ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ NGỌC
VẤN ĐỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Ngọc
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI VÀ CÁC
PHƢƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI 7
1.1. Khái niệm và đặc điểm tranh chấp thƣơng mại 7
1.1.1. Hoạt động thƣơng mại 7
1.1.2. Tranh chấp thƣơng mại 9
1.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thƣơng mại 15
1.2.1. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đƣơng sự 16
1.2.2. Nguyên tắc bình đẳng trƣớc pháp luật 17
2.2.5. Áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản . 56
2.2.6. Áp dụng pháp luật hình sự đối với việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong
hợp đồng mua bán hàng hoá bị xác định chiếm đoạt 60
2.3. Những nguyên nhân của việc áp dụng pháp luật hình sự trong giải quyết
tranh chấp trong thƣơng mại 62
2.3.1. Những nguyên nhân từ hệ thống pháp luật 62
2.3.2. Nguyên nhân từ các quy định liên quan đến tài phán trong tranh chấp
thƣơng mại 68
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ TRONG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI 77
3.1. Giải pháp tăng cƣờng công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật 77
3.1.1. Giải pháp tăng cƣờng công tác xây dựng pháp luật về thƣơng mại và
giải quyết tranh chấp trong thƣơng mại 77
3.1.2. Đổi mới chính sách hình sự phục vụ đấu tranh với các nhóm tội phạm
xâm phạm sở hữu, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm về chức vụ 84
3.2. Giải pháp tăng cƣờng công tác giải thích và hƣớng dẫn áp dụng pháp luật 87
3.3. Giải pháp tăng cƣờng năng lực của cán bộ tƣ pháp và bổ trợ tƣ pháp 90
3.3.1. Tăng cƣờng năng lực của cán bộ tƣ pháp 91
3.3.2. Hoàn thiện các chế định về bổ trợ tƣ pháp cũng nhƣ xây dựng đội ngũ
những ngƣời bổ trợ cho hoạt động tƣ pháp 93
3.4. Các giải pháp khác hạn chế áp dụng pháp luật hình sự trong giải quyết
các tranh chấp thƣơng mại 94
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1. BLDS : Bộ luật Dân sự
nhƣng cũng đem lại nhiều thách thức, nhất là việc giải quyết các tranh chấp
phát sinh trong hoạt động thƣơng mại. Điều này đòi hỏi các nhà làm luật và cả
các doanh nghiệp Việt Nam cần có cái nhìn nghiêm túc về tranh chấp và các
phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại.
Với ý nghĩa quan trọng là mở ra cho Việt Nam bƣớc vào giai đoạn hội
nhập kinh tế quốc tế một cách toàn diện, sâu sắc. Sự chính xác, nhất quán, đầy
đủ của hệ thống các quy định pháp luật cũng nhƣ các phƣơng thức giải quyết
tranh chấp trong thƣơng mại tạo niềm tin cho các nhà đầu tƣ, tạo hành lang an
toàn cho các doanh nghiệp và đồng thời tạo cơ hội thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài,
thu hút các nguồn vốn lớn, đẩy mạnh và xúc tiến tiếp cận khoa học kỹ thuật
tiên tiến, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho ngƣời lao động, góp phần xóa
đói giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội khác nhƣ quan hệ giữa môi
trƣờng và phát triển bền vững, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển.
Với chính sách mở của để phát triển kinh tế cũng nhƣ tiếp cận nhiều
luồng văn hóa khác nhau, Việt Nam tham gia hầu hết các văn kiện quốc tế,
bƣớc khởi xƣớng là từ năm 1995 Việt Nam đã tham gia Khu vực mậu dịch tự
do ASEAN (AFTA), với cam kết mở cửa thị trƣờng thƣơng mại hàng hóa,
dịch vụ và đầu tƣ. Năm 1996 Việt Nam là thành viên sáng lập Diễn đàn Hợp
tác kinh tế Á - Âu (ASEM). Năm 1998, Việt Nam là thành viên của Diễn đàn
2
hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dƣơng (APEC). Từ năm 2002 đến nay
Việt Nam tham gia các hiệp định mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc,
ASEAN - Ấn Độ, ASEAN - Hàn Quốc, ASEAN - Australia và New Zealand.
Năm 2007, gia nhập Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO). Từ việc hội nhập
vào thị trƣờng khu vực, Việt Nam đã tiến tới hội nhập vào thị trƣờng thƣơng
mại thế giới.
Với toàn cảnh thị trƣờng nhƣ trên, các hoạt động thƣơng mại, tranh
chấp thƣơng mại có yếu tố nƣớc ngoài ngày càng nhiều, với tính chất phức
tạp, khó khăn ở nhiều cấp độ khác nhau trong khi kiến thức thƣơng mại quốc
thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”làm luận văn thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có một số luật gia, học giả viết về vấn đề áp dụng pháp luật hình sự
trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, thƣơng mại dƣới nhiều
góc độ nghiên cứu khác nhau. Trong số này, các học giả, luật gia dùng thuật
ngữ “hình sự hóa” từ những vụ việc cụ thể hoặc trong từng lĩnh vực cụ thể
nhƣ hình sự hóa các quan hệ về tín dụng, ngân hàng hoặc xem xét dƣới góc
độ áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp kinh tế nhƣ :
- “Áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết các tranh chấp kinh tế ở
nƣớc ta hiện nay” luận án tiến sỹ luật học năm 2008 của Trần Minh Chất;
- “ Các giải pháp phòng chống hình sự hóa các giao dịch dân sự, kinh
tế” của PGS.TS. Dƣơng Đăng Huệ;
- “Một số vấn đề về hình sự hóa, phi hình sự hóa các hành vi vi phạm trên
lĩnh vực kinh tế trong chính sách hình sự hiện nay” của GS.TS. Hồ Trọng Ngũ;
- “Về hiện tƣợng hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự trong lĩnh vực
tín dụng ngân hàng” của TS. Nguyễn Văn Vân;
4
- “ Mấy ý kiến về vấn đề hình sự hóa các vi phạm liên quan tới hoạt
động ngân hàng và giải pháp khắc phục” của PGS.TS. Phạm Hồng Hải.
Ngoài ra, trên các tạp chí về chuyên ngành luật có nhiều bài viết liên
quan đến vấn đề này. Các sản phẩm khoa học đó đã thể hiện những cách nhìn
nhận, đánh giá về hiện tƣợng tiêu cực trong việc áp dụng pháp luật hình sự để
giải quyết các tranh chấp kinh tế trong thời gian qua ở nƣớc ta. Đây là những
tƣ liệu rất quý cho luận văn.
Tuy nhiên, cần nghiên cứu xem xét vấn đề này dƣới góc độ từ việc xây
dựng pháp luật đến việc áp dụng pháp luật. Làm rõ việc xây dựng pháp luật
có những kẽ hở và hạn chế nào dẫn đến việc đánh giá không đúng bản chất
của từng vụ việc dẫn đến việc áp dụng không đúng quan hệ pháp luật điều
chỉnh. Đối với vấn đề áp dụng pháp luật cũng cần xem xét đến nhiều nguyên
cực của vấn đề, đi sâu nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân bản chất của việc
áp dụng quy phạm pháp luật hình sự cũng nhƣ sự can thiệp của các cơ quan
tiến hành tố tụng vào quá trình giải quyết các tranh chấp thƣơng mại, từ đó
đƣa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao việc áp dụng pháp luật, khắc phục
tình trạng áp dụng không đúng các quy định pháp luật hình sự vào việc giải
quyết các tranh chấp thƣơng mại .
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Phƣơng pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử.
Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phƣơng pháp: Hệ thống,
lịch sử, lôgíc, thống kê, phân tích, tổng hợp, kết hợp với các phƣơng pháp
khác nhƣ so sánh, điều tra xã hội
6. Những đóng góp mới của đề tài
6
Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa
học của luận văn:
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về vấn đề áp dụng pháp luật
hình sự trong việc giải quyết tranh chấp trong thƣơng mại trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng.
- Đánh giá đúng thực trạng, tình hình và những khó khăn, vƣớng mắc
trong việc phân định ranh giới giữa vi phạm pháp luật thƣơng mại hay là tội
phạm chủ yếu từ việc chứng minh có hay không có yếu tố chiếm đoạt tài sản
trong các quan hệ này để hạn chế các sai lầm thƣờng gặp, dẫn đến áp dụng
pháp luật hình sự trong việc giải quyết tranh chấp thƣơng mại hoặc ngƣợc lại
coi hành vi vi pháp pháp luật hình sự là quan hệ thƣơng mại nhằm tránh oan
sai nhƣng cũng tránh bỏ lọt tội phạm.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi và kiến nghị nhằm
nâng cao chất lƣợng, hiệu quả công tác áp dụng pháp luật để hạn chế việc áp
dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết tranh chấp thƣơng mại.
hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm
mục đích sinh lợi khác”[11].
Cũng theo LTM năm 2005 thì chủ thể của hoạt động thƣơng mại là tổ
chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thƣơng mại.
Cá nhân là một ngƣời cụ thể, có năng lực pháp luật và năng lực hành
vi. Cá nhân có thể thực hiện việc kinh doanh dƣới hình thức doanh nghiệp tƣ
nhân hoặc hộ kinh doanh. Theo Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006
của Chính phủ về đăng ký kinh doanh thì hộ kinh doanh có thể là cá nhân
công dân Việt Nam hoặc một nhóm ngƣời hoặc một hộ gia đình làm chủ.
Tổ chức là những loại hình kinh doanh đƣợc pháp luật thừa nhận, đƣợc
thành lập hợp pháp. Theo quy định của pháp luật hiện hành, các tổ chức đang
8
tiến hành các hoạt động kinh doanh tại nƣớc ta là: Hợp tác xã, các loại hình
doanh nghiệp nhƣ công ty tƣ nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên hoặc nhiều thành viên, công ty cổ phần Tổ chức
trong luật thƣơng mại không đồng nghĩa với tổ hợp tác.
Cá nhân hoặc tổ chức khi hoạt động thƣơng mại phải có nghĩa vụ đăng
ký kinh doanh. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì cá nhân, hộ gia
đình, tổ hợp tác kinh doanh theo hình thức “hộ kinh doanh” là chủ thể của luật
thƣơng mại còn những hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp, làm muối
và những ngƣời bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lƣu động
làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh, trừ những
trƣờng hợp kinh doanh các ngành nghề có điều kiện. Mặc dù họ vẫn tiến hành
hoạt động thƣơng mại nhƣng không phải là đƣơng sự trong vụ án kinh doanh
thƣơng mại.
Hoạt động thƣơng mại là hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Đƣợc coi
là hoạt động thƣơng mại khi thỏa mãn các điều kiện nhƣ hoạt động độc lập,
thƣờng xuyên và có đăng kí kinh doanh. Hoạt động độc lập đƣợc hiểu là
không phụ thuộc vào ngƣời khác mà có quyền tự quyết định hoạt động kinh
không đủ điều kiện để thành lập doanh nghiệp ngƣời kinh doanh không
đăng kí kinh doanh nhƣng vẫn phải đóng thuế và thực hiện các nghĩa vụ và
trách nhiệm của ngƣời tham gia hoạt động kinh doanh.
1.1.2. Tranh chấp thương mại
Tranh chấp thƣơng mại là một hiện tƣợng khá phổ biến xảy ra trong
nền kinh tế, nó làm chậm quá trình lƣu thông hàng hóa, quá trình thanh toán,
tác động xấu đến sự phát triển của nền kinh tế. Vì vậy vấn đề đặt ra là cần có
các phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại một cách hiệu quả và đƣợc
pháp luật công nhận. Pháp luật Việt Nam mà cụ thể là LTM năm 2005 đã ghi
10
nhận sự tồn tại của bốn phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại đó là:
Thƣơng lƣợng, hòa giải, trọng tài thƣơng mại và tòa án. Thuật ngữ “tranh
chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thƣơng mại” hay “tranh chấp thƣơng
mại” đƣợc định nghĩa không giống nhau trong các văn bản pháp luật điều
chỉnh các phƣơng thức giải quyết tranh chấp khác nhau.
Trên thực tế, để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự nói chung, kinh doanh
thƣơng mại nói riêng, Tòa án phải dựa vào yêu cầu cụ thể của ngƣời khởi kiện
để xác định quan hệ pháp luật mà đƣơng sự tranh chấp. Từ đó, đối chiếu với
các quy định về thẩm quyền của BLTTDS để xác định yêu cầu khởi kiện của
đƣơng sự có thuộc thẩm quyền của Tòa án hay không. Việc xác định quan hệ
pháp luật tranh chấp còn có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật
nội dung (điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên) trong việc giải quyết
yêu cầu của đƣơng sự.
Thực tiễn xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh thƣơng
mại không hề dễ dàng bởi lẽ tùy từng thời kỳ phát triển khác nhau mà cơ quan
lập pháp quy định một số quan hệ xã hội cần đƣợc điều chỉnh bằng quy phạm
pháp luật thƣơng mại bên cạnh đó một số quan hệ xã hội khác thì chƣa nên
không phải cứ có tranh chấp sẽ dễ dàng xác định đƣợc quan hệ pháp luật tranh
chấp về kinh doanh thƣơng mại, trong khi đó có rất nhiều phƣơng thức để giải
Tóm lại, tranh chấp thƣơng mại là tranh chấp phát sinh trong đời sống
kinh tế - xã hội. Vì vậy, nó cũng hội tụ đầy đủ những đặc điểm của một tranh
chấp nói chung. Tuy nhiên, đây là loại tranh chấp đặc thù phát sinh trong hoạt
động sản xuất kinh doanh nên nó có những điểm khác biệt với các loại tranh
chấp khác, đòi hỏi phải có những phƣơng thức giải quyết nhanh gọn, hiệu
quả, đáp ứng đƣợc nhu cầu của các các chủ thể kinh doanh.
12
Một số văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành về kinh doanh
thƣơng mại có quy định phạm vi các giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh
nhƣng lại quy định một cách chung chung, mang tính mở nên khi có tranh
chấp xảy ra để xác định chúng có thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản quy
phạm pháp luật này hay không cũng gây ra những khó khăn, vƣớng mắc nhất
định. Ở Việt Nam hiện nay, mỗi năm cơ quan chức năng ban hành rất nhiều
các văn bản dƣới luật để hƣớng dẫn, bổ sung, tuy nhiên nhiều văn bản thiếu
sự đồng nhất hoặc có sự chồng chéo, mâu thuẩn nhau dẫn đến những khó
khăn và vƣớng mắc nhất định.
Một số trƣờng hợp do văn bản quy phạm pháp luật nội dung về kinh
doanh thƣơng mại không xác định rõ giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh của
mình nên để xác định cần dựa vào BLTTDS. Bên cạnh việc quy định thẩm
quyền theo vụ việc, BLTTDS còn quy định thẩm quyền theo lãnh thổ để phân
chia việc giải quyết án giữa Tòa án các cấp, giữa các Tòa chuyên trách với
nhau đƣợc tƣơng xứng nhƣng trong nội dung hƣớng dẫn thẩm quyền theo
lãnh thổ lại giải thích thêm thẩm quyền theo vụ việc [23].
Hiện các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp
thƣơng mại tiếp cận khái niệm này dƣới góc độ liệt kê các tranh chấp liên
quan đến hoạt động kinh doanh thƣơng mại của cơ quan tài phán thuộc phạm
vi điều chỉnh của văn bản pháp luật đó. Cụ thể nhƣ BLTTDS, tại Điều 29 liệt
kê những tranh chấp về kinh doanh thƣơng mại thuộc thẩm quyền của Toà án
gồm 04 nhóm : Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thƣơng mại
tụng, cụ thể là BLTTDS và Phần I của Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP.
Nội dung của Điều 29 BLTTDS đƣợc cụ thể hóa Nghị quyết số 01/2005/NQ-
HĐTP nhƣ sau:
14
“Hoạt động kinh doanh thương mại là việc thực hiện một hoặc nhiều
hành vi thương mại. Hoạt động kinh doanh, thương mại không chỉ là hoạt
động trực tiếp theo đăng ký kinh doanh, thương mại mà còn bao gồm cả các
hoạt động khác phục vụ thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động, kinh doanh
thương mại”[30, tiểu mục 3.3, mục 3, Phần I].
Đối với mục đích lợi nhuận của cá nhân, tổ chức trong hoạt động kinh
doanh, thƣơng mại đƣợc hƣớng dẫn “là mong muốn của cá nhân, tổ chức đó
thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thu được lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó” [30, tiểu mục 3.2, mục 3,
Phần I]. Đối với việc chủ thể có đăng ký kinh doanh hay không dựa vào quy
định của Luật Doanh nghiệp về đăng ký kinh doanh và các văn bản hƣớng
dẫn thi hành.
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP còn hƣớng dẫn bằng
hình thức liệt kê các tranh chấp đƣợc xác định là tranh chấp giữa công ty với
thành viên công ty, giữa các thành viên công ty với nhau cũng nhƣ quy định
điểm mở là các tranh chấp khác liên quan đến việc thành lập, hoạt động, chấm
dứt hoạt động của công ty đƣợc quy định tại khoản 3 Điều 29 BLTTDS. Đối
với quy định tại khoản 2 Điều 29 BLTTDS, Nghị quyết số 01/2005/NQ-
HĐTP hƣớng dẫn rõ là chỉ cần 02 bên có mục đích lợi nhuận mà không cần
phải có đăng ký kinh doanh. Nếu chỉ một bên có mục đích lợi nhuận thì đó là
tranh chấp dân sự.
Tranh chấp thƣơng mại là một loại tranh chấp pháp lí có nhiều khía
cạnh đặc thù, trong đó có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là, do là tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh nên nó chịu
sự chi phối của các yếu tố cơ bản của hoạt động này nhƣ : Yếu tố lợi nhuận,
điểm này
16
Tại Điều 1 của BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố
tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án về tranh
chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thƣơng mại, lao động và trình
tự, thủ tục yêu cầu để Toà án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thƣơng mại, lao động; trình tự, thủ tục giải quyết vụ
án dân sự, việc dân sự tại Toà án.
Trên cơ sở đó, BLTTDS này đã đƣa ra những nguyên tắc cơ bản nhƣ sau:
1.2.1. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự
Theo Điều 5 BLTTDS, nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự
định đoạt của đƣơng sự đƣợc quy định nhƣ sau:
“Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có
thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân
sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong
phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền
chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách
tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội” [18].
Quan hệ kinh tế là những quan hệ đƣợc xác lập một cách tự nguyện,
xuất phát từ ý chí và nguyện vọng của các bên mà không có bất cứ sự cƣỡng
ép, đe dọa nào trong quá trình xác lập, thực hiện. Nói cách khác, sự xác lập
các quan hệ kinh tế hoàn toàn do các bên tự quyết định, và đƣợc Nhà nƣớc
bảo đảm nếu không trái với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.
Chính vì thế, khi phát sinh tranh chấp, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Nhà
nƣớc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; ngƣợc lại, họ cũng có
quyền từ bỏ quyền lợi của mình đã bị xâm phạm cho dù đã có yêu cầu Nhà
nƣớc bảo vệ. Nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của các
đƣơng sự đƣợc thể hiện trong suốt các giai đoạn của quá trình tố tụng. Các
trong thực tế không phải lúc nào đƣơng sự cũng thực hiện đƣợc quyền này.
Nhiều trƣờng hợp do trình độ hiều biết của đƣơng sự dẫn đến họ không thực
hiện đƣợc hết quyền của mình, nhƣ: Vấn đề khởi kiện, cung cấp chứng cứ hay
bào chữa trƣớc Toà án dẫn đến việc phải chịu phán quyết bất lợi hoặc có
trƣờng hợp xuất phát ngày từ việc vi phạm trong quá trình tiến hành tố tụng
của Toà án hoặc quy định của pháp luật chƣa phù hợp dẫn đến bất bình đẳng
cho các chủ thể tham gia. Đây là vấn đề lớn, để khắc phục đƣợc cần phải có
một lộ trình tiến hành đồng bộ từ giai đoạn xây dựng pháp luật, cải cách cơ
cấu tổ chức của Toà án đến việc nâng cao trình độ của các Thẩm phán cũng
nhƣ trình độ hiểu biết và tuân thủ pháp luật của các cá nhân, tổ chức hoạt
động kinh doanh.
1.2.3. Nguyên tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu
thập chứng cứ
Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân sự trong việc giải quyết các tranh
chấp trong kinh doanh, thƣơng mại. Khác với trình tự, thủ tục giải quyết các
vụ án hình sự, trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại thì Tòa
án không tiến hành thu thập chứng cứ mà:
“Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án
và chứng minh cho yêu cầu của minh là có căn cứ và hợp pháp”, “Tòa án chỉ
tiền hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp nhất định”
[18, Điều 6]. Điều 79 BLTTDS cũng quy định: “Đương sự có yêu cầu Toà án
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng
minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp”.
Việc pháp luật quy định đƣơng sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để
chứng minh cho yêu cầu của mình, trong trƣờng hợp đƣơng sự không thể tự
mình thu thập đƣợc chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán mới tự mình thu
thập chứng cứ hoặc trong các trƣờng hợp khác mà pháp luật có quy định là