Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ở Việt Nam hiện nay. Luận văn ThS. Luật - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT HOÀNG TỐ NGUYÊN THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG
MẠI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Phan Thị Thanh Thủy

Hà Nội – 2013
1.2.2. Vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thƣơng mại 14
1.3.Pháp luật nƣớc ngoài về phân định thẩm quyền của Toà án trong
việc giải quyết giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại 22
Chƣơng 2 PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN TOÀ ÁN TRONG
VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI
VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM 25
2.1. Thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thƣơng mại theo pháp luật hiện hành 25
2.1.1. Thẩm quyền theo loại việc của Tòa án 25
2.1.2. Thẩm quyền theo cấp xét xử của Toà án 30
2.1.3. Thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án 32
2.1.4. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn của Toà án 35
2.2. Thực tiễn thực thi thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại ở Việt Nam hiện nay 38 iv
2.2.1. Đánh giá chung về tình hình giải quyết tranh chấp kinh doanh
thƣơng mại thông qua Tòa án ở Việt Nam 38
2.2.2. Những vƣớng mắc trong quy định của pháp luật về xác định thẩm
quyền của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng
mại 41
2.2.3. Những khó khăn nảy sinh trong thực tiễn thực hiện thẩm quyền
của Tòa án 50
Chƣơng 3 :HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN
CỦA TOÀ ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH
DOANH, THƢƠNG MẠI 62
3.1. Phƣơng hƣớng và yêu cầu của việc xây dựng và hoàn thiện pháp
luật về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết TCKDTM 62
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Stt bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1
Tình hình thụ lý và giải quyết các loại vụ án nói
chung ở cấp sơ thẩm của ngành Tòa án từ năm
2006 đến 2011
38
Bảng 2.2
Tình hình thụ lý và giải quyết các tranh chấp
trong kinh doanh, thƣơng mại ở cấp sơ thẩm của
ngành Tòa án từ năm 2006 đến 2011
38
Bảng 2.3
Tình hình thụ lý và giải quyết các tranh chấp
kinh doanh, thƣơng mại ở cấp sơ thẩm của Tòa
án Hà Nội từ năm 2006 đến 2011
39
Bảng 2.4
Tình hình thụ lý và giải quyết các tranh chấp kinh
doanh, thƣơng mại ở cấp sơ thẩm của Tòa án thành
phố Hồ Chí Minh từ năm 2006 đến 2011
39

đƣợc sửa đổi, bổ sung, nhƣng các quy định của pháp luật về thẩm quyền giải
quyết TCKDTM của Tòa án vẫn chƣa đƣợc khắc phục. Hơn nữa, trong Nhà
nƣớc pháp quyền cũng đòi hỏi hoạt động xét xử của Toà án phải đảm bảo
công minh, nhanh chóng, chính xác và kịp thời tránh tình trạng tồn đọng án,
giải quyết án kéo dài, dễ gây phiền hà, mệt mỏi cho các bên đƣơng sự.
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc tiếp tục đẩy nhanh quá trình cải
cách kinh tế và cải cách nền hành chính quốc gia, công cuộc cải cách tƣ pháp 2
cũng đang đƣợc Đảng và Nhà nƣớc tích cực triển khai, coi đây nhƣ là khâu đột
phá quan trọng, thúc đẩy quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Điều này đƣợc thể hiện rõ nét trong Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về “chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến
năm 2020”. Công cuộc cải cách tƣ pháp ở nƣớc ta đã và đang đặt ra một loạt
vấn đề lý luận và thực tiễn cần đƣợc giải quyết một cách hợp lý và thoả đáng,
trong đó có vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nói chung cũng
nhƣ tạo lập khuôn khổ pháp lý điều chỉnh pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp, chính đáng cho các chủ thể kinh doanh, kể cả việc giải quyết vấn
đề đặt ra về tố tụng kinh tế, dân sự nói riêng sao cho thích hợp hiện cũng cần
đƣợc quan tâm thích đáng nhằm tìm ra phƣơng hƣớng giải quyết đúng đắn,
nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra trong
giai đoạn hiện nay. Nói một cách khác, vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng
cao hiệu lực và hiệu quả của hoạt động xét xử của Toà án đối với việc giải
quyết các TCKDTM. Đây là một trong số những nội dung cơ bản, quan trọng
trong việc cải cách và trên nền tảng đó, hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế, giữ vững an ninh chính trị và hội nhập quốc tế.
Trƣớc những yêu cầu của thực tiễn, việc tiếp tục nghiên cứu các quy
định của pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM

tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp ở Việt
Nam” của tác giả Vũ Quốc Hùng…
Các công trình trên đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết
TCKDTM trong thời gian qua. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đều
chƣa tập trung đƣa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả của hoạt động giải quyết TCKDTM. Hơn nữa nhiều vấn đề lý luận và thực
tiễn đang tiếp tục đƣợc đặt ra và có nhu cầu giải quyết hoặc chƣa đƣợc cập 4
nhật trong pháp luật hiện hành. Đây là vấn đề cấp thiết đặt ra trong tiến trình
hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng
ở nƣớc ta.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành liên quan
trực tiếp đến vấn đề thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết TCKDTM
mục đích của luận văn là đƣa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả của pháp
luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM nói riêng và
pháp luật giải quyết TCKDTM nói chung nhằm đảm bảo mọi TCKDTM đều
đƣợc giải quyết một cách thuận lợi và triệt để.
3.2. Nhiệm vụ
Đề tài nghiên cứu có nhiệm vụ làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản sau:
- Hệ thống đƣợc cơ sở lí luận, quan điểm khoa học, nhận thức chung về
thẩm quyền quyền xét xử của Toà án nhân dân trong việc giải quyết
TCKDTM. Đây là cơ sở khoa học làm cơ sở cho việc xác định thẩm quyền tƣ
pháp nói chung và thẩm quyền xét xử đối với các vụ việc KDTM nói riêng.
- Phân tích nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm
quyền của Toà án trong việc giải quyết các TCKDTM. Thực tiễn thi hành

đề, xác định những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền
của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM, đồng thời phân tích kinh nghiệm
pháp luật một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này. Tác giả của luận văn
với mong muốn đây là công trình nghiên cứu có ít nhiều giá trị về mặt lý luận
cũng nhƣ thực tiễn để làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động giảng dạy
pháp lý cũng nhƣ tạo những gợi ý có giá trị cho các nhà lập pháp hoàn thiện
hơn hệ thống pháp luật về giải quyết TCKDTM. 6
7. Kết cấu
Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1. Những vấn đề lí luận về thẩm quyền của Toà án trong việc giải
quyết TCKDTM
Chƣơng 2. Pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết
TCKDTM và thực tiễn thực thi pháp luật ở Việt Nam
Chƣơng 3. Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong việc giải
quyết TCKDTM 7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN
CỦA TOÀ ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH, THƢƠNG MẠI

1.1. Khái quát về thẩm quyền của Toà án trong hệ thống pháp luật
Thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo
pháp luật [48, tr922]. Về mặt pháp lý, thẩm quyền là một quyền năng thi hành
trao cho một cơ quan đƣợc thiết lập chính thức bởi pháp luật hay một lãnh đạo

Tòa án trong việc thực thi nhiệm vụ cũng nhƣ hiệu quả của hoạt động đó.
Bên cạnh đó, thẩm quyền của Tòa án còn là sự phân định quyền hạn
giữa Tòa án Nhân dân và các cơ quan chức năng khác trong hệ thống các cơ
quan nhà nước. Theo luật định mỗi hệ thống cơ quan nhà nƣớc có chức năng,
nhiệm vụ riêng thực hiện các công việc do nhà nƣớc giao phó. Sự phân công
này nhằm đảm bảo tính chuyên môn, chuyên nghiệp hóa; phân định lĩnh vực
hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc. Tòa án Nhân dân với chức năng là cơ
quan xét xử, có trách nhiệm giải quyết các xung đột trong đời sống xã hội
xâm phạm đến lợi ích nhà nƣớc, công dân đƣợc quy định trong pháp luật. Tòa
án không thực hiện chức năng điều hành quản lý nhà nƣớc nhƣ các cơ quan
hành chính hoặc chuyên môn khác thuộc hệ thống cơ quan nhà nƣớc.
Từ những phân tích trên, theo tác giả thẩm quyền của Tòa án là phạm
vi giới hạn hoạt động của Tòa án và quyền năng pháp lý của Tòa án có mối
liên quan chặt chẽ với nhau bao gồm thẩm quyền xét xử, phạm vi – giới hạn
xét xử và quyền hạn quyết định của Tòa án.
1.2. Tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại và thẩm quyền của Tòa án
trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại
1.2.1. Tranh chấp kinh doanh, thương mại
a ) Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại 9
Tranh chấp đƣợc hiểu là sự mâu thuẫn hoặc bất đồng (tranh cãi); sự mâu thuẫn
về các quyền yêu cầu hay quyền, sự đòi hỏi về quyền, yêu cầu hay đòi hỏi từ một bên
đƣợc đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngƣợc của bên kia 12, tr 9.
TCKDTM là một thuật ngữ pháp lý mới xuất hiện cùng với sự ra đời
của BLTTDS năm 2004 thay thế cho thuật ngữ tranh chấp kinh tế, “ một khái
niệm quen thuộc của cơ chế kế hoạch hóa đã ăn sâu vào tiềm thức và tƣ duy
pháp lý ngƣời Việt Nam”8, tr 427.
Tranh chấp kinh tế theo tƣ duy cũ quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh

cũng phù hợp với khái niệm thƣơng mại theo luật mẫu về thƣơng mại điện tử
của UNCITRAL: “Thuật ngữ thƣơng mại đƣợc diễn giải theo nghĩa rộng để
bao quát các vấn đề nảy sinh từ mọi quan hệ thƣơng mại, dù có hay không có
hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thƣơng mại bao gồm nhƣng không
phải chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch thƣơng mại nào về
cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện
hoặc đại lý thƣơng mại; ủy thác hoa hồng, cho thuê dài hạn, xây dựng các
công trình; đầu tƣ; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc
tô nhƣợng; liên doanh hoặc các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh
doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đƣờng biển, đƣờng không,
đƣờng sắt hoặc đƣờng bộ” [47].
Với cách định nghĩa trên hoạt động kinh doanh và hoạt động thƣơng
mại có nhiều nội hàm trùng nhau nhƣ về mục đích sinh lợi, về đầu tƣ, về cung
ứng dịch vụ, về tiêu thụ sản phẩm… Nhƣ vậy, có thể quan niệm TCKDTM là
những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động thực
hiện liên tục một, một số hoặc toàn bộ quá trình đầu tƣ từ sản xuất đến tiêu
thụ sản phẩm, cung ứng các dịch vụ trên thị trƣờng, xúc tiến thƣơng mại và
các hoạt động sinh lợi khác. Nói một cách ngắn gọn hơn, có thể định nghĩa 11
TCKDTM là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi giữa các chủ thể phát
sinh trong hoạt động KDTM.
Cách định nghĩa trên có hạn chế là tuy chỉ ra đƣợc bản chất của
TCKDTM là mâu thuẫn về quyền lợi phát sinh khi tham gia hoạt động
KDTM nhƣng lại không cho thấy biểu hiện của nó. Trong quan hệ kinh
doanh, giữa các bên luôn tồn tại đồng thời hai mối quan hệ vừa xung đột, vừa
hợp tác. Để xác định chính xác khi nào những xung đột lợi ích này chuyển
thành tranh chấp thì cần phải dựa vào những dấu hiệu biểu hiện của nó. Dấu hiệu
đó là khi một bên cho rằng quyền và lợi ích của mình bị vi phạm yêu cầu phía bên

bảo vệ trật tự kỷ cƣơng xã hội. [18, tr.287]
Hoạt động KDTM có những đặc thù riêng cho nên khi tranh chấp xảy
ra các bên tranh chấp luôn mong muốn nhanh chóng chấm dứt xung đột để
bảo vệ hoặc khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, việc giải
quyết TCKDTM cần đáp ứng một số yêu cầu sau:
- Nhanh chóng, thuận lợi, không làm cản trở các hoạt động kinh doanh
- Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, sự tín nhiệm giữa các bên
trong kinh doanh
- Giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên trên thƣơng trƣờng
- Kinh tế nhất, ít tốn kém nhất cả về thời gian, tiền bạc, sức lực
Việc lựa chọn phƣơng thức giải quyết tranh chấp nói riêng cũng nhƣ
mọi vấn đề liên quan đến quá trình giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh
nói chung dựa trên nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên.
Cơ quan nhà nƣớc và Trọng tài thƣơng mại can thiệp theo yêu cầu của các
bên tranh chấp, kể cả khi Tòa án hoặc Trọng tài đã can thiệp trong quá trình tố
tụng, quyền tự định đoạt biểu hiện bằng những hành vi đơn phƣơng hoặc thỏa
thuận của các bên luôn đƣợc ghi nhận và tôn trọng. Quyền tự định đoạt của
các bên đƣợc coi là một nội dung của quyền tự do kinh doanh và đƣợc pháp
luật bảo hộ. 13
Xuất phát từ quyền tự do kinh doanh, trong đó bao hàm quyền tự do lựa
chọn phƣơng thức giải quyết tranh chấp, các bên tranh chấp có quyền lựa
chọn phƣơng thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhất cho mình. Có 4 phƣơng
thức giải quyết tranh chấp đó là: thƣơng lƣợng, hòa giải, Trọng tài và Tòa án.
Giải quyết TCKDTM bằng thương lượng là hình thức giải quyết
TCKDTM đƣợc tiến hành giữa các bên (hoặc đại diện của các bên) tranh chấp
để cùng tìm ra và đi đến những thỏa thuận thống nhất bằng những giải pháp
phù hợp với tất cả các bên nhằm chấm dứt những tranh chấp trong hoạt động

vụ TCKDTM. Đặc điểm này thể hiện vai trò của nhà nƣớc trong việc tạo lập
nên những thiết chế quyền lực nhằm giải quyết những mâu thuẫn bất đồng
trong kinh doanh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong nền
kinh tế, góp phần xây dựng môi trƣờng kinh doanh lành mạnh.
1.2.2. Vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại
a) Vai trò của Tòa án so với các phương thức khác trong giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thương mại
Có rất nhiều lý do để các bên tranh chấp trong KDTM lựa chọn những
hình thức giải quyết tranh chấp phù hợp với yêu cầu của mình:
Đối với phƣơng thức giải quyết TCKDTM bằng thƣơng lƣợng. Thông
thƣờng là phƣơng thức đƣợc các bên tranh chấp lựa chọn trƣớc tiên khi tranh
chấp xảy ra. Bởi vì nó đơn giản lại không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý
phiền phức, ít tốn kém về chi phí và thời gian cho các bên, không làm phƣơng
hại đến quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên trong kinh doanh, và vẫn đảm
bảo đƣợc bí quyết kinh doanh và uy tín của các bên trên thƣơng trƣờng. Tuy
nhiên thƣơng lƣợng lại phụ thuộc vào khả năng cũng nhƣ kỹ năng đàm phán
thƣơng lƣợng, ý chí của các bên tranh chấp. Do đó, nếu một bên trong thƣơng
lƣợng không có thiện chí hợp tác, lợi dụng hình thức thƣơng lƣợng để kéo dài 15
thời gian thực hiện nghĩa vụ, thì thƣơng lƣợng chỉ làm tốn kém và kéo dài
thời gian hơn. Mặt khác, thỏa thuận thƣơng lƣợng chƣa có sự điều chỉnh pháp
lý rõ ràng. Nó chỉ đƣợc quy định chung chung là một hình thức giải quyết
tranh chấp (điều 317 Luật thƣơng mại 2005) mà không đƣợc quy định chi tiết
về thủ tục, cách thức và trình tự vì vậy một bên có thể lợi dụng thƣơng lƣợng
bằng cách kéo dài quá trình thƣơng lƣợng hoặc trì hoãn việc thực hiện thỏa
thuận thƣơng lƣợng đã đạt đƣợc giữa các bên để làm cho bên kia mất quyền
khởi kiện tại Tòa án.

giải cũng khó đạt đƣợc kết quả cao.
Chúng ta đều biết, một thỏa thuận đạt đƣợc tại Tòa án, đƣợc Tòa án
công nhận với vai trò trung gian hòa giải, thì thỏa thuận đó có giá trị hiệu lực
buộc các bên thực hiện theo thỏa thuận, nếu không thực hiện sẽ bị cƣỡng chế
thi hành. Nhƣng cũng là thỏa thuận đó của các bên dựa trên sự tự định đoạt,
tự do ý chí nhƣng nó lại không có hiệu lực thi hành bắt buộc, không có cơ chế
cƣỡng chế thi hành. Nhƣ vậy, vấn đề hình thức pháp lý và hiệu lực pháp lý
của hòa giải ngoài tố tụng vẫn còn bị bỏ ngỏ.
Việt Nam cũng nhƣ hầu hết các nƣớc trên thế giới hiện nay chủ yếu sử
dụng hai phƣơng thức giải quyết TCKDTM là Trọng tài và Tòa án. Mỗi
phƣơng thức có ƣu, nhƣợc điểm riêng. Ƣu điểm của phƣơng thức này có thể
là nhƣợc điểm của phƣơng thức kia và ngƣợc lại.
Ƣu diểm nổi bật của phƣơng thức Tòa án là tính quyền lực nhà nƣớc.
Tòa án là cơ quan tƣ pháp có quyền nhân danh ý chí quyền lực của nhà nƣớc
khi xét xử các vụ tranh chấp. Bản án, quyết định của Tòa án đƣợc mọi cá
nhân, tổ chức tôn trọng và thi hành. Điều 136 Hiến pháp nƣớc Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định: “Các bản án và quyết định của Tòa án
nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải đƣợc các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn 17
trọng; những ngƣời và đơn vị hữu quan phải chấp hành”. Trong trƣờng hợp
bản án không đƣợc tự nguyện thi hành thì sẽ bị cƣỡng chế bởi quyền lực nhà
nƣớc. Trong khi đó ở Việt Nam trong một thời gian dài, các quyết định của
Trọng tài không có cơ quan cƣỡng chế thi hành nên hiệu quả hoạt động của
Trọng tài rất thấp. Khắc phục nhƣợc điểm này, Pháp lệnh Trọng tài Thƣơng
mại đặc biệt là Luật Trọng tài Thƣơng mại 2010 quy định “bên đƣợc thi hành
phán quyết Trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có
thẩm quyền thi hành phán quyết Trọng tài” (Điều 67 Luật Trọng tài Thƣơng

Một ƣu thế vƣợt trội của Trọng tài thƣơng mại là ở đội ngũ Trọng tài
viên. Muốn thu hút đƣợc sự tin tƣởng từ các doanh nghiệp, các trung tâm
Trọng tài thƣơng mại phải lựa chọn chặt chẽ đội ngũ Trọng tài viên của mình.
Trên thực tế, họ đều là những chuyên gia của nhiều lĩnh vực khác nhau, có
kiến thức và dày dạn về kinh nghiệm về những vụ việc mà họ tham gia giải
quyết trong tƣ cách Trọng tài viên. Điều này khiến cho trong quá trình giải
quyết vụ việc, giữa Trọng tài viên và các doanh nghiệp đã có sẵn tiền đề tốt
cho việc phân giải là sự cùng am hiểu về những khái niệm kinh doanh, về
những vấn đề kinh tế… Trong khi đó, rất nhiều doanh nghiệp đã chật vật giải
thích những ý kiến kinh doanh của mình khi tham gia tranh tụng tại Tòa án, vì
sự hạn chế trong tiếp cận các thông tin, kiến thức kinh doanh của nhiều Thẩm
phán. Đây rõ ràng là ƣu điểm của Trọng tài thƣơng mại mà các doanh nghiệp
có thể nhìn nhận đƣợc.
Xét về tổng thể, sự hoạt động hiệu quả của Trọng tài thƣơng mại
không chỉ dừng lại ở ý nghĩa của một cơ quan tài phán. Hoạt động của Trọng
tài thƣơng mại là cơ sở phát triển và cập nhật cho doanh nghiệp những kiến
thức lấp đầy những khuyết tật trong kinh doanh và rõ ràng đây là một “bệnh
viện” pháp lý tốt cho những căn bệnh tranh chấp pháp lý phát sinh của doanh
nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế đất nƣớc. 19
Qua việc so sánh hai phƣơng thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án
và Trọng tài, có thể thấy phƣơng thức Trọng tài có nhiều ƣu điểm hơn, những
ƣu điểm này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động KDTM. Chính vì thế
phƣơng thức Trọng tài đƣợc ƣu chuộng hơn đặc biệt ở các nƣớc có nền kinh
tế thị trƣờng phát triển. Tuy nhiên, ở các nƣớc đang phát triển và chậm phát
triển thì Tòa án vẫn là cơ quan giải quyết TCKDTM chủ yếu. Có thể lấy ví dụ
ở Việt Nam, “Theo số liệu thống kê vào năm 2010 của Trung tâm Trọng tài
quốc tế (VIAC), trong khi mỗi Thẩm phán ở Toà kinh tế Thành phố Hà Nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status