Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp thương mại từ thực tiễn tỉnh hà nam - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN
TỈNH HÀ NAM

TRẦN NGỌC THUẬN

HÀ NỘI – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN
TỈNH HÀ NAM

TRẦN NGỌC THUẬN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN TRUNG TÍN

HÀ NỘI - 2018

Trần Ngọc Thuận

2


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI VÀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI ......................................................... 7
1.1. Khái quát về tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại ............................................................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại ..................................................... 7
1.1.2. Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ..................................................... 9
1.2. Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại .................................................................................................... 12
1.2.1. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết các tranh chấp kinh
doanh, thương mại ............................................................................................................. 12
1.2.3. Ý nghĩa của các quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại ................................................................................. 19
1.3. Sơ lược các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam về thẩm quyền
của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KD, TM từ năm 1945 tới nay .............. 20
1.3.1. Giai đoạn 1945 đến trước năm 1994 .................................................................... 20
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1994 đến 2004 .......................................................................... 22
1.3.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay ............................................................................ 24


4


3.1.2. Phải phù hợp với pháp luật quốc tế và đảm bảo phục vụ tốt yêu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế ...........................................................................................................63
3.1.3. Phải đảm bảo sự đồng bộ giữa các quy định pháp luật khác nhau nhằm đảm
bảo hiệu lực của pháp luật tố tụng trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương
mại ............................................................................................................................ 65
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu lực áp dụng pháp luật về thẩm quyền của tòa án
trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại ở tỉnh Hà Nam thời
gian tới ................................................................................................................................ 66
3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền dân sự của Tòa án
trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại ..................................66
3.2.2. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về kinh doanh, thương
mại ............................................................................................................................. 70
3.2.3. Đổi mới mô hình, cơ cấu của tòa án theo hướng tăng cường thẩm quyền của
tòa án nhân dân cấp huyện ........................................................................................71
3.2.4. Nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho đội
ngũ cán bộ có thẩm quyền áp dụng pháp luật dân sự ...............................................74
3.2.5. Các giải pháp khác ..........................................................................................76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 81

5


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTDS:


thương mại so với các loại vụ án của Tòa án 2 cấp ở tỉnh Hà Nam từ năm
2011 đến 2017.....................................................................................................
43
Hình 3.1. Sơ đồ tóm tắt thẩm quyền 4 cấp Tòa của Việt Nam hiện nay... 73

7


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế Việt Nam đã và đang đạt
được nhiều thành tựu to lớn. Kinh tế tăng trưởng đã góp phần quan trọng đưa đất
nước tiến nhanh trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Quá trình hội nhập với
kinh tế thế giới đã có nhiều tác động không nhỏ đến nền kinh tế của Việt Nam khiến
các quan hệ kinh doanh (KD), thương mại (TM) ngày càng gia tăng về số lượng
cũng như tính chất phức tạp. Từ thực tiễn đó, đòi hỏi phải có một cơ chế hiệu quả
để giải quyết các tranh chấp, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các tổ
chức, cá nhân có tranh chấp KD, TM, đồng thời cũng là công cụ để Nhà nước quản
lý trật tự kinh tế xã hội theo đó việc cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong đó
có hệ thống pháp luật tư pháp của nước ta được đặt ra hết sức cấp thiết.
Tòa án với vai trò là một thiết chế tài phán công, có nhiều lợi thế khi giải
quyết các tranh chấp. Vì vậy, Tòa án thường được các đương sự ưu tiên lựa chọn
khi giải quyết các tranh chấp nói chung cũng như tranh chấp KD, TM nói riêng.
Trước đây, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, bộ luật tố tụng dân sự
(BLTTDS) 2004 đã có các quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải
quyết các tranh chấp KD, TM. Tuy nhiên, các quy định đó sau một thời gian áp
dụng đã bộc lộ nhiều hạn chế như: không phân biệt tranh chấp KD, TM với
tranh chấp dân sự, một số tranh chấp KD, TM nhưng không được giải quyết
theo thủ tục tố tụng kinh tế…Điều này ảnh hưởng tới chất lượng xét xử cũng
như việc tồn đọng các vụ án.

thời sẽ ảnh hưởng đến hoạt động chung của đơn vị đó. Trong một số trường hợp,
các bên hoặc một số bên tranh chấp không quan tâm quan tâm đến lợi ích và sự phát
triển của doanh nghiệp, mà vì lợi ích của mình một cách thái quá dẫn đến đình trệ
sản xuất. Các bên đều cố ý can thiệp, ngăn cản hoạt động bình thường của doanh
nghiệp dưới các hình thức khác nhau, gây thiệt hại thêm cho chính họ và các bên
liên quan. Tranh chấp KD, TM phát sinh là điều tất yếu, vấn đề là phải có biện pháp
giải quyết hợp lý những tranh chấp đó để giúp cho các chủ thể KD có được sự tin
tưởng trong cơ chế điều hành, quản lý kinh tế của Nhà nước. Chính vì thế, việc đổi

2


mới và hoàn thiện hệ thống giải quyết tranh chấp KD, TM, trong đó có hoàn thiện
pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp KD, TM phù hợp
với cơ chế thị trường không chỉ là đòi hỏi bức thiết của xã hội mà còn là yêu cầu để
đảm bảo thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước ta.
Với đề tài “Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp thương
mại từ thực tiễn tỉnh Hà Nam” em lựa chọn làm luận văn thạc sỹ, với mong muốn
phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, từ đó chỉ ra
những điểm hạn chế của các quy định này; đồng thời đưa ra giải pháp nhằm hoàn
thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc
giải quyết tranh chấp KD, TM ở tỉnh Hà Nam thời gian tới.
2. Tổng quan nghiên cứu
Thẩm quyền của Tòa án là một vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm. Các nhà nghiên cứu đi sâu vào phân tích những khía cạnh khác nhau về vấn đề
thẩm quyền dân sự của Tòa án đối với các tranh chấp KD, TM.
Kể từ khi BLTTDS 2004 có hiệu lực đã có rất nhiều bài viết, tạp chí khoa
học pháp lý đề cập đến vấn đề giải quyết tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng
dân sự trong đó phải kể đến bài viết “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp công ty của
Tòa án” của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân

Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu và làm rõ các vấn đề lý luận về
thẩm quyền dân sự của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KD, TM như: Xây
dựng khái niệm về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KD,
TM; các đặc điểm của tranh chấp KD, TM; ý nghĩa của các quy định về thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM; phân tích các quy định của pháp luật tố
tụng dân sự hiện hành về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa
án qua đó chỉ ra một số hạn chế của các quy định và đề xuất những phương
hướng hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả
thực hiện ở tỉnh Hà Nam thời gian tới.

4


3.2. Nhiệm vụ
Trên cơ sở mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về tranh chấp KD, TM và thẩm quyền
của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp KD, TM;
- Phân tích quy định của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
KD, TM; từ đó đánh giá thực trạng pháp luật về vấn đề nghiên cứu, chỉ ra những bất
cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện và rút ra nguyên nhân của tồn tại.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp
luật về thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KD, TM ở tỉnh Hà Nam.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Tranh chấp KD, TM là gì? Tranh chấp KD, TM có thể được giải quyết theo
những cách nào?
Thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp KD, TM là gì? Căn cứ
vào đâu để xác định thẩm quyền đó và ý nghĩa của vấn đề này như thế nào?
Hiện nay pháp luật tố tụng dân sự hiện hành quy định như thế nào về thẩm
quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp KD, TM?
Làm thế nào để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thẩm quyền của Tòa

tỉnh Hà Nam
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án
trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại và giải pháp nâng
cao hiệu lực thực hiện ở tỉnh Hà Nam.

6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG
MẠI VÀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

1.1. Khái quát về tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thương mại
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại
Tranh chấp được hiểu là sự mâu thuẫn hoặc bất đồng (tranh cãi); sự mâu
thuẫn về các quyền yêu cầu hay sự đòi hỏi về quyền, yêu cầu hay đòi hỏi từ một
bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược của bên kia [12, tr 9].
Thuật ngữ tranh chấp KD, TM mới chỉ xuất hiện khi Việt Nam thực hiện
đổi mới nền kinh tế đến nay. Trước đây, khi nền kinh tế Việt Nam còn mang nặng
tính bao cấp, các mối quan hệ kinh tế mang tính tập thể và quốc hữu. Các quan hệ
kinh tế chủ yếu phát sinh giữa các chủ thể nằm trong sự quản lý của nhà nước, lúc
này chưa có thuật ngữ “Tranh chấp KD, TM” mà chỉ tồn tại thuật ngữ “Tranh chấp
kinh tế”.
“Tranh chấp kinh tế” theo tư duy cũ quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh
Thủ tục giải quyết các vụ án Kinh tế năm 1994, bao gồm:

- “Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân,
giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký KD.

tranh luận xung quanh nội hàm của hai thuật ngữ “Tranh chấp KD” và “Tranh
chấp TM”. Có ý kiến thì cho rằng nội hàm của “Tranh chấp TM” hẹp hơn “Tranh
chấp KD” và “Tranh chấp TM” chỉ là một dạng của “Tranh chấp KD”, nó phát
sinh từ hoạt động KD và có quan hệ chặt chẽ với hoạt động KD. Trong khi đó, có
quan điểm cho rằng “Tranh chấp TM” rộng hơn “Tranh chấp KD”, quan điểm này
phù hợp với pháp luật quốc tế.
Từ sự bất đồng giữa quan điểm dẫn tới việc BLTTDS 2004 đã dùng giải
pháp tình thế khi xây dựng các quy định trong Bộ luật đó là: Sử dụng ghép hai
thuật ngữ “Tranh chấp KD, TM”.
8


Theo đó, có thể quan niệm tranh chấp KD, TM là những mâu thuẫn, bất
đồng giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động thực hiện liên tục một, một số
hoặc toàn bộ quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng các
dịch vụ trên thị trường, xúc tiến TM và các hoạt động sinh lợi khác. Nói một
cách ngắn gọn hơn, có thể định nghĩa tranh chấp KD, TM là những mâu thuẫn,
bất đồng về quyền lợi giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động KD, TM.
Tuy nhiên, trong quan hệ KD, giữa các bên luôn tồn tại đồng thời hai mối
quan hệ vừa xung đột, vừa hợp tác. Để xác định chính xác khi nào những xung
đột lợi ích này chuyển thành tranh chấp thì cần phải dựa vào những dấu hiệu của
nó. Dấu hiệu đó là khi một bên cho rằng quyền và lợi ích của mình bị vi phạm yêu
cầu phía bên kia khắc phục nhưng không nhận được sự đồng ý. Vì vậy, theo cách
này, còn có một cách hiểu khác đó là “Tranh chấp KD, TM xảy ra khi một bên trong
quan hệ KD, TM khẳng định một trái quyền mà lại bị bên khác chống lại”. [40]
Hiện nay, khái niệm về tranh chấp KD, TM được đề cập đến trong khoản
1, điều 30, BLTTDS năm 2015: “Tranh chấp KD, TM là những tranh chấp phát
sinh trong hoạt động KD, TM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký KD và đều có
mục đích lợi nhuận”. [29]
Tóm lại, mỗi quan niệm trên đều có hạt nhân hợp lý của mình, vấn đề là sử


- Giữ bí mật KD, uy tín của các bên trên thương trường
- Kinh tế nhất, ít tốn kém nhất cả về thời gian, tiền bạc, sức lực
Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp nói riêng cũng như mọi
vấn đề liên quan đến quá trình giải quyết các tranh chấp trong KD nói chung dựa
trên nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên. Cơ quan nhà nước
và Trọng tài TM can thiệp theo yêu cầu của các bên tranh chấp, kể cả khi Tòa án
hoặc Trọng tài đã can thiệp trong quá trình tố tụng, quyền tự định đoạt biểu hiện
bằng những hành vi đơn phương hoặc thỏa thuận của các bên luôn được ghi nhận
và tôn trọng. Quyền tự định đoạt của các bên được coi là một nội dung của quyền
tự do KD và được pháp luật bảo hộ.
Xuất phát từ quyền tự do KD, trong đó bao hàm quyền tự do lựa chọn
10


phuơng thức giải quyết tranh chấp, các bên tranh chấp có quyền lựa chọn phương
thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhất cho mình. Có 4 phương thức giải quyết
tranh chấp đó là: thương lượng, hòa giải, Trọng tài và Tòa án.
Giải quyết tranh chấp KD, TM bằng thương lượng là hình thức giải quyết
tranh chấp KD, TM được tiến hành giữa các bên (hoặc đại diện của các bên) tranh
chấp để cùng tìm ra và đi đến những thỏa thuận thống nhất bằng những giải pháp
phù hợp với tất cả các bên nhằm chấm dứt những tranh chấp trong hoạt động KD.
Giải quyết tranh chấp KD, TM bằng hòa giải là phương thức giải quyết
tranh chấp KD, TM có sự tham gia của bên thứ ba giữ vai trò trung gian hòa giải
nhằm giúp cho các bên tranh chấp thu hẹp những bất đồng và đi đến giải pháp
giải quyết vụ tranh chấp. Bên thứ ba (hay còn gọi là hòa giải viên) do các bên
tranh chấp thỏa thuận lựa chọn làm trung gian hòa giải không có quyền quyết
định hay áp đặt ý chí của mình lên các bên tranh chấp. Tuy nhiên, hòa giải viên là
người am hiểu pháp luật, có kỹ năng hòa giải, có kiến thức chuyên môn liên quan
đến lĩnh vực tranh chấp sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho các bên

thích trong từ điển Tiếng Việt đó là: “Quyền được xem xét và quyền quyết định”
[16, tr. 414].
Về mặt pháp lý, “Thẩm quyền” được Từ điển Luật học giải thích là: “Tổng
hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của cơ quan tổ chức thuộc bộ
máy nhà nước” [7, tr. 731].
Như vậy, có thể thấy rằng khái niệm “Thẩm quyền” bao hàm hai nội dung:
Đó là quyền được làm những công việc nhất định và quyền giải quyết, quyết định
công việc đó trong phạm vi quy định của pháp luật.
Trong khoa học pháp lý, vấn đề thẩm quyền đã được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm và cũng có nhiều quan niệm khác nhau về thẩm quyền của Tòa án. Theo
quan điểm của Thạc sỹ Nguyễn Văn Tiến thì: Thẩm quyền của Tòa án là phạm vi
giới hạn hoạt động của Tòa án và quyền năng pháp lý của Tòa án có mối liên quan
chặt chẽ với nhau tạo thành thẩm quyền của Tòa án. Thẩm quyền của Tòa án bao
gồm thẩm quyền xét xử, phạm vi giới hạn xét xử và quyền hạn quyết định của Tòa
án. Tác giả Nguyễn Đức Mai thì quan niệm: “Thẩm quyền của Tòa án” là một hệ
12


thống nhất, bao gồm 2 yếu tố liên quan chặt chẽ đến nhau đó là thẩm quyền về
hình thức và thẩm quyền về nội dung. Thẩm quyền về hình thức thực hiện ở quyền
hạn xem xét và phạm vi xem xét của Tòa án (Thẩm quyền xét xử và phạm vi xét
xử), còn thẩm quyền về nội dung thể hiện ở quyền hạn giải quyết, quyết định của
Tòa án đối với những vấn đề được xem xét” [22, tr, 45].
Tham khảo một số quan niệm của các nhà nghiên cứu trên, chúng ta thấy
rằng dù tiếp cận “Thẩm quyền của Tòa án” từ các lĩnh vực khác hình sự, dân sự
hay TM, nhưng các khái niệm mà các tác giả đưa ra đều cho rằng: Thẩm quyền của
Tòa án gồm hai nội dung, thẩm quyền trong việc xét xử và thẩm quyền ra quyết
định trong việc xét xử đó.
Cũng đề cập tới khái niệm thẩm quyền của Tòa án, tác giả Nguyễn Thị
Phương Thảo- Trường Đại học luật Hà Nội viết về thẩm quyền dân sự theo loại

Về nguyên tắc, Tòa án có thẩm quyền giải quyết nhiều loại tranh chấp khác
nhau, trong đó có tranh chấp KD, TM. Sau khi nghiên cứu có thể kết luận về thẩm
quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KD, TM như sau:
“Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp KD, TM là
quyền của một Tòa án hoặc các Tòa án trong hệ thống TAND xem xét, giải quyết
và quyền ra quyết định đối với tranh chấp KD, TM theo thủ tục tố tụng dân sự”.
1.2.2. Cơ sở phân định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại
Việc phân định thẩm quyền dân sự của Tòa án nói chung và thẩm quyền
giải quyết tranh chấp KD, TM của Tòa án nói riêng, phải dựa vào trên những cơ
sở nhất định. Bao gồm cả những yếu tố chủ quan như: Đường lối chính sách của
Đảng về hoạt động Tư pháp; các quy tắc hiến định về tổ chức và hoạt động của hệ
thống Tòa án. Đồng thời cũng cần phải căn cứ vào những yếu tố khách quan từ
thực tiễn như: Tính chất xét xử; năng lực giải quyết tranh chấp KD TM của các
cấp Tòa án và cả những đòi hỏi trong quá trình hội nhập và phát triển.
1.2.2.1. Căn cứ vào đường lối của Đảng về cải cách tư pháp
Đảng Cộng Sản Việt Nam là một bộ phận cấu thành và giữ vai trò quan

14


trọng trong hệ thống chính trị. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với dân tộc Việt
Nam đã được thể hiện và khẳng định trong suốt quá trình lịch sử kể từ khi thành
lập. Đảng luôn là lực lượng lãnh đạo chính quyền và các tổ chức khác trong hệ
thống chính trị. Để thể chế hóa nguyện vọng toàn thể nhân dân, Đảng đề ra chủ
trương, vạch ra đường lối, phương hướng để phát triển xã hội, hoàn thiện nhà
nước cũng như hệ thống pháp luật. Trong lĩnh vực lập pháp, nghị quyết của Đảng
luôn là kim chỉ nam để nhà làm luật xây dựng các văn bản pháp luật tương ứng:
- Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng đã ra Nghị quyết trong đó chỉ rõ cần
phải: “Xóa bỏ lối quản lý hành chính cung cấp, thực hiện quản lý thủ công, phân

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, việc cụ thể hóa và thực hiện đường lối,
chính sách của Đảng là một trong những yêu cầu quan trọng trong hoạt động lập
pháp nói chung và phân định thẩm quyền cho TAND nói riêng. Đường lối chính
sách của Đảng là cơ sở quan trọng cho việc phân định thẩm quyền của Tòa án.
1.2.2.2. Căn cứ vào nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án
Cách thức tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước của các quốc gia trên thế
giới là không giống nhau, do đó hệ thống các cơ quan trong bộ máy nhà nước đó
cũng sẽ có những nét riêng biệt. Hệ thống Tòa án nước CHXHCN Việt Nam cũng
mang những đặc thù về tổ chức và hoạt động. Đặc thù này tác động trực tiếp tới
việc phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp KD, TM của Tòa án.
- Theo quy định của Luật tổ chức Tòa án thì ở TAND cấp cao và TAND cấp
tỉnh được tổ chức thành các Tòa chuyên trách, các tòa chuyên trách này có thẩm
quyền xử lý, giải quyết các loại vụ việc cụ thể. Với cách tổ chức như vậy, đòi hỏi
phải có sự phận định thẩm quyền giữa các tòa án chuyên trách trong từng một cấp
Tòa án. Tức là pháp luật tố tụng cần phân định với những tranh chấp nào thuộc
tòa án dân sự, những tranh chấp nào thuộc thẩm quyền Tòa án Kinh tế, tranh chấp
nào thuộc Tòa lao động.
- Theo quy định của Luật tổ chức TAND thì hệ thống Tòa án của Việt Nam
bao gồm: TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, các TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các Tòa án
quân sự và các Tòa án đặc biệt khác [28]. Quy định này dẫn đến việc phân định
16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status