ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ NGỌC
VẤN ĐỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ NGỌC
VẤN ĐỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Luật Kinh Tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRỊNH QUỐC TOẢN
1.2.1. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự.................16
1.2.2. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật..................................................17
1.2.3. Nguyên tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập
chứng cứ..........................................................................................................18
1.2.4. Nguyên tắc hòa giải...............................................................................20
1.2.5. Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời..............................21
1.3. Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại................................22
1.3.1. Thương lượng giữa các bên...................................................................22
1.3.2. Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các
bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải...................................................23
1.3.3. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường trọng tài................25
1.3.4. Giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án........................................27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA VIỆC ÁP DỤNG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG
MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG.........................................30
2.1. Áp dụng pháp luật hình sự trong giải quyết tranh chấp thương mại........30
2.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật.................................................................30
2.1.2. Áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp thương mại......................35
2.1.3. Áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp thương mại..........36
2.1.4. Hậu quả tiêu cực của việc áp dụng pháp luật hình sự trong giải quyết
tranh chấp thương mại.....................................................................................40
2.2. Thực trạng của việc áp dụng pháp luật hình sự trong giải quyết tranh chấp
thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng..................................................42
2.2.1. Áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết việc vi phạm trong việc thực
hiện hợp đồng đặt cọc.....................................................................................42
2.2.2. Áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp hợp đồng góp vốn
liên doanh........................................................................................................45
2.2.3. Áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp trong hoạt động dịch vụ
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1. BLDS
: Bộ luật Dân sự
2. BLTTDS
: Bộ luật Tố tụng dân sự
3. LTM
: Luật Thương mại
4. TAND
: Toà án nhân dân
6. VKSND
: Viện Kiểm sát nhân dân
7. BLHS
: Bộ luật Hình sự
8. BLTTHS
: Bộ luật tố tụng Hình sự
nhập kinh tế quốc tế một cách toàn diện, sâu sắc. Sự chính xác, nhất quán, đầy
đủ của hệ thống các quy định pháp luật cũng như các phương thức giải quyết
tranh chấp trong thương mại tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, tạo hành lang an
toàn cho các doanh nghiệp và đồng thời tạo cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài,
thu hút các nguồn vốn lớn, đẩy mạnh và xúc tiến tiếp cận khoa học kỹ thuật
tiên tiến, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động, góp phần xóa
đói giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội khác như quan hệ giữa môi
trường và phát triển bền vững, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển.
Với chính sách mở của để phát triển kinh tế cũng như tiếp cận nhiều
luồng văn hóa khác nhau, Việt Nam tham gia hầu hết các văn kiện quốc tế,
bước khởi xướng là từ năm 1995 Việt Nam đã tham gia Khu vực mậu dịch tự
do ASEAN (AFTA), với cam kết mở cửa thị trường thương mại hàng hóa,
dịch vụ và đầu tư. Năm 1996 Việt Nam là thành viên sáng lập Diễn đàn Hợp
tác kinh tế Á - Âu (ASEM). Năm 1998, Việt Nam là thành viên của Diễn đàn
1
hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Từ năm 2002 đến nay
Việt Nam tham gia các hiệp định mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc,
ASEAN - Ấn Độ, ASEAN - Hàn Quốc, ASEAN - Australia và New Zealand.
Năm 2007, gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Từ việc hội nhập
vào thị trường khu vực, Việt Nam đã tiến tới hội nhập vào thị trường thương
mại thế giới.
Với toàn cảnh thị trường như trên, các hoạt động thương mại, tranh
chấp thương mại có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều, với tính chất phức
tạp, khó khăn ở nhiều cấp độ khác nhau trong khi kiến thức thương mại quốc
tế về phương diện luật thương mại quốc tế, tư pháp quốc tế, các công ước
quốc tế, tập quán quốc tế về mua bán hàng hóa, thanh toán tiền hàng, vận
chuyển hàng hóa, bảo hiểm hàng hóa và giải quyết tranh chấp của chúng ta
Đã có một số luật gia, học giả viết về vấn đề áp dụng pháp luật hình sự
trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, thương mại dưới nhiều
góc độ nghiên cứu khác nhau. Trong số này, các học giả, luật gia dùng thuật
ngữ “hình sự hóa” từ những vụ việc cụ thể hoặc trong từng lĩnh vực cụ thể
như hình sự hóa các quan hệ về tín dụng, ngân hàng hoặc xem xét dưới góc
độ áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp kinh tế như :
- “Áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết các tranh chấp kinh tế ở
nước ta hiện nay” luận án tiến sỹ luật học năm 2008 của Trần Minh Chất;
- “ Các giải pháp phòng chống hình sự hóa các giao dịch dân sự, kinh
tế” của PGS.TS. Dương Đăng Huệ;
- “Một số vấn đề về hình sự hóa, phi hình sự hóa các hành vi vi phạm trên
lĩnh vực kinh tế trong chính sách hình sự hiện nay” của GS.TS. Hồ Trọng Ngũ;
- “Về hiện tượng hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự trong lĩnh vực
tín dụng ngân hàng” của TS. Nguyễn Văn Vân;
3
- “ Mấy ý kiến về vấn đề hình sự hóa các vi phạm liên quan tới hoạt
động ngân hàng và giải pháp khắc phục” của PGS.TS. Phạm Hồng Hải.
Ngoài ra, trên các tạp chí về chuyên ngành luật có nhiều bài viết liên
quan đến vấn đề này. Các sản phẩm khoa học đó đã thể hiện những cách nhìn
nhận, đánh giá về hiện tượng tiêu cực trong việc áp dụng pháp luật hình sự để
giải quyết các tranh chấp kinh tế trong thời gian qua ở nước ta. Đây là những
tư liệu rất quý cho luận văn.
Tuy nhiên thiết nghĩ, cần nghiên cứu xem xét vấn đề này dưới góc độ
từ việc xây dựng pháp luật đến việc áp dụng pháp luật. Trong đó làm rõ việc
xây dựng pháp luật có những kẽ hở và hạn chế nào dẫn đến việc đánh giá
không đúng bản chất của từng vụ việc dẫn đến việc áp dụng không đúng quan
hệ pháp luật điều chỉnh. Đồng thời cũng cần xem xét dưới góc độ về chính
- Đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế việc áp dụng pháp luật hình sự
để giải quyết các tranh chấp trong thương mại.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Tranh chấp thương mại và pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại.
- Chính sách pháp luật hình sự đối với các tội phạm xâm phạm sở hữu,
tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm về chức vụ hiện hành
(Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, các văn bản hướng dẫn thi hành).
- Vấn đề áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp thương mại
trong thực tiễn áp dụng pháp luật ở thành phố Đà Nẵng trong khoảng thời
gian từ năm 2008 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử.
Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp: Hệ thống,
lịch sử, lôgíc, thống kê, phân tích, tổng hợp, kết hợp với các phương pháp
khác như so sánh, điều tra xã hội...
5
6. Những đóng góp mới của đề tài
Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa
học của luận văn:
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về vấn đề áp dụng pháp luật
hình sự trong việc giải quyết tranh chấp trong thương mại trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng.
- Đánh giá đúng thực trạng, tình hình và những khó khăn, vướng mắc
trong việc phân định ranh giới giữa vi phạm pháp luật thương mại hay là tội
phạm chủ yếu từ việc chứng minh có hay không có yếu tố chiếm đoạt tài sản
trong các quan hệ này để hạn chế các sai lầm thường gặp, dẫn đến áp dụng
dịch nhằm mục tiêu lợi nhuận và được thương nhân sử dụng thường xuyên
như nghề nghiệp của họ.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 LTM năm 2005 thì: “Hoạt động
thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm
mục đích sinh lợi khác”[11].
Cũng theo LTM năm 2005 thì chủ thể của hoạt động thương mại là tổ
chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại.
Cá nhân là một người cụ thể, có năng lực pháp luật và năng lực hành
vi. Cá nhân có thể thực hiện việc kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp tư
nhân hoặc hộ kinh doanh. Theo Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006
của Chính phủ về đăng ký kinh doanh thì hộ kinh doanh có thể là cá nhân
công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ.
Tổ chức là những loại hình kinh doanh được pháp luật thừa nhận, được
thành lập hợp pháp. Theo quy định của pháp luật hiện hành, các tổ chức đang
7
tiến hành các hoạt động kinh doanh tại nước ta là: Hợp tác xã, các loại hình
doanh nghiệp như công ty tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên hoặc nhiều thành viên, công ty cổ phần...Tổ chức
trong luật thương mại không đồng nghĩa với tổ hợp tác.
Cá nhân hoặc tổ chức khi hoạt động thương mại phải có nghĩa vụ đăng
ký kinh doanh. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì cá nhân, hộ gia
đình, tổ hợp tác kinh doanh theo hình thức “hộ kinh doanh” là chủ thể của luật
thương mại còn những hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối
và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động
làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh, trừ những
trường hợp kinh doanh các ngành nghề có điều kiện. Mặc dù họ vẫn tiến hành
hợp pháp hóa là điều kiện đủ để thể hiện tính hợp pháp của hoạt động kinh
doanh thương mại. Đăng ký kinh doanh thể hiện tính hợp pháp của hoạt động
kinh doanh của thương nhân. Tuy nhiên theo Điều 7 của LTM năm 2005,
trường hợp thương nhân chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu
trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của LTM và quy định
khác của pháp luật.
Sở dĩ việc quy định như vậy là vì có những trường hợp kinh doanh
mang tính chất nhỏ lẻ, vốn ít hoặc những hàng hóa mang tính chất lẻ tẻ, hoặc
không đủ điều kiện để thành lập doanh nghiệp... người kinh doanh không
đăng kí kinh doanh nhưng vẫn phải đóng thuế và thực hiện các nghĩa vụ và
trách nhiệm của người tham gia hoạt động kinh doanh.
1.1.2. Tranh chấp thương mại
Tranh chấp thương mại là một hiện tượng khá phổ biến xảy ra trong
nền kinh tế, nó làm chậm quá trình lưu thông hàng hóa, quá trình thanh toán,
tác động xấu đến sự phát triển của nền kinh tế. Vì vậy vấn đề đặt ra là cần có
các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại một cách hiệu quả và được
pháp luật công nhận. Pháp luật Việt Nam mà cụ thể là LTM năm 2005 đã ghi
9
nhận sự tồn tại của bốn phương thức giải quyết tranh chấp thương mại đó là:
Thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án. Thuật ngữ “tranh
chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại” hay “tranh chấp thương
mại” được định nghĩa không giống nhau trong các văn bản pháp luật điều
chỉnh các phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau.
Trên thực tế, để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự nói chung, kinh doanh
thương mại nói riêng, Tòa án phải dựa vào yêu cầu cụ thể của người khởi kiện
để xác định quan hệ pháp luật mà đương sự tranh chấp. Từ đó, đối chiếu với
các quy định về thẩm quyền của BLTTDS để xác định yêu cầu khởi kiện của
ngành luật khác nhau. Mặc dù, mỗi ngành luật đều có những quy định để
phân biệt quan hệ pháp luật nào thuộc ngành luật nào điều chỉnh như về chủ
thể tham gia quan hệ, mục đích chủ thể, đối tượng của giao dịch…nhưng việc
phân biệt cũng không hề dễ dàng. Khác với tranh chấp trong dân sự, tranh
chấp thương mại thường có giá trị rất lớn, mức độ ảnh hưởng đến hoạt động
sản xuất kinh doanh rất cao thậm chí có thể tác động tới hoạt động của cả hệ
thống kinh doanh của nền kinh tế. Do đó, việc giải quyết thoả đáng, nhanh
gọn, hiệu quả, kịp thời tranh chấp thương mại là yêu cầu hết sức cần thiết.
Tranh chấp thương mại có tính phản ứng dây chuyền. Nó xảy ra trong một
công đoạn nào đó của chu trình sản xuất kinh doanh và thường có mối quan
hệ hữu cơ với các công đoạn khác. Nếu không giải quyết dứt điểm, kịp thời
có thể làm phát sinh những tranh chấp tiếp theo trong nền kinh tế.
Tóm lại, tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh trong đời sống
kinh tế - xã hội. Vì vậy, nó cũng hội tụ đầy đủ những đặc điểm của một tranh
chấp nói chung. Tuy nhiên, đây là loại tranh chấp đặc thù phát sinh trong hoạt
động sản xuất kinh doanh nên nó có những điểm khác biệt với các loại tranh
chấp khác, đòi hỏi phải có những phương thức giải quyết nhanh gọn, hiệu
quả, đáp ứng được nhu cầu của các các chủ thể kinh doanh.
11
Một số văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành về kinh doanh
thương mại có quy định phạm vi các giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh
nhưng lại quy định một cách chung chung, mang tính mở nên khi có tranh
chấp xảy ra để xác định chúng có thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản quy
phạm pháp luật này hay không cũng gây ra những khó khăn, vướng mắc nhất
định. Ở Việt Nam hiện nay, mỗi năm cơ quan chức năng ban hành rất nhiều
các văn bản dưới luật để hướng dẫn, bổ sung, tuy nhiên nhiều văn bản thiếu
sự đồng nhất hoặc có sự chồng chéo, mâu thuẩn nhau dẫn đến những khó
giải quyết bằng Trọng tài” khi có thoả thuận chọn trọng tài hợp pháp của các
bên tranh chấp, trong đó có tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại
[17, Điều 2].
LTM năm 2005 đưa ra khái niệm “hoạt động thương mại” rất rộng, bao
trùm lên tất cả các hoạt động có mục đích sinh lợi, cụ thể khoản 1 Điều 3
LTM năm 2005 định nghĩa “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục
đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến
thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” [11, Điều 3].
Như vậy, tranh chấp thương mại cũng được hiểu rất rộng, có thể định
nghĩa là các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh
doanh, thương mại giữa các chủ thể thực hiện các hoạt động đó [24].
Khác với việc xác định các quan hệ tranh chấp dân sự, hôn nhân gia
đình và lao động chủ yếu dựa vào luật nội dung, sau đó đối chiếu với quy
định về thẩm quyền theo vụ việc do BLTTDS quy định để xác định tranh chấp
nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, việc xác định quan hệ pháp luật
tranh chấp về kinh doanh thương mại lại dựa vào quy định của luật tố tụng, cụ
thể là BLTTDS và Phần I của Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP. Nội dung
của Điều 29 BLTTDS được cụ thể hóa Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP như
sau:
13
“Hoạt động kinh doanh thương mại là việc thực hiện một hoặc nhiều
hành vi thương mại. Hoạt động kinh doanh, thương mại không chỉ là hoạt
động trực tiếp theo đăng ký kinh doanh, thương mại mà còn bao gồm cả các
hoạt động khác phục vụ thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động, kinh doanh
thương mại”[30, tiểu mục 3.3, mục 3 Phần I].
Đối với mục đích lợi nhuận của cá nhân, tổ chức trong hoạt động kinh
doanh, thương mại được hướng dẫn “là mong muốn của cá nhân, tổ chức đó
doanh. Ngoài ra, còn có các tranh chấp giữa ít nhất một bên có hoạt động
thương mại hoặc tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty, giữa các
thành viên công ty với nhau. Các mối quan hệ tranh chấp này thường mang
tính pháp lý và được giải quyết thông qua Tòa án để đạt hiệu quả cao nhất.
Ba là, các tranh chấp thương mại có thể được giải quyết bằng nhiều
phương thức khác nhau bao gồm: Hoà giải; Thương lượng; Toà án; Trọng tài
thương mại.
Thông thường để giải quyết tranh chấp nhanh gọn nhất và vẫn đảm bảo
được tính công bằng thì nguời ta thường áp dụng phương tức giải quyết thông
qua Trọng tài thương mại. Tuy nhiên, có những vụ việc thương mại, phải áp
dụng khoa học luật hình sự vào để giải quyết thì vấn đề này lại được các cơ
quan tiến hành tố tụng quyết định và được giải quyết theo thủ tục tố tụng hình
sự. Tuy nhiên, tùy vào trường hợp để áp dụng chứ không rập khuân theo bất
cứ một vụ án nào khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một vụ việc tranh
chấp thương mại vì sẽ dễ dẫn đến oan sai.
1.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại
Nguyên tắc cơ bản trong trong một đạo luật là tổng hợp những tư
tưởng, quan điểm chỉ đạo mang tính khái quát, xuyên suốt trong cả đạo luật.
Nội dung của các quy định tiếp theo chỉ là sự cụ thể hóa các tư tưởng, quan
điểm này
15
Tại Điều 1 của BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố
tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án về tranh
chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và trình
tự, thủ tục yêu cầu để Toà án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; trình tự, thủ tục giải quyết vụ
án dân sự, việc dân sự tại Toà án.
các giai đoạn của quá trình thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật.
Trên thực tế, TAND khi giải quyết tranh chấp vẫn thường vi phạm
nguyên tắc này thể hiện ở việc giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự hoặc
không giải quyết hết yêu cầu đương sự, thậm chí có trường hợp giải quyết sai
so với yêu cầu của đương sự dẫn đến việc đương sự khiếu nại kéo dài, bản án,
quyết định của Toà án cấp dưới bị Toà án cấp trên huỷ để giải quyết lại.
1.2.2. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền cơ bản của công dân đã được
ghi nhận trong Hiến Pháp 1992. Quyền này đã được cụ thể hoá trong nhiều
văn bản pháp luật, trong đó có BLTTDS:
“Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Toà án không phân
biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá,
nghề nghiệp. Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình
thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác. Các đương sự đều bình
đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Toà án có trách nhiệm tạo điều
kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình” [18, Điều 8].
Việc cụ thể hoá quyền bình đẳng trước pháp luật trong tố tụng kinh
doanh thương mại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó còn thể hiện được sự
bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Khi tham gia tố tụng không phân biệt
đó là doanh nghiệp Nhà nước, công ty, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân…
đều có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng. Tuy nhiên
17
trong thực tế không phải lúc nào đương sự cũng thực hiện được quyền này.
Nhiều trường hợp do trình độ hiều biết của đương sự dẫn đến họ không thực
hiện được hết quyền của mình, như: Vấn đề khởi kiện, cung cấp chứng cứ hay
bào chữa trước Toà án... dẫn đến việc phải chịu phán quyết bất lợi hoặc có