Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng theo pháp luật việt nam - Pdf 38

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa
có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng theo
pháp luật Việt Nam
Trần Tuyết Minh
Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật dân sự; Mã số: 60 38 30
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Minh Tuấn
Năm bảo vệ: 2014
Keywords. Luật dân sự; Người tiêu dùng; Pháp luật Việt Nam; Bồi thường thiệt hại
Content
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá, bên cạnh việc tạo điều kiện thuận lợi để lưu
thông, trao đổi hàng hóa, pháp luật Việt Nam cũng cần có cơ chế ngăn chặn các sản phẩm, hàng
hóa kém chất lượng, không bảo đảm an toàn để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD),
bảo vệ sản xuất trong nước và lợi ích quốc gia. Vì yêu cầu đó nên liên tục những năm gần đây,
nhà nước ta đã ban hành các đạo luật chuyên ngành để quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá
(CLSPHH).
Trong những năm gần đây, pháp luật về CLSPHH nước ta không ngừng được hoàn thiện
cho phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bối cảnh hội nhập sâu, rộng
vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Thực tiễn ở Việt Nam, đã có rất nhiều hàng hóa (máy móc,
thiết bị đồ gia dụng, thực phẩm, dược phẩm…) được sản xuất (kể cả từ nước ngoài cung cấp tại
Việt Nam) không đảm bảo chất lượng, gây nguy hại hoặc gây thiệt hại cho người tiêu dùng
(NTD) không chỉ về tài sản mà còn về tính mạng, sức khỏe. Đây là vấn đề bức xúc lớn trong xã
hội. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam không có đạo luật đặc thù để buộc nhà sản xuất, nhà kinh
doanh, nhà phân phối, nhà cung cấp, người bán lẻ và những người khác cung cấp hàng hóa phải
chịu trách nhiệm về những thiệt hại do khuyết tật trong hàng hóa của họ gây ra cho NTD. Vấn đề
này mới chỉ được Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 quy định có tính nguyên tắc là: “Cá nhân,
pháp nhân, các chủ thể khác sản xuất, kinh doanh không bảo đảm chất lượng hàng hoá mà gây
thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường” [34, Điều 630]. Đây là quy định mới mang
tính nguyên tắc và trên thực tế NTD chưa có công cụ pháp lý hữu hiệu để bảo vệ mình. Cho nên,
nếu nhà sản xuất cung cấp sản phẩm nguy hại cho tài sản, sức khỏe, tính mạng của NTD thì cũng

Bảo đảm CLSPHH có ý nghĩa rất quan trọng với NTD, người sản xuất và nhà nước trong
việc duy trì an ninh, trật tự công cộng và lợi ích quốc gia. Nhà nước thông qua việc ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các công cụ quản lý khác và
kiểm tra việc thực hiện các quy định này, tác động đến các yếu tố hình thành CLSPHH để bảo
đảm an toàn cho sản phẩm, hàng hoá được đưa ra thị trường sử dụng như BLDS (2005), Bộ luật
hình sự (1999), Luật Cạnh tranh (2004), Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (2006), Luật
Dược (2005), Luật An toàn thực phẩm (năm 2010), Luật BVQLNTD (2011).
Như vậy có thể khẳng định rằng, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định trách
nhiệm BTTH do hàng hóa kém chất lượng gây ra cho NTD không ít, vấn đề chỉ còn ở chỗ các
địa phương, cơ quan có trách nhiệm bảo vệ NTD sẽ thực thi như thế nào mà thôi.
Chúng ta đã có nhiều luật, nghị định, thông tư hướng dẫn về bảo vệ quyền lợi của NTD,
nhưng việc thực thi còn rất hạn chế, xa rời thực tế. Nhiều cơ quan, địa phương chưa tham gia bảo
vệ NTD như trong luật đã quy định. Khả năng tiếp cận các điểm khiếu nại của của NTD (đặc biệt
là NTD ở nông thôn, miền núi, vùng biên giới, hải đảo) còn rất hạn chế, NTD đa phần còn rất mù
mờ về quyền lợi của mình.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đó, sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã chọn đề tài luận văn
thạc sĩ luật học: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho
người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam”
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước tới nay, nghiên cứu về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho
NTD vẫn đang còn đang bỏ ngỏ để các nhà nghiên cứu khai phá. Đã có một số công trình khoa
học, bài viết hoặc tham luận được công bố trên các sách chuyên khảo, tạp chí khoa học chuyên
ngành hoặc diễn đàn khoa học đề cập đến trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra
cho NTD như: luận văn cử nhân luật học “Trách nhiệm sản phẩm theo pháp luật cộng đồng
Châu Âu và pháp luật Việt Nam” của Nguyễn Thị Tường Vi; luận văn tiến sỹ luật học “Trách
nhiệm của doanh nghiệp đối với chất lượng sản phẩm, hàng hóa” của TS. Chu Đức Nhuận;
“Trách nhiệm sản phẩm và việc bảo vệ người tiêu dùng trong pháp luật Việt Nam” của GS.TS.


Lê Hồng Hạnh; “Luật bảo vệ người tiêu dùng trong pháp luật Việt Nam” của PGS.TS. Nguyễn

gây ra cho NTD.
4. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về trách nhiệm BTTH do hàng
hóa có khuyết tật gây ra cho NTD và việc áp dụng các quy định này trong thực tế.
5. Phạm vi nghiên cứu
Trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD là một đề tài rộng, được
nhiều ngành luật điều chỉnh như hình sự, hành chính, dân sự. Vì vậy, trong khuôn khổ một luận
văn thạc sỹ không thể giải quyết được một cách trọn vẹn tất cả các nội dung của trách nhiệm
BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD. Do đó, đề tài tập trung nghiên cứu và giải
quyết một số vấn đề chính liên quan đến trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng và trách nhiệm
BTTHdo hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD theo pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó đối
chiếu với thực tiễn áp dụng các quy định đó trong thực tế, đặc biệt là trong tiến trình hội nhập
khu vực và quốc tế. Từ đó, luận văn sẽ đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD nhằm nâng cao trách
nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, cũng như nâng cao nhận thức của NTD
trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước.
6. Phương pháp nghiên cứu


Phương pháp phân tích: Phân tích các khái niệm về trách nhiệm BTTH do hàng hóa có
khuyết tật gây thiệt hại cho NTD để hiểu được bản chất cuả nó. Bên cạnh đó, cần phân tích vai
trò của trách nhiệm bồi thường thiệt hại để nói lên sự cần thiết phải điều chỉnh cũng như hoàn
thiện pháp luật về trách nhiệm dân sự nói chung cũng như pháp luật về BVQLNTD nói riêng.
Ngoài ra, trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế của hàng lang pháp lý về trách
nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho NTD để có phương hướng giải quyết những
hạn chế đó.
Phưong pháp tổng hợp: Đưa ra một cái nhìn tổng quan về hệ thống pháp luật về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng.
Phương pháp liệt kê: Liệt kê hệ thống các văn bản có liên quan để tiện theo dõi và làm
căn cứ cho phần lý luận của mình.

5. Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2010), Bình luận khoa học Bộ luật
Dân sự năm
2005, tập I, Phần thứ nhất: Những quy định chung; Phần thứ hai: Tài sản và quyền sở
hữu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Bùi Nguyên Khánh (2010), Góp ý về Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi - Phần liên quan
đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Dân chủ và pháp luật (20).
7. Cẩm Mai (2011), “Mazda phải thu hồi 65.000 xe vì mạng nhện”, , ngày
5/3.


8. Chính phủ (2006), Hồ sơ trình Quốc hội về Dự án Luật Phòng, chống tác hại của thuốc
lá, Hà Nội.
9. Chu Đức Nhuận (2011), Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với chất lượng sản phẩm,
hàng hóa, Luận văn Tiến sĩ Luật học, Hà Nội.
10. Cục quản lý cạnh tranh (2006), Sổ tay công tác bảo vệ người tiêu dùng, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
11. Cục quản lý cạnh tranh (2008), “Vài nét về công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở
Việt Nam trong thời gian qua”, , 29/8.
12. Cục xúc tiến thương mại (2012), “Ủy ban Châu Âu công bố về hệ thống cảnh báo
Rapex”, , ngày 16/5.
13. Đ.T (2011), “Phải thu hồi sản phẩm nếu mất an toàn”, Báo Lao động, ngày 6/4.
14. Đặng Tiến (2011), “Bộ Công thương vào cuộc vụ xe Toyota mắc lỗi kỹ thuật”, Báo Lao
động, ngày 7/4.
15. Đỗ Văn Đại (2010), Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (phần chung): Văn bản, thực
tiễn xét xử, kinh nghiệm nước ngoài và hướng sửa đổi Bộ luật dân sự, Kỷ yếu Tọa
đàm: Đánh giá 5 năm thực hiện Bộ luật Dân sự, Hà Nội, ngày 29/9.
16. Đỗ Văn Đại (2010), Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb chính
trị quốc gia Hà Nội.
17. Hoàng Việt luật lệ (1995), Nxb Văn hóa thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh.
18. Hội đồng thẩm phán (2006), Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp


34. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.
35. Quốc hội (2005), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã được sửa
đổi, bổ sung năm 2001), Nxb Tư pháp, Hà Nội.
36. Quốc hội (2006), Luật Sở hữu trí tuệ, Hà Nội.
37. Quốc hội (2007), Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Hà Nội.
38. Quốc hội (2007), Luật Hóa chất, Hà Nội.
39. Quốc hội (2008), Luật Năng lượng nguyên tử, Hà Nội.
40. Quốc hội (2010), Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Hà Nội.
41. Quốc triều hình luật (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
42. T.An (2010), “Chất BPA trong hộp nhựa, bình sữa gây vô sinh nam”,
, ngày 29/10.
43. Tăng Văn Nghĩa (2008), “Bàn về Luật Trách nhiệm sản phẩm trong kinh doanh quốc
tế”, Nhà nước và pháp luật, (2).
44. Thu Thủy (2011), “Trung Quốc - gần 50 hãng sản xuất sữa phải đóng cửa”,
, ngày 14/5.
45. Trọng Nghiệp (2011), “Tỷ lệ xe triệu hồi của Toyota Việt Nam thấp”,
htpp://Vnexpress.net, ngày 16/6.
46. Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Bộ môn quản lý chất lượng (2005), Giáo trình Quản
lý chất lượng trong các tổ chức, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội.
47. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội.
48. Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Luật La Mã, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
49. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật Thương mại, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội.
50. Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật dân sự, tập I, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội.
51. Uyên Phương (2010), “Aspirin làm giảm bệnh ung thư”, Báo Khoa học và Phát triển,
ngày 4/11.
52. Viện Đại học Mở Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Thương Mại, Nxb Công an nhân dân,

England.
66. Phillip, Jerry J. (2003), Products Liability in a Nut Shell, 6th edn, West.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status