1
Luận văn
TRỌNG TÀI KINH TẾ-
MỘT HÌNH THỨC GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP
KINH TẾ
2
Lời Nói Đầu
Quá trình đổi mới và hoà nhập của Việt Nam đã đạt được những
thành công điều này đã làm cho đất nước có những chuyển biến đáng kể,
nhất là sự chuyển biến của nền kinh tế. Sự chuyển biến này đã làm cho
các quan hệ kinh tế trở nên sống động đa dạngvà phức tạp hơn - Bản chất
của các quan hệ kinh tế hoạt động với mục tiêu là lợi nhuận, do vậy đối
với các doanh nghiệp thì cạnh tranh và lợi nhuận là hai nhân tố có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau. Doanh nghiệp nào cạnh tranh càng nhiều thì
có nhiều cơ hội thu được nhiều lợi nhuận hơn và ngược lại Doanh nghiệp
nào cạnh tranh ít thì sẽ ít cơ hội hơn dẫn đến ít thu được lợi nhuận hơn.
Thực trạng cho thấy trong nước cạnh tranh ngày càng gay gắt nhất
là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau( giữa các doanh nghiệp
trong nước với nhau , các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp
nước ngoài).Yêu cầu đặt ra là để hoà giải tranh chấp này thì cơ quan, tổ
chức nào có thẩm quyền đứng ra hoà giải? Đối với nước ta hiện nay thì
phương thức giảI quyết tranh chấp chủ yếu là giải quyết theo con đường
toà án kinh tế –giảI quyết bằng con đường này sẽ làm cho các doanh
công ty với các thành viên công ty, giữa các thành viên công ty với nhau,
liên quan đến việc thành lập, hoạt động , giải thể công ty , các tranh chấp
liên quan đến việc mua bán cổ phiếu , trái phiếu.
2.Nguồn gốc tranh chấp.
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, Việc thiết lập nên các
quan hệ dân sự,thương mại, kinh doanh…phải xuất phát từ ý chí của các
chủ thể tham gia. Sự thống nhất ý chí đó được thể hiện thông qua nhiều
hình thức giao kết, có thể bằng văn bản hoặc bằng miện. Dù ở hình thức
nào, kể từ thời điểm các giao kết đã được chấp thuận có ngihã là các bên
đã thẻ hiện sự tự do ý chí và thống nhát ý chí thì các bên phải có nghĩa vụ
thực hiện những điều khoản đã cam kết, kể từ thời diểm đó sẽ phát sinh
quyền và nghĩa vụ của các chủ trong một quan hệ pháp luật nhất định.
Tuy nhiên, không phải lúc nào các bên cũng thưc hiện đầy đủ những điều
khảo đã cam kết. Chính vì vậy đã làm phát sinh các quan hệ ttranh chấp. 4
Việc phát sinh các quan hệ tranh chấp do nhiều nguyên nhân những
nguyên nhân đó có thể do khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán, về
chế độ chính trị…
Trong các loại tranh chấp hiện nay thì tranh chấp kinh doanh là một
trong những loại tranh chấp mang những nét đặc thù gần tựa với hoạt
đọng sản xuất kinh doanh nếu tranh chấp kinh doanh là sự bất đồng, mâu
thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể, là yếu tố khách quan trên
thương trường thì việc xác định, giải quyết những tranh cháp đó là việc
làm không thể thiếu được, nhằm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của các
chủ thể tham gia. Đó là những cách thức, phương thức để áp dụng giải
quyết theo cácquy tắc chung, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của
mọi khu vực, của mỗi quốc gia.
Khi tranh chấp phát sinh các bên đều có thể tiến hành lựa chọn cho
đó , cuối năm 1973, NQ số 22 của chính phủ đề ra nhiệm vụ “phảI tăng
cường pháp chế XHCN” . Thực hiện các quyết định đó của ban chấp hành
trung ương đảng ,chính phủ đã ban hành NĐ số 54/CP ngày 10/3/1975 về
chế độ hợp đồng kinh tế và ngày 14/4/1975 chính phủ ban hành NĐ số
75/CP về điều lệ tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế nhà nước.
Theo nghi định này , trọng tài kinh tế được thành lập như một cơ quan
nhà nước có chức năng quản lý công tác hợp đồng kinhđkinh tế với nội
dung:giữ vững kỷ luật của nhà nước về hợp đồng kinh tế , giải quyết các
tranh chấp hợp đồng kinh tế và xử lý các vi phạm hợp đồng kinh tế . Với
nghị đdịnh số 24/HĐBT ngày 10/8/1981 hội đồng trọng tàI được thống
nhất tên gọi là trọng tài kinh tế.
Với sự ra đời của “Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế” thì có nhiều mối
quan hệ mới phát sinh , đòi hỏi phảI có những quy định mới để điều chỉnh
các loại quan hệ này. Đáp ứng yêu cầu đó, Hội đòng nhà nước đdã ban
hành pháp lệnh về trọng tài kinh tế , qui định về tổ chức , phân cấp thẩm
quyền , thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế .
4. Chức năng và nhiệm vụ của trọng tài kinh tế.
Trọng tài kinh tế có những chức năng và nhiệm vụ sau:
-Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế.
-Kiểm tra , kết luận và xử lý các hợp đồng kinh tế tráI pháp luật.
6
-Tuyên truyền , hướng dẫn thực hiện pháp luật hợp đồng kinh tế và
trọng tài kinh tế .
-Bồi dưỡng nghiệp vụ công tác hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh
tế .
Chức năng và nhiệm vụ của trọng tài kinh tế được thực hiện chủ yếu
thông qua hai hình thức hoạt động chủ yếu đó là hoạt động kiểm tra xử lý
và hoạt động xét xử.
Trọng tài kinh tế là cơ quan quản lý có chức năng quản lý kinh tế , nên
Những trọng tàI viên có nguyện vọng thành lập trung tâm trọng tàI
phảI làm hồ sơ xin phép Chủ tịch UBND tỉnh , thành phố trực thuộc
trung ương , nơI dự định đặt trụ sở của trung tâm.
Chậm nhất là 10 ngày , kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ , UBND
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gửi một bộ hồ sơ xin phép thành lập
trọng tài kinh tế cho bộ tư pháp. Chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nhận
được hồ sơ, bộ tư pháp có ý kiến trả lời bằng văn bản cho UBND tỉnh,
thành phố trực thuộc TW.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được ý kiến trả lời của Bộ
Tư Pháp, chủ tịch UBND tỉnh, TP trực thuộc TW quyết định cấp hoặc từ
chối cấp giấy phép thành lập trung tâm trọng tài.
b. Đình chỉ hoạt động và thu hồi giấy phép thành lập.
Trung tâm trọng tàI bị đình chỉ và thu hồi cấp giấy phép hoạt động
trong các trường hợp sau.
- Hoạt động tráI với quy định của pháp luật về trọng tài kinh tế và
điều lệ trung tâm.
- Cố ý không chấp hành nghiêm chỉnh chế độ báo cáo với cơ quan
nhà nước có chức năng quản lý công tác trọng tàI .
- Cố ý không chấp hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ do pháp luật quy
định đình chỉ hoạt động và thu hồi giấy phép thành lập trung tâm
trọng tài kinh tế được soạn gửi cho bộ tư pháp.
4. cơ cấu tổ chức của trung tâm trọng tàI .
8
Trung tâm trọng tàI gồm có chủ tịch, phó Chủ tịch và thư ký trung
tâm trọng tàI.
-Chủ tịch trung tâm trọng tàI có quyền hạn và nhiệm vụ chính sau:
Quản lý , điều hành hoạt động của trung tâm và đại diện cho trung
tâm trong quan hệ với bên ngoàI. Chỉ định trọng tàI viên giảI quyết tranh
chấp khi được yêu cầu, quyết định kết nạp, khai trừ trọng tàI viên theo đề
-Đạt hiệu quả thi hành cao nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các
bên tham gia tranh chấp.
-Đảm bảo niềm tin về mặt pháp lí cho các chủ thể kinh doanh, tức là giảI
quyết tranh chấp dứt điểm nhằm bảo đảm tính dân chủ và công bằng cho
các bên.Do có những ưu điểm trên mà trọng tàI dần dần trở thành con
đường chủ yếu giảI quyết tranh chấp kinh doanh, đóng một vai trò quan
trọng trong quá trình xét xử. Biện pháp trọng tàI được giới thương nhân
nói riêng và giới kinh doanh nói chung trên thế giới rất ưa chuộng.b.
Nhược điểm:Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì phương pháp trọng
tàI còn tồn tại những nhược điểm. Những nhược điểm này tuy không phảI
là lớn lắm, nhưng nó cũng làm cho hoạt động trọng tàI gặp không ít khó
khăn, vướng mắc:-Trong hoạt động trọng tàI, chưa có biện pháp bảo đảm
để thực hiện phán quyết của trọng tàI. Phán quyết của trọng tàI là kết quả
của một sự thoả thuận của các bên đương sự đưa vụ kiện ra trọng tàI xét
xử. Vì vậy, thông thường nó được các bên tự nguyện chấp hành. Nhưng
trong trường hợp, nếu phán quyết không được chấp hành thì bên thắng
kiện phảI yêu cầu tào án ra quyết định công nhận áp dụng cưỡng chế. Do
vậy, công ước NewYork 1985 về việc công nhận và cưỡng chế chấp hành
phán quyết trọng tàI nước ngoàI đã ra đời.Theo công ước này một khi
phán quyết trọng tàI của một nước thành viên theo công ước được gửi đến
toà án của một nước thành viên khác thì toà án nay phải công nhận và
cưỡng chế bên đương sự liên quan trong vụ việc thực hiện phán quyết đó.
Sở dĩ như vậy là vì trọng tàI phi chính phủ không có khả năng cưỡng chế
các bên đương sự trong việc thi hành các yêu cầu và quyết định trọng tàI.
Đây là hạn chế lớn nhất của trọng tàI phi chính phủ Thủ tục trọng tàI rất
phiền phức. Việc thành lập một hội đồng trọng tàI để xét xử phảI qua
nhiều công đoạn. Mỗi công đoạn là một sự lựa chọn thoả thuận. Chính vì
vậy, quá trình thành lập hội đồng trọng tàI hay dẫn dến chỗ bế tắc khi
không đạt được thoả thuận tương ứng Khả năng kiểm tra các quyết định
là tổ chức Trọng tài phi Chính phủ.1. Trọng tài vụ việc: Là tổ chức được
thành lập chỉ để giải quyết một vụ kiện. Xong vụ kiện đó thì tổ chức trọng
tài phải được giải thể vì đã hết mục đích tồn tại . Do đó trọng tài vụ việc
không có cơ quan thường trực. Ví dụ: ở Thuỵ Điển tổ chức trọng tài theo
11
vụ việc ( ad-hoc) do các bên đương sự thoả thuận lập ra. Khi xảy ra tranh
chấp kinh tế, mỗi bên có quyền đề cử một trọng tài viên. Hai trọng tài
viên đó lại có quyền đề xuất một trọng tài viên thứ ba để thiết lập một
nhóm trọng tài gồm ba người chịu trách nhiệm giải quyết tranh chấp kinh
tế. 2. Trọng tài quy chế : Là tổ chức trọng tài hoạt động thường xuyên,
trên cơ sở một quy chế định sẵn. Nó xét sử hết vụ kiện này đến vụ kiện
khác theo quy tắc tố tụng của nó. Ví dụ: Trọng tài thương mại
Stonkolm được thành lập trên cơ sở quy chế về trọng tài ban hành năm
1917, và năm 1949 được xây dựng thành một cơ quan độc lập của phòng
thương mại Stockolm được tổ chức lại thành một cơ quan trọng tài đầy đủ
điều kiện có thể giải quyết cả tranh chấp kinh tế mạng tính chất quốc tế.
Để đạt được một thoả thuận trọng tài, người ta có thể áp dụng một
số loại thủ tục tố tụng trọng tài khác nhau. Trọng tài ad-hoc và trọng tài
quy chế là hai trong số các mô hình tố tụng đó. Trong giai đoạn chuẩn
bị một thoả thuận trọng tài, trước hết và cơ bản nhất cần lựa chọn xem thủ
tục trọng tài sẽ được áp dụng là trọng tài ad-hoc hay trọng tài quy chế. -
Trong nhiều hình thức trọng tài an-hoc có một số phương thức khác nhau
và nếu chọn hình thức trọng tài an-hoc thì các bên phải tiếp tục lựa chọn
một trong số các hình thức đó. Khi lựa chọn hình thức trọng tài ad-hoc,
các bên tham gia trọng tài có thể hoạch định những nguyên tắc riêng của
mình vè trình tự thủ tục tố tụng cho phù hợp với tranh chấp của họ hoặc
thay vào đó, họ có thể chấp nhận một hệ thống quy định mẫu về trọng tài .
Đó là bản “ Quy định về trọng tài” của Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật
thương mại quốc tế ( UNCITRAL). Tuy nhiên, nếu vì một lý do gì đó
suất quá trình tố tụng trọng tài sẽ tuỳ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên
trong việc thực hiện phán quyết đó. Nếu thoả thuận này không đạt được
thì sẽ phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Toà án trọng tài. Những phân
tích trên cho chúng ta thấy rằng khi thương lượng một hợp đồng quan
trọng, nhằm lường trước các tranh chấp có thể phát sinh trong tương lai,
người ta có thể lựa chọn hình thức lựa chọn hình thức trọng tài chính thức
trừ khi có những lý do chính đáng để không lựa chọn hình thức này. Sở dĩ
như vậy là vì trọng tài ad-hoc phải bàn luận đến nhiều vấn đề song kết
quả bàn luận ấy chỉ được dùng vào một vụ kiện mà thôi. Trong khi đó
trọng tài chính thức lại có những đặc điểm ưu việt hiển nhiên, đặc biệt là
đối với những thoả thuận có khả năng phát sinh trach chấp cần phải đưa
ra trọng tài. Hình thức trọng tài này có thể giải quyết mọi vấn đề bất ngờ
mới nảy sinh. Các quy định trọng tài chính thức bao quát toàn bộ quá
trình tốtụng trọng tài từ khi bắt đầu tiến hành tố tụng đến lúc kết thúc kể
13
cả trong trường bên bị đơn tỏ ra bất hợp tác với trọng tài. Tóm lại, xuất
phát từ sự thuận tiện và tiết kiệm chi phí ngày nay trên thế giới, người ta
có khuynh hương sử dụng trọng tài hơn là sử dụng toà án, thích dùng
trọng tài phi Chính phủ hơn trọng tài Chính phủ và thích dùng trọng tài
chính thức hơn là trọng tài vụ việc .III/ Một số nét cơ bản trong tố tụng
trọng tàI kinh tế.1.Nhận đơn.Khi giảI quyết tranh chấp, nguyên đơn phảI
gửi cho trung tâm trọng tàI kinh tế văn bản thoả thuận giữa các bên về
việc đưa vụ tranh chấp ra giảI quyết tại trung tâm trọng tài kinh tế đó .
Nội dung của đơn yêu cầu phảI đúng theo quy tắc tố tụng của pháp luật
quy định. Kèm theo đơn yêu cầu, nguyên đơn phảI gửi cho trung tâm
trọng tài kinh tế các tàI liệu cần thiết để chứng minh cho yêu cầu của
mình.Khi gửi đơn yêu cầu,nguyên đơn phảI nộp tiền tạm ứng lệ phí trọng
tàI. Lệ phí trọng tàI được ấn định theo khung lệ phí do bộ tàI chính và bộ
tư pháp quy định. Lệ phí trọng tàI do người thua kiện trả, nếu các bên
yêu cầu của các bên trọng tài viên có thể trưng cầu giám định. Khi cần
thiết trọng tài viên có thể yêu cầu các bên cung cấp các bản giảI thích, các
bằng chứng và tàI liệu khác có liên quan. Trong quá trình giải quyết tranh
chấp, tiếng, chữ viết phảI sử dụng bằng tiếng việt. Các bên có thể yêu cầu
trung tâm trọng tài kinh tế mời phiên dịch hoặc tự mời phiên dịch, nhưng
phảI được trung tâm trọng tài kinh tế chấp thuận. Bên yêu cầu phảI trả chi
phí cho phiên dịch. Khi quyết định, hội đồng trọng tài biểu quyết theo đa
số. Trọng tài có thể ra các phán quyết tạm thời. Mọi diễn biến của phiên
họp, giải quyết tranh chấp phảI được thư ký trung tâm trọng tài kinh tế
ghi thành biên bản và biên bản phảI được các trọng tài và thư ký cùng
ký.Hội đồng trọng tàI hoặc trọng tài viên có thể ra quyết định giải quyết
từng phần của vụ tranh chấp, nếu điều đó là hợp lý. Quyết định trọng tài
phảI có chữ ký của tất cả các trọng tài viên.Quyết định trọng tài được
công bố cho các bên ngay khi kết thúc phiên họp hoặc có thể công bố sau
nhưng chậm nhất là 5 ngày kể từ ngày kết thúc phiên họp. Quyết định
trọng tài được gửi cho các bên trong vòng 3 ngày kể từ ngày ra quyết
định.Trong quá trình giảI quyết tranh chấp, nếu các bên thoả thuận bằng
thương lượng thi hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên chấm dứt việc giải
quyết. Các bên có thể yêu cầu chủ tịch trung tâm trọng tài kinh tế xác
định sự thoả thuận đó bằng văn bản. Văn bản này có giá trị như quyết
định trọng tàI. Trong trường hợp quyết định trọng tài không được một bên
chấp hành thì bên kia có quyền yêu cầu toà án nhân dân có thẩm quyền
xét xử theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.Phần IIGiải quyết tranh
chấp kinh tế bằng hình thức trọng tài theo pháp luật Việt nam hiện
15
hành.Chuyển sang nền kinh tế thị trường, quan hệ kinh tế trở nên sống
động, đa dạng và phức tạp. Mục đích nhằm đạt được lợi nhuận tối đa đã
trở thành động lực trực tiếp của các bên tham gia quan hệ kinh tế. Trong
điều kiện như vậy tranh chấp kinh tế không những là một vấn đề khó
16
hệ kinh tế mới phát sinh mà tranh chấp xảy ra trong những quan hệ kinh
tế không thuộc thẩm quyền của trọng tài kinh tế.+ Trọng tài kinh tế với
thủ tục và phương pháp giải quyết theo lối “ hoà giảI” và “ dàn xếp” cũng
không đáp ứng được yêu cầu có sự giải quyết, công khai, dân chủ, đúng
pháp luật và dứt khoát. Quyết định xét sử của trọng tài kinh tế vẫn mang
nặng tính hoà giảI, rất yếu về tính cưỡng chế. Do dó trên thực tế, quyết
định xét xử của trọng tài kinh tế đạt hiệu lực thi hành thấp.Điều đó đặt ra
yêu cầu phảI tổ chức lại hệ thống các cơ quan giảI quyết tranh chấp kinh
tế một cách phù hợp. Nhận thức sâu sắc yêu cầu đó, nhà nước đã chủ
trương xoá bỏ trọng tài kinh tế nhà nước thành lập toà án kinh tế và trọng
tài kinh tế với tư cách là một tổ chức xã hội nghề nghiệp.I/.Quy tắc tố
tụng trọng tàI trong nước. Căn cứ vào quyết định số 114/TTg ngày
16/12/1996 của thủ tướng chính phủ nước cộng hoà XHCNVN. Quy tắc
này áp dụng cho các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh doanh phát
sinh trong nước.
17
1. Thẩm quyền.Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh doanh trong nước.Trung
tâm trọng tàI gọi tắt là trung tâm, xét xử đựa trên cơ sở thoả thuận trọng
tàI. Thoả thuận trọng tài có thể là điều khoản trọng tài trong hợp đồng,
hoặc một thoả thuận riêng hoặc thể hiện trong thư từ, telex, fax… giữa
các bên với nhau.2. Công tác điều tra và thủ tục xét xử.a. Đơn kiện và
công tác điều traĐể phát sinh tranh chấp thì bắt đầu bằng một đơn kiện do
nguyên đơn nộp cho trung tâm. Đơn phảI có nội dung theo dúng quy dịnh
của pháp luật. Sau khi nhận được đơn kiện, thư ký của trung tâm báo cáo
cho bị đơn biết và gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện, các tàI liệu kèm theo
cùng với quy tắc tố tụng trọng tài trong nước và danh sách trọng tài viên
của trung tâm. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản sao đơn
tiếp tham gia vào quá trình xét xử hoặc có thể uỷ quyền cho người đại
diện, nhưng phảI có giấy uỷ quyền hợp lệ và có thể mời luật sư bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của mình. Trong trường hợp một hoặc các
bên vắng mặt mà không có lý do chính đáng, uỷ ban trọng tàI có thể tiến
hành xét xử căn cứ vào tàI liệu và chứng cứ hiện có. 3. Phán quyết Việc
xét xử được kết thúc bằng một phán quyết hoặc quyết định của uỷ ban
trọng tàI sau khi kết thúc phiên xét xử cuối cùng hoặc có thể công bố sau.
Phán quyết hay quyết định của trọng tàI được gửi cho các bên đương sự
chậm nhất là 15 ngày sau phiên xét xử cuối cùng. Trong trường hợp đặc
biệt uỷ ban trọng tàI có thể quyết định gửi phán quyết sau thời hạn 30
ngày. Uỷ ban trọng tàI có thể ra quyết định bổ sung nếu xét thấy phán
quyết đã ra có điểm chưa rõ hoặc chưa giảI quyết được. Phán quyết của
uỷ ban trọng tài là trung thẩm không thể kháng cáo trước bất kỳ toà án
hoặc tổ chức nào khác. các bên phảI tự nguyện thi hành phán quyết trong
thời quy dịnh trong phán quyết. Nếu phán quyết không được tự nguyện
thi hành trong thời hạn quy định, sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế
theo quy định của pháp luật.Với trường hợp nguyên đơn rút kiện, khi các
bên đạt được sự thoả thuận trực tiếp mà không cần đến việc xét xử của uỷ
ban trọng tàI, khi thiếu những điều kiện cần thiết để xem xét và giảI quyết
vụ kiện, kể cả trường hợp nguyên đơn không hành động để vụ kiện tiến
triển trong 3 tháng… thì Uỷ ban trọng tàI quyết định kết thúc vụ kiện.II/
Một số vấn đề pháp lý về trung tâm trọng tài quốc tế
Việt nam.1.Sự hình thành và phát triển.Trung tâm trung tâm
trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng thương mại và Công nghiệp
Việt Nam ( Trung tâm ) được thành lập theo quyết định số 204/TTg ngày
28/4/1993 của thủ tướng chính phủ trên cơ sở hợp nhất Hội đồng trọng tàI
19
Ngoại Thương (thành lập năm 1963) và hội đồng trọng tài Hàng hảI
(thành lập năm 1964). Theo quyết định, trung tâm có thẩm quyền giải
không được tự nguyện chấp hành thì toà án sẽ cưỡng chế chấp hành. -
20
Trung tâm trọng tàI quốc tế Việt nam xét xử những vụ tranh chấp có yếu
tố nước ngoàI là một bên hoặc cả hai bên là pháp nhân hoặc chủ thể là
người nước ngoài.1.Về thẩm quyền.Trung tâm trọng tàI quốc tế Việt nam
có thẩm quyên giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế
quốc tế như cấc hợp đồng mua bán ngoại thương, các hợp đồng đầu tư, du
lịch, vận tảI và bảo hiểm quốc tế, chuyển giao công nghệ, xây dựng và
thanh toán quốc tế… Trung tâm trọng tàI quốc tế Việt nam có thẩm quyền
giảI quyết các tranh chấp trong trường hợp:-Khi một bên hay các bên
đương sự là thể nhân hay pháp nhân nước ngoài Nếu trước hay sau khi
xảy ra tranh chấp, các bên đương sự thoả thuận đưa vụ việc ra trước trung
tâm trọng tàI quốc tế Việt nam, hoặc nếu có một điều uước quốc tế ràng
buộc các bên phảI đưa vụ tranh chấp ra trước trung tâm trọng tài quốc tế
Việt nam.Ngày 16/2/1996 TTg chính phủ lại ra QĐ số 114/ TTg theo đó
thẩm quyền xét xử của trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam đã được mở
rộng thêm một bước nữa. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam có thẩm
quyền giảI quyết cả tranh chấp phát sinh từ nhưqng quan hệ kinh doanh
trong nước, nếu các bên đương sự đưa ra trung tâm trọng tài quốc tế Việt
nam giảI quyết.Trong hoạt động kinh doanh, giữa các doanh nghiệp phát
sinh nhiều loại tranh chấp khác nhau. Tuy nhiên, không phảI tranh chấp
nào cũng do trọng tài kinh tế giải quyết. Các trung tâm trọng tài kinh tế
chỉ giải quyết các tranh chấp kinh tế mà không giải quyết các tranh chấp
dân sự, lao động, hôn nhân- gia đình … như vậy, xét thẩm quyền vụ việc
thì giữa toà án kinh tế và trọng tài kinh tế nói chung là không có gì khác
nhau, toà án kinh tế cũng có thẩm quyền như vậy, trừ thẩm quyền giảI
quyết việc phá sản doanh nghiệp.Như vậy, trung tâm trọng tài quốc tế
Việt nam có thẩm quyền xét xử các vụ tranh chấp thương mại ở trong và
ngoàI nước. Trên lĩnh vực giảI quyết tranh chấp ngoàI nước nó đã đạt
tài.Các bên có quyền khước từ trọng tài viên , chủ tịch UB trọng tàI hoặc
trọng tài viên duy nhất, nếu đương sự nghi ngờ về sự vô tư của trọng tài
viên , nhất là khi họ cho rằng trọng tài viên có liên quan trực tiếp hoặc
giấn tiếp đến vụ tranh chấp.c.Thủ tục xét xử .Để tiến hành xét xử thì trọng
tài viên phảI điều tra vụ tranh chấp thông qua việc nghiên cứu hồ sơ và
tiến hành công tác điều tra bằng mọi biện pháp thích hợp. Cũng giống như
quy tắc tố tụng trọng tàI trong nước thì hai bên đương sự được triệu tập
đến phiên họp xét xử bằng giấy triệu tập, có nêu rõ thời gian và địa điểm
xét xử Ngôn ngữ làm việc của trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam là
tiếng Việt. Các đương sự nếu thấy cần thiết thì có thể yêu cầu phiên dịch.
Các văn bản và chứng từ gửi đến trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
22
cần có bản dịch ra tiếng Việt nếu như bản gốc là tiếng nước ngoài(Anh ,
Pháp, Nga).d. Phán quyết .Việc xét xử được kết thúc bàng một phán quyết
của UB trọng tài phán quyết trọng tài được công bố ngay sau khi kết
thúc phiên họp xét xử cuối cùng hoặc có thể công bố sau. Uỷ ban trọng tài
có thể ra quyết định bổ sung nếu thấy phán quyết đã có điểm chưa rõ hoặc
chưa được giải quyết .Phán quyết của Uỷ ban trọng tài là quyết định
chung thẩm, không thể kháng cáo trước bất kỳ toà án hay tổ chức nào.
Các bên phảI tự nguyện thi hành trong thời hạn quy định trong phán
quyết.Nếu phán quyết không được tự nguyện thi hành trong thời hạn quy
định, sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế theo pháp luật của nước nơI phán
quyết được yêu cầu thi hành và theo điều ước quốc tế hữu quan có hiệu
lực đối với loại vụ kiện này.Tuy nhiên, ở Việt Nam phán quyết của trung
tâm trọng tài quốc tế Việt Nam còn chưa được toà án cho cưỡng chế thi
hành.5. Biểu phí trọng tài , phí tổn của trung tâm trọng tài quốc tế Việt
Nam và chi phí của các bên.a. Định nghĩa:Phí trọng tài là chi phí trong
từng vụ kiện để trả cho những chi phí chung có liên quan đến hoạt động
giải quyết tranh chấp của trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam như là thù
lại không dưới 200$. Khi nguyên đơn rút đơn kiện sau khi nhận đựơc
giấy báo ngày xét xử nhưng trước ngày họp phiên họp xét xử đàu tiên,
trung tâm sẽ trả lại 50% số phí trọng tài cho nguyên đơn.Nếu hai bên hoà
giảI được với nhau tại phiên xét xử đầu tiên của UB trọng tài mà không
cần phảI ra phán quyết, trung tâm trọng tài sẽ trả lại 25% số phí trọng tài
cho nguyên đơn.Trong trường hợp vụ kiện kết thúc trước khi thành lập
Uỷ ban trọng tài , trung tâm sẽ hoàn trả lại cho nguyên đơn 78% số phí
trọng tài.III/ Tổ chức và hoạt động của trọng tài mang tính chất xã hội
nghề nghiệp (Tổ chức phi chính phủ).1. Sự cần thiết thành lập trọng tài
mang tính chất xã hội nghề nghiệp ở nước ta.Một trong những nội dung
quan trọng của nguyên tắc tự do kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
là sự tự do lựa chọn hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp khác
nhau như: thương lượng ,hoà giảI, trọng tài , kiện tụng, trong đó trọng tài
là hình thức được sử dụng phổ biến và rộng rãI nhất ở những nước có nền
kinh tế thị trường. Lý do cơ bản là giải quyết tranh chấp thông qua trọng
tài có nhưng ưu điểm mà các hình thức khác không có được. Cụ thể là,
trong tố tụng trọng tài , các bên tham gia được đảm bảo tối đa về quyền tự
do định đoạt về nhiều phương diện như lựa chọn trọng tài viên , địa điểm,
thủ tục, phương thức giải quyết tranh chấp Mặt khác, hình thức trọng
tài thường nhanh gọn, linh hoạt, thủ tục đơn gianư, tránh được sự lãng
phí về mặt thời gian và bảo đảm được tính bí mật trong kinh doanh.Từ
24
trước đến nay, việc tranh chấp hợp đồng kinh tế thuộc thẩm quyền của
các cơ quan trọng tài kinh tế các cấp(trọng tài kinh tế huyện, quận ,tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, trọng tài kinh tế nha nước). Theo luật
sửa đổi và bổ sung một số điều luật tổ chức Toà án nhân dân ( được quốc
hội khoá IX kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 28/12/1993) thì từ ngày
1/7/1994 thẩm quyền giảI quyết tranh chấp kinh tế sẽ được chuyển sang
Toà án nhân dân. Như vậy, nếu theo quy định trên thì nước ta sẽ chỉ tồn
trực còn tồn tại các trọng tài vụ việc(AD – HOC), không có cơ quan
thường trực.Tuy được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như vậy,
nhưng xét về mặt tính chất các trung tâm trọng tài thương mại và quốc tế
trên thế giới đều có những đặc trưng chung là.+ Đều tồn tại với tư cách là
một tổ chức phi chính phủ. Những trung tâm trọng tài được hình thành
trên cơ sở sáng kiến và tự nguyện tham gia của các trọng tài viên , theo
quy định của pháp luật. Các trung tâm trọng tài đều áp dụng nguyên tắc
tự hạch toán , tự trang trảI, lấy thu bù chi. Các nguồn thu chủ yếu của
trọng tài là. Tiền trả thù lao cho trọng tài viên tính theo tỷlệ tiền giá
trị vụ tranh chấp . Các khoản chi phí và lệ phí theo qui định.
Tiền thu được từ những hoạt động dịch vụ hỗ trợ trọng tài như dịch vu
thông tin, giám định, cho thuê địa điểm … NgoàI ra còn có thể bao
hàm tiền thu được do phát hành những ấn phẩm như tàI liệu: hướng dẫn ,
qui tắc tố tụng.+ Cơ cấu tổ chức trọng tài nói chung rất gọn nhẹ và linh
hoạt. Hoạt động của hội đồng quản trị và ban thư ký chủ yéu dưa trên
nguyên tắc tự quản. Hoạt đọng trọng tài được thực hiện thông qua trọng
tài viên.+ Mỗi tổ chức trọng tàI có danh sách trọng tài viên riêng. Nói
chung tổ chức trọng tài trả lương cho ban thư ký, còn trọng tàI viên được
hưởng thù lao theo vụ, việc.NgoàI đối tượng luật gia ( phần nhiều là hành
nghề tự do, số trọng tài viên còn lại chủ yếu là tgiới thương gia. Sự hưởng
ứng và ủng hộ rộng rãI của giới thương gia không chỉ trong việc hình
thành mà cả hành động của các tổ chức trọng tài. rất nhiều trung tâm
trọng tài trên thế giới được thành lập dựa trên sáng kiến của thueoeng
gia. điều đó lý giảI vi sao nhiều trung tâm trọng tàI thương mại trực thuộc
phòng thương mại và công nghiệp. + mỗi tổ chức trọng tàI đều có quy tắc
riêng, song nhìn chung đều dựa trên cơ sở áp dụng rộng rãI của các quy
tắc trọng tài UNCITRAL ( do uỷ ban về luật thương mại quốc tế của liên
hợp quốc thông qua năm 1976 ), quy tắc trọng tài của phòng thương mại
quốc tế ( ICC) có hiệu lực từ năm 1988 và các công ước có liên quan.+
Các trung tâm trọng tài kinh tế với tính chất là những tổ chức phi chính