Luận văn trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá đối với người tiêu dùng theo pháp luật việt nam hiện nay - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI ANH TÙNG

TRÁCH NHIỆM BẢO HÀNH CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
KINH DOANH HÀNG HOÁ ĐỐI VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI ANH TÙNG

TRÁCH NHIỆM BẢO HÀNH CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
KINH DOANH HÀNG HOÁ ĐỐI VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8 38 01 07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. GVC. NGUYỄN TRỌNG ĐIỆP

HÀ NỘI, 2019


DOANH HÀNG HÓA ĐỐI VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG ........................... 46
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
về trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa đối với
người tiêu dùng ............................................................................................... 47
3.2. Những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trách
pháp luật về trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa
đối với người tiêu dùng ................................................................................... 53
KẾT LUẬN .................................................................................................... 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 63


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS

: Bộ Luật dân sự

NTD

: Người tiêu dùng

LBVQLNTD

: Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa



được là vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng đòi hỏi không chỉ cung cấp cho người tiêu dùng giấy tiếp nhận bảo
hành; cung cấp cho người tiêu dùng hàng hóa, linh kiện, phụ kiện tương tự để
sử dụng tạm thời hoặc đổi hàng hóa...mới tương tự mà còn cần phải có các
biện pháp chế tài đối với những chủ thể vi phạm không đảm bảo đúng trách
nhiệm bảo hành. Tuy nhiên, có thể thấy việc đặt ra trách nhiệm bảo hành cho
chủ thể cung cấp hàng hóa không thể được đảm bảo đầy đủ nếu không được
ghi nhận bằng pháp luật. Chỉ đến khi thông qua pháp luật, thì những nghĩa vụ
tôn trọng và thực thi các quyền không chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc xử
1


sự đạo đức mà trở thành những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung cho
tất cả mọi chủ thể trong xã hội. Chính vì thế, pháp luật là phương tiện hữu
hiệu để đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp cho các chủ thể.
Việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung hay trách nhiệm bảo
hành của các tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng đã được
pháp luật ghi nhận trong nhiều văn bản luật. Tuy nhiên, có thể thấy trách
nhiệm bảo hành hàng hóa của các tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người
tiêu dùng đã được quy định trong các văn bản luật nhưng số lượng các quy
định về vấn đề này còn khiêm tốn chưa tương xứng với thực tế và nhu cầu của
xã hội.
Bên cạnh đó có thể thấy, thực trạng vì lợi ích kinh tế của tổ chức, cá
nhân kinh doanh mà người tiêu dùng đang bị lừa đảo, chiếm đoạt tài sản hoặc
đang phải sử dụng những sản phẩm độc hại vô cùng nhức nhối gây phẫn nộ
cho nhân dân; việc các cơ quan chức năng thực thi pháp luật về bảo vệ người
tiêu dùng còn chưa thực sự hiệu quả. Bởi vậy, mà việc nghiên cứu pháp luật
về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng là
một vấn đề vô cùng cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.
Với những luận điểm trên, em lựa chọn đề tài: “Trách nhiệm bảo hành

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề tác giả bao gồm:
các quan điểm, các quy phạm pháp luật, các quy định về trách nhiệm của tổ
chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng hiện hành.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về không gian bao gồm: Những quy định về pháp
luật hiện hành về trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối
với người tiêu dùng tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu về thời gian bao gồm: Từ năm 2012 đến năm 2018

3


Địa bàn nghiên cứu: Trên cả nước.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực
tiễn để pháp luật về trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hóa đối với người tiêu dùng của Việt Nam. Đồng thời, đề xuất các giải
pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách
nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa đối với người tiêu
dùng ở Việt Nam hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả thực hiện những nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ bản chất vai trò ý nghĩa của trách nhiệm bảo hành của tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa đối với người tiêu dùng.
+ Phân tích, làm rõ thực trạng của các quy định pháp luật về trách
nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa đối với người
tiêu dùng.

nhân kinh doanh hàng hóa đối với người tiêu dùng. Qua đó, luận văn góp
phần vào quá trình hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn “Trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hoá đối với người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay” được kết
cấu gồm ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận. Phần nội dung gồm ba
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm bảo hành của tổ chức,
cá nhân kinh doanh hàng hóa đối với người tiêu dùng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về trách
nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa đối với người tiêu
dùng.
5


Chương 3: Định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng
cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá nhân
kinh doanh hàng hóa đối với người tiêu dùng

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BẢO HÀNH CỦA
TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH HÀNG HÓA ĐỐI VỚI
NGƯỜI TIÊU DÙNG
Trong quá trình hoạt động, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ tham gia vào nhiều quan hệ pháp lý khác nhau nên cũng phải thực hiện
nhiều loại trách nhiệm trong các lĩnh vực khác nhau như trách nhiệm về thuế,
trách nhiệm về chứng từ, trách nhiệm về đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ…

liên quan đến hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của mình”
Theo Điều 2 Luật BVNTD năm 1993 của Trung Quốc có quy định về
người tiêu dùng như sau: “Trường hợp người tiêu dùng có nhu cầu cuộc sống,
mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ thì các quyền và lợi ích hợp pháp của mình
sẽ được bảo vệ theo quy định của luật này và trường hợp luật này không quy
định thì sẽ được bảo vệ theo các quy định khác có liên quan của pháp luật”.
Theo quy định này thì có thấy, người tiêu dùng chỉ là cá nhân và việc mua
hàng hóa, dịch vụ chỉ nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt chứ không phải mục
đích kinh doanh.
Theo Điều 13 Bộ luật dân sự của Đức năm 2002 khái niệm về người
tiêu dùng: “Người tiêu dùng là bất cứ tự nhiên nhân nào tham gia giao dịch
không thuộc phạm vi hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc nghề nghiệp
của người này”.
Theo Điều 2-1, Luật hợp đồng tiêu dùng của Nhật Bản năm 2000 định
nghĩa: “Người tiêu dùng theo quy định của luật này là cá nhân nhưng không
bao gồm trường hợp cá nhân tham gia quan hệ hợp đồng với mục đích kinh
doanh”.
Có thể thấy, đại đa số định nghĩa về người tiêu dùng của các nước trên
Thế giới đều có hướng quy định chung về người tiêu dùng là cá nhân. Với

8


mục đích, là để bảo vệ bên yếu thế hơn trong quan hệ kinh tế chính là người
tiêu dùng so với tổ chức, công ty,... kinh doanh buôn bán có hiểu biết hơn về
ngành hàng.
Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm người tiêu dùng lần đầu tiên được
ra đời chính thức theo Điều 1 Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng năm 1999.
Theo đó, “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục
đích tiêu dùng sinh hoạt cá nhân, gia đình và tổ chức”. Đến năm 2010, Luật

“Kinh doanh” như sau: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số
hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Khái niệm kinh doanh chính là việc thực hiện quá trình từ sản xuất đến
tiêu thụ sản phẩm và nhằm mục đích sinh lợi. Từ đó mà Pháp luật Việt Nam
cũng quy định về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ như sau:
Theo Khoản 2 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định
về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ: “Tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất
cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hoá
hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mụch đích sinh lợi, bao gồm: a)
Thương nhân theo quy định của Luật Thương mại; b) Cá nhân hoạt động
thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh” [16].
1.1.3. Trách nhiệm bảo hành hàng hóa của tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hóa
Định nghĩa từ điển của từ "bảo hành" là "một sự đảm bảo bằng văn
bản, được phát hành cho người mua bởi nhà sản xuất, cam kết sẽ sửa chữa
hoặc thay thế sản phẩm nếu cần thiết trong một khoảng thời gian nhất định".
Nói cách khác, đây là một cam kết chính thức của nhà sản xuất với khách

10


hàng của họ (khách hàng mua sản phẩm), bảo đảm rằng, trong một khoảng
thời gian được đưa ra, chất lượng và hiệu quả của sản phẩm sẽ đáp ứng mong
đợi của người tiêu dùng.
Ví dụ: Giả sử khi bạn đi mua sắm tại một cửa hàng điện tử, nhân
viên bán hàng nói rằng bạn sẽ nhận được bảo hành 3 năm nếu bạn mua ổ
đĩa cứng của một thương hiệu cụ thể, thì điều đó có nghĩa rằng nhà sản
xuất ổ đĩa cứng đó sẽ sửa chữa, thay thế hoặc hoàn tiền cho bạn nếu ổ đĩa

sách bảo hành 10 năm cho chiếc nệm, nhưng Kymdan lại áp dụng chính sách
bảo hành trọn đời cho sản phẩm của mình.
Theo quy định Điều 21 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy
định trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện như sau: “Hàng hóa,
linh kiện, phụ kiện được bảo hành theo thỏa thuận của các bên hoặc bắt buộc
bảo hành theo quy định của pháp luật. Trường hợp hàng hóa, linh kiện, phụ
kiện được bảo hành, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện do mình
cung cấp”.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu Trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa đối với người tiêu dùng là: “Trách nhiệm bảo hành
hàng hóa là trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc sửa
chữa, thay thế hoặc hoàn trả hàng hóa đối với người tiêu dùng trong trường
hợp hàng hóa đó được các bên thỏa thuận bảo hành hoặc bắt buộc bảo hành
theo quy định của pháp luật”.
Từ định nghĩa này, có thể thấy trách nhiệm bảo hành của các tổ chức cá
nhân đối với hàng hóa, linh kiện, phụ kiện đối với người tiêu dùng có các đặc
điểm sau:
- Cơ sở phát sinh trách nhiệm bảo hành là do thỏa thuận của các bên
hoặc do pháp luật quy định bắt buộc bảo hành trong những trường hợp nhất
định.

12


- Trách nhiệm bảo hành thông thường chỉ áp dụng đối với hàng hóa,
linh kiện, phụ kiện (hàng hóa hữu hình).
- Trách nhiệm bảo hành được xác lập trong một thời hạn nhất định.
1.2. Pháp luật về trách nhiệm bảo hành hàng hóa của tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa

có trách nhiệm:
1. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện do
mình cung cấp;
2. Cung cấp cho người tiêu dùng giấy tiếp nhận bảo hành, trong đó ghi
rõ thời gian thực hiện bảo hành. Thời gian thực hiện bảo hành không tính vào
thời hạn bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện. Trường hợp tổ chức, cá nhân
kinh doanh hàng hóa thay thế linh kiện, phụ kiện hoặc đổi hàng hóa mới thì
thời hạn bảo hành linh kiện, phụ kiện hoặc hàng hóa đó được tính từ thời
điểm thay thế linh kiện, phụ kiện hoặc đổi hàng hóa mới;
3. Cung cấp cho người tiêu dùng hàng hóa, linh kiện, phụ kiện tương tự
để sử dụng tạm thời hoặc có hình thức giải quyết khác được người tiêu dùng
chấp nhận trong thời gian thực hiện bảo hành;
4. Đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng
hóa, linh kiện, phụ kiện và trả lại tiền cho người tiêu dùng trong trường hợp
hết thời gian thực hiện bảo hành mà không sửa chữa được hoặc không khắc
phục được lỗi.
5. Đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng
hóa và trả lại tiền cho người tiêu dùng trong trường hợp đã thực hiện bảo hành
hàng hóa, linh kiện, phụ kiện từ ba lần trở lên trong thời hạn bảo hành mà vẫn
không khắc phục được lỗi;
6. Chịu chi phí sửa chữa, vận chuyển hàng hóa, linh kiện, phụ kiện đến
nơi bảo hành và từ nơi bảo hành đến nơi cư trú của người tiêu dùng;
14


7. Chịu trách nhiệm về việc bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện cho
người tiêu dùng cả trong trường hợp ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực
hiện việc bảo hành.
Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã đưa ra các tình huống, trường
hợp để bảo vệ người yếu thế trong mối quan hệ này. Người yếu thế chính là

nảy sinh tư tưởng kinh doanh chụp giựt , gian dối,… ảnh hưởng đến nền tảng
đạo đức kinh doanh và hình ảnh đối với người tiêu dùng.
Chưa kể đến xuất thân từ nền kinh tế có tầm nhìn ngắn hạn và hay thay
đổi muốn đi đường tắt thay vì kiên nhẫn chờ đợi kết quả bền vững, lâu dài.
Dẫn đến việc thiếu chữ tín đối với người tiêu dùng, hay viện dẫn các lý do
khách quan để khước từ những cam kết trước đó với người tiêu dùng, đùn đẩy
trách nhiệm cho người tiêu dùng.
1.3.2. Yếu tố tổ chức bộ máy cơ quan công quyền thực hiện việc thanh
tra, giám sát, xử lý và giải quyết tranh chấp pháp luật về bảo vệ người tiêu
dùng
Từ khi Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ra đời và quy định những
trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa đối với người tiêu
dùng cho thấy Nhà nước can thiệp vào mối quan hệ này nhằm mục đích đặt ra
nhằm bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế hơn là người tiêu dùng.
Nhà nước cũng thành lập những cơ quan, tổ chức nhằm mục đích bảo
vệ tối đa quyền được bảo hành của bên yếu thế hơn là người tiêu dùng.
Các cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã và đang sáng
tạo ra rất nhiều những phương pháp để người tiêu dùng có thể thực hiện
quyền của mình như: đường dây nóng, đơn thư khiếu nại, e-mail khiếu nại,...
tạo tối đa tiện ích cho người tiêu dùng trong việc khiếu nại, tố cáo những sản
phẩm lỗi.
Song song với những điểm sáng trên thì vẫn còn nhiều vấn đề hạn chế
của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền lợi bảo hành của
người tiêu dùng. Có những vụ việc chỉ được cơ quan chức năng vào cuộc sau
16


khi báo chí đưa tin hay khi người tiêu dùng đã bị thiệt hại hoặc có những vụ
việc do những cán bộ thông đồng với tổ chức, cá nhân kinh doanh để che giấu
những việc làm sai trái.

những quy định này chưa thực sự tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng.
2.1. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bảo hành của tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hoá đối với người tiêu dùng
2.1.1. Quy định về trách nhiệm bảo hành hàng hóa nói chung
Để bảo đảm quyền lợi chính đáng của số đông người tiêu dùng, chế
định về bảo hành hàng hóa được các nhà làm luật đưa vào trong nhiều văn
bản quy phạm pháp luật, như là Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại, đặc biệt
là Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Theo đó, Điều 21 Luật Bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng có quy định: “Hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được
bảo hành theo thỏa thuận của các bên hoặc bắt buộc bảo hành theo quy định
của pháp luật. Trường hợp hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được bảo hành, tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện do mình cung cấp”. Ngoài ra, tổ chức,
cá nhân kinh doanh còn phải tuân thủ nhiều trách nhiệm cụ thể khác về bảo
18


hành được quy định tại Điều 21 và các điều khác của Luật Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng.
-

Trách nhiệm cung cấp giấy bảo hành.

"Giấy bảo hành" là "một sự đảm bảo bằng văn bản, được phát hành cho
người mua bởi nhà sản xuất, cam kết sẽ sửa chữa hoặc thay thế sản phẩm nếu
cần thiết trong một khoảng thời gian nhất định". Nói cách khác, đây là một
cam kết chính thức của nhà sản xuất với khách hàng của họ (khách hàng mua
sản phẩm), bảo đảm rằng, trong một khoảng thời gian được đưa ra, chất lượng
và hiệu quả của sản phẩm sẽ đáp ứng mong đợi của người tiêu dùng,
Về mặt thời hạn thì một lá thư bảo hành sẽ nêu rõ khoảng thời gian bảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status