theo quy định của điều lệ bảo hiểm xã hội.
- Trợ cấp thôi việc.
- Các quyền lợi khác bằng tiền mà ngời lao động và doanh nghiệp đã
thoả thuận khi ký thoả ớc lao động tập thể và hợp đồng lao động.
Ngoài ra, tài sản doanh nghiệp bị phá sản còn phải thanh toán các khoản
bồi thờng hoặc trợ cấp cho ngời lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp mà suy giảm khả năng lao động 81% trở lên, chi phí điều trị ngời lao
động thuộc diện tạm hoãn thực hiện hợp đồng vì đang làm nghĩa vụ quân sự
hoặc nghĩa vụ công dân khác cũng đợc trợ cấp thôi việc; ngời lao động đã và
đang bị tạm giam cũng đợc trả 50% tiền lơng còn lại và trợ cấp thôi việc (Điều
5,6,7,8 Nghị định 92CP).
Việc thanh toán các khoản nợ ngời lao động dựa trên nguyên tắc đợc

vấn đề này nếu không đợc giải quyết một cách triệt để và hợp lý sẽ đem lại hậu
quả khôn lờng cho xã hội. Do đó tuyên bố phá sản phải là trách nhiệm của Nhà
nớc và do Toà án đứng ra thực hiện. Trớc đây ở nớc ta tuyên bố phá sản và giải
quyết tranh chấp kinh tế do trọng tài kinh tế Nhà nớc đứng ra thực hiện. Đến
nay trớc yêu cầu của tình hình mới trọng tài kinh tế đã giải thể. Chấm dứt sự tồn
tại có tính lịch sử của mình. Công việc này kể từ ngày 01/07/1994 đợc Toà án
kinh tế của các Toà án nhân dân cấp tỉnh (thành lập) đảm nhận.
Giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản là thủ tục đặc biệt còn thể hiện ở chỗ
nếu nh tố tụng kinh tế và tố tụng dân sự chỉ nhằm mục đích xét xử thì quá trình
giải quyết yêu cầu phá sản còn phải thực hiện cả hai chức năng đó là giám sát và
xét xử đối với doanh nghiệp mắc nợ. Và đặc biệt trong quá trình giải quyết phá
sản, Toà án còn có những tác động mang màu sắc quản lý đến doanh nghiệp
mắc nợ. Các lý do trên cho thấy thủ tục đòi nợ (thanh toán) trong quá trình giải
quyết phá sản cũng hoàn toàn khác so với các thủ tục đòi nợ trong tranh chấp
dân sự, kinh tế ở chỗ:
+ Việc thanh toán các khoản nợ đợc tiến hành trên cơ sở số tài sản còn lại
của doanh nghiệp theo tỷ lệ phần trăm nhất định tơng ứng với mỗi khoản nợ.
+ Việc đòi nợ không diễn ra trực tiếp giữa các bên chủ nợ và con nợ mà
bao giờ cũng phải thông qua một cơ quan đại diện là Toà án kinh tế hoặc cơ
quan thi hành án.
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
17
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
+ Việc thanh toán chỉ đợc tiến hành sau khi đã có quyết định của Toà án,
khác với việc đòi nợ trong dân sự. Trong dân sự việc thanh toán giữa chủ nợ và
con nợ đợc tiến hành bất cứ lúc nào theo thoả thuận của hai bên, thậm chí cả khi
vụ việc đã có quyết định đa ra xét xử.
Đặc biệt hơn cả quyết định tuyên bố phá sản không phải là bản án đợc
xác định trên cơ sở lỗi, song trong Luật phá sản chủ doanh nghiệp đợc coi là
không có lỗi, vả lại bản thân các chủ nợ khi bỏ vốn vào kinh doanh cũng đã

đã dẫn đến mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn đều thuộc diện điều
chỉnh Luật phá sản.
Luật phá sản nớc ta quy định rõ lý do doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc
thua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh doanh để nói lên thực trạng của doanh
nghiệp. Nhng theo chúng tôi, quy định này chỉ làm hẹp đi khái niệm về đối tợng
điều chỉnh của Luật phá sản doanh nghiệp mà thôi.
Luật phá sản doanh nghiệp nớc ta quy định mất khả năng thanh toán nợ
đến hạn nhng không định lợng là bao nhiêu, tuy nhiên đó mới chỉ là dấu hiệu để
chủ nợ đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp nó không phải là căn cứ
duy nhất để toà án kết luận tuyên bố phá sản doanh nghiệp mà còn phải dựa vào
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
19
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
một loạt các thủ tục theo trình tự đệ đơn, thụ lý đơn đến hội nghị chủ nợ mới đi
đến quyết định tuyên bố hay không tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
2. Phạm vi điều chỉnh của Luật phá sản doanh nghiệp:
Theo quy định tại Điều 1 của Luật phá sản doanh nghiệp đợc áp dụng đối
với các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu đợc thành lập và hoạt động
theo pháp luật Việt Nam khi lâm vào tình trạng phá sản. Nh vậy theo pháp luật
hiện hành các doanh nghiệp tồn tại ở Việt Nam gồm:
- Doanh nghiệp t nhân.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Công ty cổ phần
- Doanh nghiệp Nhà nớc.
- Doanh nghiệp liên doanh.
- Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài.
- Hợp tác xã.
- Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị xã hội.
Theo các nhà làm luật sở dĩ pháp luật phá sản Việt Nam quy định những
cơ sở sản xuất kinh doanh nào đợc gọi là doanh nghiệp mới có thể bị tuyên bố

trong tổ chức hệ thống chính trị nên việc phân công, giải quyết có khác nhau,
chẳng hạn hầu hết ở các nớc Châu Âu, Lục địa, khối Civillaw đều giao thẩm
quyền giải quyết cho toà Thơng mại. Một số nớc nh Mỹ, Nam T (trớc đây),
Thuỵ Điển lại giao cho toà phá sản chuyên trách, ở Nga thẩm quyền giao cho
toà trọng tài, riêng ở Trung Quốc phá sản tính chất thuộc phạm vi dân sự nên
thuộc toà án thờng giải quyết.
ở nớc ta Điều 4 Luật phá sản doanh nghiệp và Điều 30 Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân thì Toà kinh tế toà án nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng (gọi tắt là toà án nhân dân cấp tỉnh) và
toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp.
Thủ tục nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố phá sản đợc quy định
tại Điều 7 và Điều 8 Luật phá sản doanh nghiệp.
Điều 7 chỉ quy định: các chủ nợ không có bảo đảm và có bảo đảm một
phần có quyền nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố phá sản, mà không
đòi hỏi số lợng cụ thể tối thiểu phải là bao nhiêu, hoặc phải đợc sự chấp thuận
trớc của bất kỳ tổ chức nào. Khi nộp đơn chỉ cần nộp kèm theo đơn chứng từ, tài
liệu để chứng minh số nợ, chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
21
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
nợ đến hạn, các tài liệu này đợc cụ thể hoá tại Điều 10 Nghị định 189/CP ngày
23/12/1994 của Chính phủ, khi nộp đơn các chủ nợ phải nộp tiền tạm ứng lệ phí
theo quy định của Nghị định 117/CP ngày 07/09/1994 của Chính phủ. Riêng
chủ nợ là đại diện công đoàn hoặc đại diện ngời lao động không ngừng phải nộp
tiền tạm ứng lệ phí.
Đối với doanh nghiệp khi nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá
sản doanh nghiệp cũng phải nộp kèm theo đơn, danh sách các chủ nợ, báo cáo
tình hình kinh doanh 6 tháng trớc khi mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, báo
cáo quyết toán và thuyết trình chi tiết tình hình tài chính doanh nghiệp đã áp

sản và con nợ, nên chủ nợ và con nợ đợc u tiên quyền này, nhng vị trí của con
nợ và chủ nợ khi tham gia thủ tục giải quyết yêu cầu tuyền bố phá sản doanh
nghiệp là khác nhau, đối với chủ nợ thì việc yêu cầu tuyên bố phá sản là quyền,
đối với con nợ đây là nghĩa vụ.
- Thủ tục phá sản đặt ra trớc hết là nhằm bảo vệ quyền về tài sản của chủ
nợ, do vậy chủ nợ là ngời đợc pháp luật quy định có quyền nộp đơn để xin tuyên
bố phá sản doanh nghiệp.
Tại Khoản 1 Điều 7 Luật phá sản doanh nghiệp quy đinh: Sau thời hạn
30 ngày, kể từ ngày gửi giấy đòi nợ đến hạn mà không đợc doanh nghiệp
thanh toán nợ, chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có
quyền nộp đơn đến Toà án nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp để yêu cầu
giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp .
+ Chủ nợ không có bảo đảm là những chủ nợ mà có quyền đòi nợ không
đợc đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ.
Trong ý nghĩa này thì đại diện công đoàn hoặc đại diện ngời lao động nơi
cha có tổ chức công đoàn cũng đợc xem là chủ nợ không có bảo đảm và có
quyền đệ đơn yêu cầu Toà án giải quyết, nếu doanh nghiệp mắc nợ không trả đ-
ợc lơng cho ngời lao động trong 3 tháng liên tiếp và có Nghị quyết của công
đoàn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp (Điều 9 Luật phá sản doanh
nghiệp).
+ Chủ nợ có bảo đảm một phần là chủ nợ có quyền đòi nợ đợc đẩm bảo
bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ nhng giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn
khoản nợ.
Việc quy định cho chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền này là hợp lý vì
suy cho cùng họ vẫn là chủ nợ không có bảo đảm, do đó họ có quyền yêu cầu
con nợ trả nốt phần còn thiếu.
Đối với chủ nợ có bảo đảm là chủ nợ có khoản đợc bảo đảm bằng tài sản
của doanh nghiệp mắc nợ. Đến hạn trả nợ mà doanh nghiệp mắc nợ đó không
thanh toán đợc thì chủ nợ có quyền bán tài sản đảm bảo đó (nh tài sản cầm cố,
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98

chính yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp ( Điều 8 Luật
phá sản doanh nghiệp).
Điều 9 Nghị định 189/CP của Chính phủ còn quy định một điều kiện nữa
để công đoàn đợc nộp đơn lên Toà án yêu cầu tuyên bố phá sản đó là phải có
nghị quyết của công đoàn hoặc tập thể ngời lao động yêu cầu giải quyết tuyên
bố phá sản doanh nghiệp.
Vũ Thị Thu Hơng: Luật 1-K98
24
Khoá luận tốt nghiệp Những vấn đề pháp lý về phá sản doanh nghiệp
Tóm lại: Luật phá sản doanh nghiệp nớc ta chỉ quy định 3 chủ thể là chủ
nợ, con nợ, ngời lao động có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu Toà án tuyên
bố phá sản doanh nghiệp vì chỉ những chủ thể mới có quyền và lợi ích trực tiếp
tới doanh nghiệp bị phá sản.
3. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản:
Theo Luật phá sản của các nớc, cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu
cầu tuyên phá sản doanh nghiệp là Toà án. Tuy nhiên do có sự khác biệt về
nhiều mặt nên việc phân công giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản ở các nớc là
khác nhau. ở hầu hết các nớc Châu Âu, Lục địa là Toà thơng mại, trong khi đó
ở một số nớc nh Mỹ, Thuỵ Điển, Nam T lại thành lập toà phá sản riêng và chỉ
thực hiện một công việc duy nhất là giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. ở
Cộng hoà Liên bang Nga thẩm quyền phá sản thuộc về Toà án trọng tài, ở
Trung Quốc thẩm quyền này thuộc Toà án thờng vì tính chất vụ kiện phá sản đ-
ợc xác định thuộc phạm vi vụ kiện dân sự.
ở nớc ta, theo quy định tại Điều 4 Luật phá sản doanh nghiệp và Điều
30 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ơng là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu
tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Tuỳ theo tính chất cụ thể từng vụ việc, Toà kinh
tế, Toà án nhân dân cấp tỉnh chỉ định 1 hoặc 3 thẩm phán giải quyết. Quy chế
làm việc của tập thể thẩm phán do Chánh án toà án nhân dân tối cao giải quyết
khiếu nại, kháng nghị đối với quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status