Một số vấn đề chung về chế định Trách nhiệm sản phẩm và vai trò của nó trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. - Pdf 58

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH TNSP VÀ VAI TRÒ CỦA
CHẾ ĐỊNH NÀY DƯỚI GÓC ĐỘ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG
Ths. Trần Thị Quang Hồng*
Trương Hồng Quang**
(Bài đăng trên Tạp chí NN & PL số tháng 12/2010)
1. Lịch sử hình thành chế định trách nhiệm sản phẩm
Trong quá trình hoàn thiện các công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng, chế định trách nhiệm sản phẩm đã ra đời như
một sự tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng một cách đầy đủ và hữu hiệu hơn. Chế định pháp luật
này được áp dụng đầu tiên ở Hoa Kỳ và sau đó được tiếp nhận bởi các quốc gia ở Châu Âu (ở cấp độ Liên minh Châu
Âu và quốc gia thuộc Liên minh), ở Châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, các quốc gia ASEAN). Pháp luật về
trách nhiệm sản phẩm đã được phát triển để thúc đẩy sự an toàn và bồi thường thích đáng trong các trường hợp một
bên bị thương tích hoặc tổn thất từ việc sử dụng sản phẩm. Các nguyên tắc được áp dụng để đạt được mục tiêu này
được sử dụng khá linh hoạt, được phát triển để cân bằng lợi ích của người sản xuất và người cung ứng với việc bảo
vệ quyền lợi cho những người có thể bị ảnh hưởng từ việc sử dụng sản phẩm của họ. Từ một quan điểm và chính
sách, pháp luật trách nhiệm sản phẩm đề cao trách nhiệm đưa ra những lợi ích để tích luỹ cho sự phát triển của xã
hội, sản xuất, mua bán và sử dụng các sản phẩm bằng cách tạo ra các ưu đãi để sản xuất những sản phẩm không có
khuyết tật hoặc đưa ra những cảnh báo phù hợp về bất kỳ sự nguy hiểm liên quan đến việc sử dụng sản phẩm. Nhiều
yếu tố có ảnh hưởng đến việc tăng nguy cơ và mức độ trách nhiệm tiểm ẩn của những sản phẩm trên thị trường đó
là việc tăng tính phức tạp của sản phẩm, các quy định của chính phủ can thiệp rộng hơn với những thủ tục được ban
hành mới…
Ở góc độ lịch sử, quá trình hình thành của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm về căn bản được đánh đồng với quá
trình suy vong của học thuyết về tính tất yếu của hợp đồng (The doctrine of Privity)[1]. Theo học thuyết về tính tất
yếu của hợp đồng, không thể trao quyền hay áp đặt nghĩa vụ theo hợp đồng cho bất kỳ chủ thể nào không phải là
một bên của hợp đồng đó. Tính tất yếu của hợp đồng đưa đến một cách hiểu là chỉ có các bên trong quan hệ hợp
đồng mới có thể kiện để yêu cầu thực thi quyền hay đòi bồi thường thiệt hại cho mình.
Với quan niệm của học thuyết tính tất yếu của hợp đồng thì một người bị thiệt hại chỉ có thể kiện một người có hành
vi bất cẩn nếu người đó mà một bên trong giao dịch với người bị thiệt hại. Như vậy, nghĩa vụ của một người phải có
sự cẩn trọng hợp lý chỉ xuất phát từ hợp đồng và chỉ người nào cùng tham gia quan hệ hợp đồng đó mới có thể kiện
vì sự vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng này. Điều đó cũng có nghĩa là khi một nhà sản xuất bất cẩn bán một sản phẩm
cho một người kinh doanh bán lẻ và người kinh doanh bán lẻ đó lại bán sản phẩm cho khách hàng thì người sản xuất
không phải chịu trách nhiệm gì cả. Khách hàng khi đó không có bất kỳ biện pháp nào để yêu cầu đòi bồi thường thiệt

một ngoại lệ của quy tắc phải có quan hệ hợp đồng cũng đã hình thành với các vụ việc liên quan đến sản phẩm tiêu
dùng (thức ăn, đồ uống, thuốc) và cuối cùng là các sản phẩm sử dụng trực tiếp cho cơ sở (ví dụ mỹ phẩm), và bảo
đảm trong các vụ việc này được mở rộng đến người sử dụng cuối cùng. Trong các trường hợp mà có sự bảo đảm rõ
ràng, chẳng hạn như sự bảo đảm được tuyên bố đối với công chúng nói chung, thì yêu cầu phải có quan hệ hợp đồng
đã được loại bỏ trong những năm 30 thế kỷ 20. Chẳng hạn như một tuyên bố trong tài liệu kèm theo sản phẩm ô tô
rằng kính chắn gió chống vỡ sẽ tạo thành một sự bảo đảm rõ ràng đối với người mua về việc kính chắn gió không thể
vỡ (Xem án lệ Baxter kiện Công ty Ford Motor [Wash. 1932]).
Đối với sự bảo đảm ngầm định, việc mở rộng các ngoại lệ đối với quy tắc phải có quan hệ hợp đồng không áp dụng
đối với các sản phẩm không phải là thức ăn, đồ uống hay các sản phẩm tương tự cho tới khi có vụ việc Henningsen
kiện Công ty ô tô Bloomfield (32 N.J. 358, 161 A.2d 69 (1960)). Trong vụ việc này, Toà án Tối cao New Jersey đã bác
bỏ ngoại lệ về sự hạn chế của yêu cầu phải có quan hệ hợp đồng và xác định rằng sự đảm bảo ngầm định sẽ là đảm
bảo với người sử dụng hoặc tiêu dùng cuối cùng của sản phẩm. Quyết định Henningsen, với tác dụng làm vô hiệu các
miễn trách đối với đảm bảo ngầm định của nhà sản xuất, đã được học tập trong phần lớn các phán quyết toà án khác
sau này.
Từ năm 1930 đến 1960, các nhà nghiên cứu về pháp lý và một số thẩm phán đã thảo luận về việc tạo ra trách nhiệm
nghiêm ngặt trong các vụ việc về bồi thương thiệt hại ngoài hợp đồng đối với các sản phẩm khuyết tật. Sự vận dụng
trong ngành tư pháp được biết đến nhiều nhất là thẩm phán Toà án tối cao California Roger John Traynor trong vụ
việc Escola kiện Công ty sản xuất chai Coca Cola của Fresno, 24 Cal. 2d 453, 150 P.2d 436 (1944). Một loạt các lý
giải đã được đưa ra cho trách nhiệm nghiêm ngặt: sự bất cẩn thường rất khó để chứng minh; trách nhiệm nghiêm
ngặt có thể được hình thành do một loạt các hành động vi phạm nghĩa vụ đảm bảo; trách nhiệm nghiêm ngặt khuyến
khích các nhà sản xuất tạo ra sự an toàn cần thiết đối với sản phẩm; các nhà sản xuất ở vị trí tốt nhất để hoặc là loại
trừ tính gây hại, hoặc là bảo hiểm hoặc phân bổ chi phí rủi ro; nhà sản xuất một sản phẩm tạo ra niềm tin cho người
tiêu dùng rằng sản phẩm là an toàn và cần được gắn với sản phẩm.
Cuối cùng, vào năm 1963, trong vụ việc Greenman kiện Yuba Power Products, Inc., 59 Cal. 2d 57, 377 P.2d 897, Toà
án tối cao California đã khẳng định quy tắc về trách nhiệm nghiêm ngặt đối với các sản phẩm có khuyết tật. Trong
một thời gian ngắn, quy tắc về trách nhiệm nghiêm ngặt đã lan ra khắp nước Mỹ và vào năm 2003, nó đã trở thành
luật của phần lớn các bang của Hoa Kỳ và được hình thành tại các quốc gia khác trên thế giới.
2. Khái niệm và bản chất của chế định trách nhiệm sản phẩm
2.1. Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm sản phẩm
Ở góc độ khái quát, trách nhiệm sản phẩm (product liability) được giải thích là trách nhiệm của người sản xuất hoặc

Tuy nhiên, giống như bất kỳ chế định bồi thường thiệt hại nào, sự tồn tại thực tế của khuyết tật có thể sẽ không phát
sinh trách nhiệm nếu như không có thiệt hại thực tế xảy ra. Chỉ khi có một thiệt hại thực tế xảy ra và thiệt hại đó
thực sự là do khuyết tật của sản phẩm gây ra thì mới phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phạm vi trách
nhiệm cũng sẽ nằm trong phạm vi, mức độ thiệt hại xảy ra trên thực tế gây ra bởi khuyết tật của sản phẩm đó. Như
vậy, cơ sở xác định trách nhiệm phải bao gồm sự tồn tại của khuyết tật của sản phẩm, có thiệt hại thực tế xảy ra và
có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra với khuyết tật của sản phẩm.
- Trách nhiệm sản phẩm là một dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Việc xác định trách nhiệm đối
với sản phẩm không có bất kỳ đòi hỏi nào về việc giữa người bị thiệt hại và nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm phải
tồn tại một quan hệ hợp đồng. Như đã phân tích, mối liên hệ giữa người phải chịu trách nhiệm và người được xác
định thông qua một sản phẩm mà người phải chịu trách nhiệm là người sản xuất hoặc cung ứng và người được bồi
thường thiệt hại là người tiêu dùng nó, giữa họ có thể có quan hệ hợp đồng, giao dịch trực tiếp hoặc không có quan
hệ hợp đồng[6].
2.2. Bản chất của chế định trách nhiệm sản phẩm
Về bản chất, trách nhiệm sản phẩm chính là sự ràng buộc về mặt pháp luật trách nhiệm của các nhà sản xuất, phân
phối cũng như người bán lẻ đối với công chúng khi cung ứng sản phẩm trên thị trường. Trách nhiệm đó thể hiện ở
việc khi một sản phẩm được nhà cung cấp đưa ra thị trường, sản phẩm đó đương nhiên phải được coi là an toàn,
không phụ thuộc vào việc người sản xuất hay cung ứng có công bố là sản phẩm đó có an toàn hay không. Với sự
ràng buộc trách nhiệm này, để tránh những hậu quả pháp lý phải gánh chịu khi mà sản phẩm có khuyết tật gây ra
thiệt hại cho người tiêu dùng, nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm khi đưa sản phẩm ra thị trường sẽ phải nỗ lực để
loại trừ khuyết tật của sản phẩm, từ đó đem lại cho người tiêu dùng những sản phẩm đảm bảo an toàn. Trong trường
hợp sự an toàn không được đảm bảo và người tiêu dùng phải gánh chịu thiệt hại thì họ sẽ được bồi thường, do vậy lợi
ích của người tiêu dùng sẽ được đảm bảo ở mức độ cao nhất. Với hệ thống quy định của pháp luật về trách nhiệm
sản phẩm, người tiêu dùng đương nhiên được bảo vệ và không đòi hỏi phải có bất kỳ khả năng đàm phán, thuyết
phục nào và không một nhà sản xuất hay cung ứng nào có thể sử dụng ưu thế của mình trong quan hệ với người tiêu
dùng để loại trừ trách nhiệm này.
2.3. Phân biệt các chế định đặc thù về bảo vệ người tiêu dùng và chế định trách nhiệm sản phẩm
Bản Hướng dẫn thứ năm về Bảo vệ người tiêu dùng của Liên Hợp Quốc được thông qua năm 1985 đã thấy trước được
giá trị đối với người tiêu dùng về những đền bù hiệu quả cho tổn thất họ phải gánh chịu[7]. Bản Hướng dẫn này đã
nêu rõ:
“Các chính phủ phải xây dựng hoặc duy trì các biện pháp pháp lý và/hoặc hành chính nhằm cho phép người tiêu

điều kiện thực hiện đầy đủ quyền thoả thuận và định đoạt của mình thì các nội dung của hợp đồng tiêu dùng vẫn sẽ
được giải thích theo hướng đảm bảo một cách hợp lý lợi ích chính đáng của người tiêu dùng.
- Chế định bảo hành cũng là một chế định tương đối đặc trưng trong hệ thống pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng.
Chế định này đòi hỏi người sản xuất, cung ứng sản phẩm là hàng hoá trong một thời gian nhất định kể từ khi cung
ứng hàng hoá cho người tiêu dùng phải có trách nhiệm đổi hàng mới hoặc sửa chữa nếu hàng hoá được mua không
vận hành đúng theo yêu cầu mà sản phẩm phải đáp ứng. Để đảm bảo người kinh doanh tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ
này, các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng sẽ đưa ra những ràng buộc để hạn chế nhà kinh doanh đưa ra
những biện pháp nhất định nhằm giảm thiểu hoặc lảng tránh trách nhiệm bảo hành đối với hàng hoá đã cung cấp cho
người tiêu dùng.
Các chế định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng nêu trên đều bảo vệ người tiêu dùng trong mối quan hệ trực tiếp
với người cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa các chế định về bảo vệ người tiêu dùng này
với chế định về trách nhiệm sản phẩm, theo đó người tiêu dùng được bảo vệ không phụ thuộc vào việc họ có quan hệ
hợp đồng với người cung cấp sản phẩm đó hay không. Nếu một người tiêu dùng bị thiệt hại bởi một khuyết tật trong
sản phẩm và có thể xác định được nhà cung cấp sản phẩm đó thì người tiêu dùng sẽ có khả năng đòi bồi thường cho
thiệt hại mà mình phải gánh chịu. Nói cách khác, chế định trách nhiệm sản phẩm bảo vệ người tiêu dùng trong tất cả
các trường hợp có tiêu dùng sản phẩm chỉ với điều kiện sản phẩm đó có nguồn gốc xác định
3. Các cơ sở và chức năng của chế định trách nhiệm sản phẩm
Việc phát triển chế định pháp luật về trách nhiệm sản phẩm không chỉ về mặt đạo đức, xã hội mà còn có cơ sở về mặt kinh tế.
- Về mặt kinh tế: Sự phân công lao động xã hội trong một nền kinh tế phát triển là cơ sở quan trọng của chế định trách nhiệm sản
phẩm. Trong một xã hội chuyên môn hoá, không một người nào có thể tồn tại độc lập và tự mình cung cấp các sản phẩm đáp ứng
đầy đủ các nhu cầu của bản thân mà luôn phải sử dụng sản phẩm của người khác và đồng thời lại cung ứng cho người khác sản
phẩm của chính mình. Điều này đặc biệt phát triển trong nền kinh tế thị trường, với sự phát triển mạnh mẽ của các kênh phân phối
và sản phẩm từ một nhà sản xuất có thể được tiêu dùng bởi bất kỳ một người tiêu dùng nào trên phạm vi toàn cầu. Sự phụ thuộc
lẫn nhau trong khi không có bất kỳ mối liên hệ trực tiếp nào đòi hỏi pháp luật phải có cơ chế nhất định ràng buộc trách nhiệm giữa
những người mà mối liên hệ duy nhất giữa họ là sản phẩm đang được tiêu dùng.
Bên cạnh đó, người sản xuất, cung ứng là người chủ động đưa sản phẩm ra thị trường và họ ở vị thế tốt hơn rất nhiều so với người
tiêu dùng trong việc đánh giá khả năng gây hại của sản phẩm với các thế mạnh về kỹ thuật, phương tiện, cán bộ chuyên môn, khả
năng tài chính… Do vậy, yêu cầu nhận biết khả năng có thể gây thiệt hại này và đưa ra các biện pháp chuyên môn nhằm ngăn ngừa
khả năng này đối với nhà sản xuất, cung ứng là phù hợp. Hơn nữa, người sản xuất, cung ứng là người được thu lợi từ việc đưa sản
phẩm ra thị trường, do vậy, họ có thể và có trách nhiệm phải bù đắp các thiệt hại mà sản phẩm của họ gây ra cho người tiêu dùng.

- Đảm bảo trật tự, an toàn xã hội: bất kỳ thành viên nào trong xã hội cũng đều là người tiêu dùng và vì vậy, việc đảm bảo an toàn
cho người tiêu dùng cũng là đảm bảo an toàn cho các thành viên trong xã hội nói chung. Khi đặt ra yêu cầu về tính an toàn của sản
phẩm, pháp luật về trách nhiệm sản phẩm đồng thời cũng đóng vai trò ngăn ngừa các sự cố về mất an toàn sản phẩm, ngăn ngừa
các hậu quả xã hội do các sự cố này gây ra như mất niềm tin của người tiêu dùng, sự phản ứng của xã hội, các hoạt động khác
trong xã hội bị đình trệ…
- Bảo vệ nền kinh tế nói chung: cùng với việc bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, pháp luật về trách nhiệm sản phẩm bảo vệ những
nhà sản xuất chân chính và có lương tâm trong cuộc cạnh tranh không lành mạnh với những nhà cung cấp không muốn bỏ chi phí
để áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng; đồng thời khi ngăn ngừa các sự cố mất an toàn do sản phẩm gây
ra, pháp luật về trách nhiệm sản phẩm đã đóng vai trò giảm thiểu các chi phí phải bỏ ra để khắc phục các sự cố. Và khi trong một
nền kinh tế có sự ràng buộc rất lớn giữa các doanh nghiệp và sự tồn tại, vận hành bình thường của một doanh nghiệp này là cơ sở
cho sự tồn tại và vận hành bình thường của một doanh nghiệp khác thì việc ngăn ngừa các sự cố đối với mỗi doanh nghiệp cũng sẽ
giúp bảo vệ sự ổn định của nền kinh tế nói chung.
4. Vai trò của chế định trách nhiệm sản phẩm trong việc bảo vệ người tiêu dùng
Qua việc phân biệt ở trên đã cho thấy tính đặc thù của chế định trách nhiệm sản phẩm. Do đó, có thể đưa ra một số vai trò của chế
định trách nhiệm sản phẩm đối với việc bảo vệ người tiêu dùng như sau:
Thứ nhất, Có thể thấy, trách nhiệm sản phẩm là một bước để hoàn chỉnh cơ chế bảo vệ đối với người tiêu dùng khi mở rộng diện
bảo vệ người tiêu dùng không phụ thuộc vào việc có quan hệ hợp đồng hay không. Với chế định này, nhà kinh doanh khi đưa sản
phẩm ra thị trường sẽ phải chịu trách nhiệm đến cùng cho sản phẩm đó, cho dù giao dịch đã được hoàn tất. Chế định này không chỉ
giúp khôi phục quyền lợi của người tiêu dùng khi bị thiệt hại bởi sản phẩm mà còn có ý nghĩa răn đe đối với bất kỳ nhà kinh doanh
nào, để tránh phát sinh trách nhiệm bồi thường, tránh bị thiệt hại về mặt kinh tế và uy tín, nhà kinh doanh sẽ phải áp dụng các
biện pháp cần thiết để loại bỏ ở mức cao nhất các khuyết tật trong sản phẩm. Bằng các phương thức này, quyền lợi của người tiêu
dùng sẽ được bảo vệ hiệu quả hơn.
Thứ hai, Trách nhiệm sản phẩm quy định về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng khi sản phẩm có
khuyết tật. Người tiêu dùng sẽ được bồi thường để khắc phục và bù đắp một phần thiệt hại mà mình phải gánh chịu. Trong quan hệ
với nhà sản xuất, người tiêu dùng luôn có vị trí yếu thế hơn nhà sản xuất về tiềm năng kinh tế và khả năng gánh chịu rủi ro. Vì vậy,
chế định trách nhiệm sản phẩm ra đời là công cụ pháp lý mạnh mẽ để bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.
Dựa vào các quy định của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm, người tiêu dùng có thể khởi kiện hoặc khiếu nại đối với các bên cung
ứng sản phẩm để yêu cầu bồi thường thiệt hại[10].
Thứ ba, Trách nhiệm sản phẩm đồng thời cũng có tác động lớn đến nhà sản xuất sản phẩm phục vụ tiêu dùng.
Hiện nay, bản thân áp lực cạnh tranh trên thị trường cũng như ý thức về trách nhiệm sản phẩm đã khiến nhiều nhà sản xuất/cung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status