Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ở việt nam hiện nay - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

VŨ THỊ HẢI VÂN
LKT12-01

THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành Luật Kinh tế
Mã số: 52 38 01 07

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Hà Nội, 5/2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

VŨ THỊ HẢI VÂN
LKT12-01

THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành Luật Kinh tế
Mã số: 52 38 01 07


1.2.2. Vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại ................................................................................................ 8
Chƣơng 2 ........................................................................................................ 12
NỘI DUNG PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN TOÀ ÁN TRONG VIỆC
......................................................................................................................... 12
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI VÀ
THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM ........................... 12
2.1. Thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thƣơng mại theo pháp luật hiện hành ........................................ 12
2.1.1. Thẩm quyền theo loại việc của Tòa án ............................................. 12
2.1.2. Thẩm quyền theo cấp xét xử của Toà án ........................................... 15
2.1.3. Thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án .............................................. 16


Khóa luận tốt nghiệp 2016

2.1.4. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn của Toà án .............. 18
2.2. Thực tiễn thực thi thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại ở Việt Nam hiện nay ................... 19
2.2.1. Đánh giá chung về tình hình giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại thông qua Tòa án ở Việt Nam ............................................. 19
2.2.3. Những khó khăn trong thực tiễn thực hiện thẩm quyền của Tòa án . 24
Chƣơng 3 ........................................................................................................ 28
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN ................................... 28
CỦA TOÀ ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP................ 28
KINH DOANH, THƢƠNG MẠI ................................................................. 28
3.1. Phƣơng hƣớng và yêu cầu của việc xây dựng và hoàn thiện pháp
luật về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thƣơng mại .................................................................................... 28


WTO

Tổ chức thƣơng mại thế giới

CHXHCNVN

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự

KDTM

Kinh doanh, thƣơng mại

TCKDTM

Tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao

TANDCC

Tòa án nhân dân cấp cao




21


Khóa luận tốt nghiệp 2016
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, đặc biệt khi nƣớc ta đã gia
nhập Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO), các quan hệ kinh doanh, thƣơng mại
(KDTM) ngày càng đa dạng, phong phú và mang những diện mạo sắc thái mới.
Tƣơng ứng với sự đa dạng phong phú của các quan hệ này, các TCKDTM ngày
càng muôn hình muôn vẻ và với số lƣợng lớn.
Đáp ứng yêu cầu giải quyết các TCKDTM của cá nhân, tổ chức trong nền
kinh tế, thực tiễn đã hình thành nhiều phƣơng thức giải quyết TCKDTM nhƣ:
thƣơng lƣợng, hòa giải, giải quyết theo thủ tục trọng tài, giải quyết theo thủ tục tƣ
pháp. Ở Việt Nam, các đƣơng sự thƣờng lựa chọn hình thức giải quyết TCKDTM
bằng Toà án nhƣ một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi
ích của mình khi thất bại trong việc sử dụng cơ chế thƣơng lƣợng, hoà giải.
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc tiếp tục đẩy nhanh quá trình cải cách
kinh tế và cải cách nền hành chính quốc gia, công cuộc cải cách tƣ pháp cũng đang
đƣợc Đảng và Nhà nƣớc tích cực triển khai, coi đây nhƣ là khâu đột phá quan trọng,
thúc đẩy quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Điều này đƣợc thể hiện rõ nét trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6
năm 2005 về “chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020”. Công cuộc cải cách tƣ
pháp ở nƣớc ta đã và đang đặt ra một loạt vấn đề lý luận và thực tiễn cần đƣợc giải
quyết một cách hợp lý và thoả đáng, trong đó có vấn đề xây dựng và hoàn thiện
pháp luật kinh tế nói chung cũng nhƣ tạo lập khuôn khổ pháp lý điều chỉnh pháp
luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho các chủ thể kinh doanh, kể cả
việc giải quyết vấn đề đặt ra về tố tụng kinh tế, dân sự nói riêng sao cho thích hợp
hiện cũng cần đƣợc quan tâm thích đáng nhằm tìm ra phƣơng hƣớng giải quyết

thi hành (Phan Chí Hiếu, Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật số 6/2005); Một số kiến
nghị liên quan đến quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại theo điều 29 BLTTDS (ThS.Nguyễn Thị Vân Anh - Giảng viên khoa
Đào tạo Thẩm phán Học viện Tƣ pháp); Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
bằng con đường Tòa án (Nguyễn Vũ Hoàng, NXB Thanh niên, năm 2003)...
Các công trình trên đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM
trong thời gian qua. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đều chƣa tập trung
đƣa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt động giải
quyết TCKDTM. Hơn nữa nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đang tiếp tục đƣợc đặt
ra và có nhu cầu giải quyết hoặc chƣa đƣợc cập nhật trong pháp luật hiện hành. Đây
là vấn đề cấp thiết đặt ra trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, hệ
thống pháp luật kinh tế nói riêng ở nƣớc ta.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận: Là các quy phạm pháp luật hiện
hành liên quan trực tiếp đến vấn đề thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết
TCKDTM mà đặc biệt là Bộ luật tố tụng dân sự 2004 đã đƣợc sửa đổi bổ sung năm
2011 và những văn bản pháp luật có liên quan.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu pháp luật thực định Việt Nam
về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại

Vũ Thị Hải Vân

2

LKT12-01


Khóa luận tốt nghiệp 2016
trong việc đối chiếu so sánh với pháp luật nƣớc ngoài về thẩm quyền của Tòa án

đƣợc thiết lập chính thức bởi pháp luật hay một lãnh đạo chính trị để giải quyết và
đƣa ra những tuyên bố về những vấn đề pháp lý và để đảm bảo công lý trong phạm
vi lãnh thổ cụ thể.
Thẩm quyền là giới hạn nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể nhất định (cá
nhân, tổ chức) và đƣợc quyết định khi thực hiện các hoạt động thuộc thẩm quyền.
Thẩm quyền gắn liền với bộ máy nhà nƣớc và các cá nhân có thẩm quyền khi thực
hiện các hoạt động trong phạm vi, quyền hạn.
Thẩm quyền của Tòa án đƣợc quy định trong Hiến pháp 2013, Luật tổ chức
Toà án Nhân dân năm 2014 và các văn bản pháp luật khác. Theo quy định của
những văn bản pháp luật nêu trên thì Toà án là cơ quan xét xử duy nhất của nƣớc
Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), chức năng xét xử của Toà
án là chức năng cơ bản và quan trọng nhất, nó bao trùm và xuyên suốt quá trình
hoạt động của Toà án. Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định “Tòa án nhân dân là cơ

quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư
pháp” “Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do
Luật định” ; Khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức Toà án Nhân dân 2014 quy định “Tòa
án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự,
dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải
quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn
diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết
quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc
không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài
sản, quyền nhân thân”. Qua đó, thẩm quyền của Tòa án trong hệ thống pháp luật
đƣợc hiểu với những cấp độ và nội dung khác nhau. Cụ thể:
Thẩm quyền của Tòa án là phạm vi quyền hạn của Tòa án trong việc thực
hiện pháp luật mà trọng tâm là công tác xét xử các loại vụ án theo quy định của

Vũ Thị Hải Vân


Tranh chấp đƣợc hiểu là sự mâu thuẫn hoặc bất đồng (tranh cãi); sự mâu
thuẫn về các quyền yêu cầu hay quyền, sự đòi hỏi về quyền, yêu cầu hay đòi hỏi từ
một bên đƣợc đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngƣợc của bên kia.
TCKDTM là một thuật ngữ pháp lý mới xuất hiện cùng với sự ra đời của
BLTTDS năm 2004 thay thế cho thuật ngữ tranh chấp kinh tế, “ một khái niệm quen
thuộc của cơ chế kế hoạch hóa đã ăn sâu vào tiềm thức và tƣ duy pháp lý ngƣời Việt
Nam”.
Hiện nay ở Việt Nam chƣa có cách hiểu chuẩn xác và thống nhất về
TCKDTM. Việc xác định phạm vi của tranh chấp đƣợc coi là TCKDTM chủ yếu
căn cứ vào luật thực định.

Vũ Thị Hải Vân

5

LKT12-01


Khóa luận tốt nghiệp 2016
Theo khoản 16 điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “kinh doanh là
việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư,
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục
đích sinh lợi.”
Khoản 1 điều 3 Luật Thƣơng mại năm 2005 quy định: “hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi
khác”.
Với cách định nghĩa trên hoạt động kinh doanh và hoạt động thƣơng mại có
nhiều nội hàm trùng nhau nhƣ về mục đích sinh lợi, về đầu tƣ, về cung ứng dịch vụ,
về tiêu thụ sản phẩm… Nhƣ vậy, có thể quan niệm TCKDTM là những mâu thuẫn,

Khóa luận tốt nghiệp 2016
thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhất cho mình. Có 4 phƣơng thức giải quyết
tranh chấp đó là: thƣơng lƣợng, hòa giải, trọng tài và Tòa án.
Giải quyết TCKDTM bằng thương lượng là hình thức giải quyết TCKDTM
đƣợc tiến hành giữa các bên (hoặc đại diện của các bên) tranh chấp để cùng tìm ra
và đi đến những thỏa thuận thống nhất bằng những giải pháp phù hợp với tất cả các
bên nhằm chấm dứt những tranh chấp trong hoạt động kinh doanh.
Giải quyết TCKDTM bằng hòa giải là phƣơng thức giải quyết TCKDTM có
sự tham gia của bên thứ ba giữ vai trò trung gian hòa giải nhằm giúp cho các bên
tranh chấp thu hẹp những bất đồng và đi đến giải pháp giải quyết vụ tranh chấp.
Bên thứ ba (hay còn gọi là hòa giải viên) do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn
làm trung gian hòa giải không có quyền quyết định hay áp đặt ý chí của mình lên
các bên tranh chấp. Tuy nhiên, hòa giải viên là ngƣời am hiểu pháp luật, có kỹ năng
hòa giải, có kiến thức chuyên môn liên quan đến lĩnh vực tranh chấp sẽ đóng vai trò
quan trọng trong việc giúp cho các bên tranh chấp tìm kiếm những giải pháp thích
hợp cho việc giải quyết tranh chấp, còn giải pháp có đạt đƣợc hay không là do các
bên tranh chấp quyết định.
Giải quyết TCKDTM bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông
qua hoạt động của trọng tài viên (hoặc Hội đồng trọng tài), với tƣ cách là bên thứ ba
độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đƣa ra một phán quyết buộc các bên
tranh chấp phải thực hiện. Cơ sở làm phát sinh thẩm quyền của trọng tài là sự thỏa
thuận của các bên tranh chấp. Điều 5, khoản 1 của Luật Trọng tài thƣơng mại 2010
quy định: “Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có thoả thuận
trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh
chấp”. Thỏa thuận trọng tài phải đƣợc lập thành văn bản, có thể ghi trong hợp đồng
chính hoặc bằng văn bản riêng.
Giải quyết TCKDTM bằng Tòa án là phƣơng thức giải quyết tranh chấp tại
cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nƣớc, đƣợc tiến hành theo trình tự, thủ tục
nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Tòa án về vụ tranh chấp nếu
không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ đƣợc đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cƣỡng

phƣơng thức kia và ngƣợc lại.
Ƣu diểm nổi bật của phƣơng thức Tòa án là tính quyền lực nhà nƣớc. Tòa
án là cơ quan tƣ pháp có quyền nhân danh ý chí quyền lực của nhà nƣớc khi xét xử
các vụ tranh chấp. Bản án, quyết định của Tòa án đƣợc mọi cá nhân, tổ chức tôn
trọng và thi hành. Điều 136 Hiến pháp nƣớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam quy định: “Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực
pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn
vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan
phải chấp hành”. Trong trƣờng hợp bản án không đƣợc tự nguyện thi hành thì sẽ bị
cƣỡng chế bởi quyền lực nhà nƣớc. Trong khi đó ở Việt Nam trong một thời gian
dài, các quyết định của Trọng tài không có cơ quan cƣỡng chế thi hành nên hiệu quả
hoạt động của Trọng tài rất thấp. Khắc phục nhƣợc điểm này, Pháp lệnh Trọng tài
Thƣơng mại đặc biệt là Luật Trọng tài Thƣơng mại 2010 quy định “bên được thi
hành phán quyết Trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có
thẩm quyền thi hành phán quyết Trọng tài” (Điều 67 Luật Trọng tài Thƣơng mại).
Tuy nhiên tình hình vẫn không đƣợc cải thiện là mấy.
Tính quyền lực nhà nƣớc còn thể hiện là trong quá trình giải quyết vụ án,
Tòa án có quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, có quyền triệu tập nhân

Vũ Thị Hải Vân

8

LKT12-01


Khóa luận tốt nghiệp 2016
chứng, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ
án đƣợc khách quan, chính xác. Ƣu điểm này không thể có ở phƣơng thức trọng tài
vì thẩm quyền của trọng tài đƣợc hình thành trên cơ sở thỏa thuận của các bên tranh

chấp của mình ra giải quyết tại Trọng tài? Rõ ràng các nhà kinh doanh của ta chƣa

Vũ Thị Hải Vân

9

LKT12-01


Khóa luận tốt nghiệp 2016
đặt trọn niềm tin vào các Trọng tài viên, cũng nhƣ chƣa hoàn toàn coi trọng hiệu
quả của việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài và hiệu lực thi hành của các quyết
định Trọng tài.
Qua sự phân tích trên có thể thấy, giải quyết TCKDTM bằng Tòa án vẫn
chiếm ƣu thế chủ đạo trong việc lựa chọn các phƣơng thức giải quyết TCKDTM ở
nƣớc ta. Theo thống kê có đến hơn 95% tranh chấp hợp đồng thƣơng mại trong
nƣớc đƣợc đƣa ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy
định của BLTTDS. Bằng các quyết định và bản án của Tòa án, các bên có tranh
chấp buộc phải thực hiện để khắc phục và chấm dứt tranh chấp, đảm bảo cho hoạt
động KDTM trong nền kinh tế diễn ra trong trật tự lập pháp. Ƣu thế này không có ở
các phƣơng thức giải quyết tranh chấp khác nhƣ thƣơng lƣợng, hòa giải ngoài tố
tụng hoặc nếu có nhƣ trọng tài thì cũng không đƣợc đảm bảo một cách triệt để.
b) Thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết TCKDTM
Thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết TCKDTM, xét theo mối quan hệ
với các cơ quan nhà nƣớc khác, là xác định phạm vi những TCKDTM thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án, phân định những tranh chấp về KDTM thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan nhà nƣớc khác. Xét theo mối quan hệ giữa các Tòa án
với nhau thì thẩm quyền trong giải quyết TCKDTM trƣớc hết xác định phạm vi giải
quyết các TCKDTM so với phạm vi xét xử về hình sự, dân sự, hành chính và giải
quyết những vụ việc khác thuộc thẩm quyền xét xử, giải quyết của Tòa án theo quy

khi phân loại các quan hệ xã hội. Tƣơng ứng với từng loại quan hệ xã hội các chủ
thể tham gia có sự khác nhau về thành phần và phạm vi thẩm quyền. Yếu tố này gắn
liền với phạm vi hoạt động, mức độ thể hiện quyền hạn trong các quan hệ pháp luật.
Vì có sự phân biệt các quan hệ pháp luật nên yếu tố chủ thể có địa vị pháp lý khác
nhau khi tham gia thiết lập các quan hệ pháp lý đó. Ví dụ: chủ thể có đăng ký kinh
doanh mới là chủ thể của quan hệ pháp luật về KDTM.
Thứ ba, mục đích của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật về
KDTM. Mục đích là mong muốn của các chủ thể khi tham gia các quan hệ pháp
luật. Đó là cái đích mà một chủ thể nào đó nhắm đến khi thiết lập các quan hệ xã
hội. Điều này liên quan mật thiết đến thẩm quyền xét xử mà cụ thể là sự phân loại
án trong hoạt động tố tụng và cơ quan xét xử. Trong tố tụng dân sự, các loại vụ việc
đƣợc phân chia thành bốn loại khác nhau, trong đó các hoạt động kinh doanh tiêu
chí mục đích đƣợc xác định là chủ yếu. Đây là căn cứ để phân biệt với các vụ việc
khác.
Pháp luật quy định cụ thể những TCKDTM thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án. Tuy nhiên, không phải từ những quy định này, mỗi khi có tranh chấp
phát sinh trong hoạt động KDTM thì Tòa án tự đƣa ra giải quyết, mà phải có yêu
cầu của đƣơng sự. Thẩm quyền giải quyết TCKDTM của Tòa án chỉ xuất hiện khi
có yêu cầu của đƣơng sự, theo sự lựa chọn của đƣơng sự. Pháp luật tố tụng dân sự
có sự phân chia thẩm quyền giải quyết TCKDTM theo cấp Tòa án, theo lãnh thổ,
theo sự lựa chọn của nguyên đơn. Việc phân chia này sẽ đƣợc nghiên cứu cụ thể ở
Chƣơng 2 của khóa luận khi phân tích các quy định của pháp luật về thẩm quyền
của Tòa án trong giải quyết TCKDTM.

Vũ Thị Hải Vân

11

LKT12-01


phối; Đại diện, đại lý; Ký gửi; Thuê, cho thuê, thuê mua; Xây dựng; Tƣ vấn, kỹ
thuật; Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đƣờng sắt, đƣờng bộ, đƣờng thuỷ nội
địa; Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đƣờng hàng không, đƣờng biển; Mua
bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; Đầu tƣ, tài chính, ngân hàng; Bảo
hiểm; Thăm dò, khai thác. Các tranh chấp này đƣợc điều chỉnh trong các luật

Vũ Thị Hải Vân

12

LKT12-01


Khóa luận tốt nghiệp 2016
chuyên ngành nhƣ: Luật Thƣơng mại, Luật đƣờng sắt, Luật hàng không dân dụng,
Luật giao thông đƣờng thủy nội địa, Luật giao thông đƣờng bộ, Luật kinh doanh
bảo hiểm, Luật kinh doanh bất động sản, Luật đầu tƣ, Luật xây dựng, Luật sửa đổi
bổ sung một số điều của luật khoáng sản.
Ngoài ra, mặc dù tính đến ngày 01/07/2016 mới bắt đầu có hiệu lực nhƣng
cũng cần nói đến BLTTDS 2015 cũng đã bổ sung thêm những tranh chấp về kinh
doanh, thƣơng mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhƣ: “Tranh chấp giữa người
chưa phải là thành viên công tynhuwng cso giao dịch về chuyển nhuwongjphaanf
vốn góp với công ty, thành viên công ty”, “Tranh chấp công ty với nguwoif quản lý
trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc,
tổng giám đốc trong công ty cổ phần”.( Căn cứ Khoản 3,4,5 Điều 30 BLTTDS
2015)
Qua đó, các tranh chấp đƣợc coi là tranh chấp trong hoạt động kinh doanh
thƣơng mại phải hội đủ ba điều kiện:
Thứ nhất, chủ thể của quan hệ tranh chấp phải có đăng ký kinh doanh theo
quy định của pháp luật, trong đó cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh là cá nhân

pháp lý để Tòa án có thẩm quyền thụ lý, giải quyết các tranh chấp sở hữu trí tuệ và
chuyển giao công nghệ, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích các đƣơng sự, tạo niềm tin
cho các chủ thể sáng tạo.
Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ là tranh chấp về quyền của tổ chức, cá
nhân đối với tài sản trí tuệ bao gồm: quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác
giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
Tranh chấp về hợp đồng chuyển giao công nghệ là tranh chấp về các thỏa
thuận trong việc chuyển giao bí quyết, kỹ thuật, kiến thức kỹ thuật về công nghệ
dƣới dạng phƣơng án công nghệ các giải pháp kỹ thuật, công thức, thông số kỹ
thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, chƣơng trình máy tính, thông tin dữ liệu về công nghệ
chuyển giao, giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ, cấp phép đặc quyền
kinh doanh và các đối tƣợng khác do pháp luật về chuyển giao công nghệ quy định.
Đối với tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ thì
không đòi hỏi cá nhân tổ chức phải đăng ký kinh doanh mà chỉ đòi hỏi cá nhân, tổ
chức đều có mục đích lợi nhuận từ hoạt động KDTM. Nếu chỉ có một bên có mục
đích lợi nhuận, còn bên kia không có mục đích lợi nhuận thì tranh chấp đó đƣợc coi
là tranh chấp dân sự đƣợc quy định khoản 4 Điều 25 BLTTDS 2004. Nhƣ vậy “mục
đích lợi nhuận là tiêu chí duy nhất dùng để xác định một vụ tranh chấp về quyền sở
hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ là TCKDTM hay tranh chấp dân sự.
c) Tranh chấp phát sinh trong nội bộ công ty liên quan đến quản lý điều hành và
phân phối lợi nhuận trong nội bộ công ty
Đó là tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các
thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể,
sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. Trong đó:
Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty là các tranh
chấp về phần vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty (thông thƣờng phần vốn
góp đó đƣợc tính bằng tiền, nhƣng cũng có thể bằng hiện vật hoặc bằng giá trị
quyền sở hữu công nghiệp); về mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu phát hành đối với
mỗi công ty cổ phần; về quyền sở hữu một phần tài sản của công ty tƣơng ứng với
phần vốn góp vào công ty; về quyền đƣợc chia lợi nhuận hoặc về nghĩa vụ chịu lỗ

về thẩm quyền theo kiểu liệt kê này có ƣu điểm là: nội dung rõ ràng, cụ thể dễ dàng
trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án đối với tranh chấp thuộc thẩm quyền.
Tuy nhiên về mặt khoa học lập pháp cách quy định thẩm quyền theo kiểu liệt kê
nhƣ vậy chắc chắn sẽ làm cho pháp luật giải quyết TCKDTM nhanh chóng lạc hậu
trong nền kinh tế thị trƣờng sôi động, sự thay đổi và mở rộng các quan hệ thƣơng
mại ngày một gia tăng ở nƣớc ta hiện nay. Điều này cũng kéo theo những vƣớng
mắc trong việc áp dụng thẩm quyền giải quyết TCKDTM của Tòa án.
2.1.2. Thẩm quyền theo cấp xét xử của Toà án
Thẩm quyền theo cấp xét xử của Tòa án là giới hạn do pháp luật quy định
để Tòa án các cấp thực hiện chức năng giải quyết các TCKDTM. Thông thƣờng
thẩm quyền của Tòa án các cấp đƣợc phân chia căn cứ vào giá trị tranh chấp, tính
chất của sự việc và khả năng, điều kiện của từng cấp Tòa án. Theo pháp luật tố tụng
dân sự Việt Nam, thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp đƣợc quy định căn cứ vào
các tiêu chí:

Vũ Thị Hải Vân

15

LKT12-01


Khóa luận tốt nghiệp 2016
Thứ nhất, tính chất phức tạp của vụ việc. Tính chất phức tạp của vụ việc là
độ khó của việc áp dụng pháp luật để giải quyết vụ việc đó. Độ khó của vụ việc phụ
thuộc vào các yếu tố: phạm vi không gian, thành phần chủ thể của quan hệ pháp
luật, mức độ sử dụng nghiệp vụ trong hoạt động áp dụng pháp luật. Các quan hệ
pháp luật về KDTM có thể diễn ra trong phạm vi hẹp nhƣng cũng có thể đƣợc xác
lập trong phạm vi không gian liên quan đến nhiều quốc gia phụ thuộc vào tính chất
quan hệ. Điều này hẳn nhiên có nhiều khó khăn cho các đƣơng sự trong việc thu

16

LKT12-01


Khóa luận tốt nghiệp 2016
tra, đánh giá chứng cứ. Tòa án nơi bị đơn cƣ trú, làm việc có trụ sở có thẩm quyền
giải quyết tranh chấp, có điều kiện thuận lợi trong việc xác định thông tin, tài liệu
liên quan, thực hiện các thủ tục tố tụng trong việc xác định sự thật khách quan của
vụ án.
Hơn nữa, thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ còn là cơ sở giúp Tòa án
ngăn chặn, kiểm soát việc xét xử nhiều lần đối với một vụ án. Về nguyên tắc, một
sự việc chỉ đƣợc Tòa án giải quyết một lần từ khi thụ lý vụ án cho đến khi ra bản án
quyết định có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là kết
luận cuối cùng về nội dung sự việc. Việc cần có cơ chế phù hợp ngăn chặn tình
trạng một sự việc giải quyết nhiều lần là cần thiết. Đó chính là hình thức ngăn chặn
lạm quyền, chồng chéo, mâu thuẫn trong hoạt động thực thi và áp dụng pháp luật.
Thứ hai, theo sự lựa chọn của đương sự. Theo pháp luật tố tụng dân sự, các
đƣơng sự có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp bằng thoả thuận trong hợp
đồng. Tuy nhiên, sự lựa chọn này giới hạn trong phạm vi hẹp giữa các đƣơng sự và
do pháp luật quy định sẵn. Đó là Tòa án nơi nguyên đơn cƣ trú, làm việc, có trụ sở.
Thứ ba, đối với tranh chấp bất động sản thì Tòa án có thẩm quyền giải
quyết là Tòa án nơi có bất động sản. Quy định này có ƣu điểm:
Trƣớc hết, do bản chất của bất động sản gắn liền với đất và là đối tƣợng
tranh chấp trong vụ án nên Tòa án sẽ thuận lợi trong hoạt động kiểm tra, đánh giá
chứng cứ, xác minh sự việc. Điều đó cũng giúp cho đƣơng sự dễ dàng trong việc
chứng minh là quyền lợi của mình bị ngƣời khác xâm phạm cũng nhƣ phản bác yêu
cầu của đƣơng sự khác đặt ra đối với mình.
Bên cạnh đó, bất động sản gắn liền với quá trình hình thành, tồn tại, phát
triển và các yếu tố pháp lý liên quan đến bất động sản đó. Hầu hết các bất động sản

pháp luật đƣa ra các quy định về các Tòa án có thẩm quyền giải quyết và nguyên
đơn đƣợc lựa chọn theo ý chí của mình. Thực chất của thẩm quyền theo sự lựa chọn
của nguyên đơn là ngoại lệ của những quy tắc chung về thẩm quyền. Theo quy định
của pháp luật tố tụng dân sự, bên cạnh những tranh chấp nguyên đơn bắt buộc phải
khởi kiện tại Tòa án đã quy định thì một số tranh chấp khác pháp luật trao quyền
chủ động cho nguyên đơn đƣợc tự mình quyết định chọn Tòa án để khởi kiện. Quy
định này hƣớng đến mục tiêu là tạo sự thuận lợi cho nguyên đơn thực hiện quyền
bảo vệ quyền của họ. Quy định về thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn nhà
lập pháp căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh của ngƣời khởi kiện; tính chất của đối
tƣợng tranh chấp.
Khi nguyên đơn lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp, họ cũng có thể chọn
Tòa án theo sự bắt buộc hoặc theo yêu cầu. Tuy nhiên, việc lựa chọn Tòa án giải
quyết cũng phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định nhƣ chỉ đƣợc lựa chọn những
Tòa án mà pháp luật quy định, việc lựa chọn phải tuân theo yêu cầu luật định (lựa
chọn có điều kiện và không điều kiện) và khi đã lựa chọn Tòa án giải quyết tranh
chấp thì nguyên đơn không đƣợc lựa chọn Tòa án khác giải quyết nữa.
Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn đƣợc quy định tại
điều 36 BLTTDS 2004. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án để khởi kiện đối với
các tranh chấp trong KDTM nhƣ sau:
Nếu không biết nơi cƣ trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể
yêu cầu Toà án nơi bị đơn cƣ trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có
tài sản giải quyết;

Vũ Thị Hải Vân

18

LKT12-01



Vũ Thị Hải Vân

19

LKT12-01



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status