Pháp luật hòa giải tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam - Pdf 29

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHẠM LÊ MAI LY

PHÁP LUẬT HÒA GIẢI TRANH CHẤP
KINH DOANH THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT



Trong quá trình học tập và thực hiện công trình nghiên cứu, tôi đã nhận
đƣợc sự giúp đỡ nhiệt tình và vô cùng quý báu từ các thầy cô, gia đình, bạn bè và
đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hƣớng dẫn nhiệt tình, nghiêm túc và khoa học
của TS. Phan Thị Thanh Thủy – Giảng viên Bộ môn Luật Kinh doanh, Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội.
Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các giảng viên Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội, các anh chị em học viên Cao học khóa XVIII và các đồng nghiệp
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

HỌC VIÊN
Phạm Lê Mai Ly LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
MẠI BẰNG PHƢƠNG THỨC HÒA GIẢI Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI
HÀNH PHÁP LUẬT 40
2.1. Các quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam về hòa giải trong tố tụng. 40
2.1.1. Pháp luật hòa giải kinh doanh thƣơng mại trong tố tụng tòa án. 40
2.1.2. Quy định của pháp luật về hòa giải trong tố tụng trọng tài. 52
2.2. Pháp luật hòa giải ngoài tố tụng. 59
2.2.1. Quy định pháp luật về hòa giải ngoài tố tụng ở Việt Nam. 59 2.2.2. Ƣu điểm và hạn chế của hòa giải ngoài tố tụng. 64
2.2.3. Thực tiễn hoạt động hòa giải ngoài tố tụng. 67
Chƣơng 3 : MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG
MẠI Ở VIỆT NAM 69
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật hòa giải kinh doanh thƣơng mại. 69
3.1.1. Cơ sở lý luận. 69
3.1.2. Cơ sở thực tiễn. 70
3.2. Định hƣớng hoàn thiện pháp luật hòa giải kinh doanh thƣơng mại. 72
3.3 Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hòa giải kinh doanh thƣơng mại
ở Việt Nam. 76
3.3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong tố tụng. 76
3.3.2. Xây dựng pháp luật về hòa giải ngoài tố tụng. 80
3.3.3. Xây dựng mô hình cơ quan hòa giải ngoài tố tụng. 82
3.3.4. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hòa giải ngoài tố tụng. 84
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài.
Sau hơn 20 năm đổi mới và mở cửa, nền kinh tế Việt Nam đã có những
chuyển biến tích cực, hợp tác và giao lƣu thƣơng mại ngày càng phát triển. Nền
kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam đã tạo điều kiện cho các quan hệ thƣơng mại hình
thành và phát triển đa dạng, phức tạp. Để điều chỉnh và tạo khung pháp lý cho hoạt
động của các doanh nghiệp, Việt Nam đã ban hành LDN 2005, LTM 2005, LĐT
2005 và LTTTM 2010, bƣớc đầu đã giúp hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp đi đúng hƣớng.
Khi các quan hệ thƣơng mại càng phát triển đa dạng và phức tạp, tranh chấp
xảy ra là điều tất yếu. Để giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thƣơng mại các
bên cần phải lựa chọn một phƣơng thức giải quyết tranh chấp phù hợp dựa trên các
yếu tố nhƣ mục tiêu đạt đƣợc, mối quan hệ giữa các bên, thời gian và chi phí…Pháp
luật Việt Nam công nhận các phƣơng thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
sau: thƣơng lƣợng, hòa giải, trọng tài và tòa án. Theo đó khi xảy ra tranh chấp các
bên có thể trực tiếp thƣơng lƣợng với nhau để giải quyết, trƣờng hợp không thƣơng
lƣợng đƣợc thì có thể thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua hòa giải,
trọng tài hoặc tòa án. Mỗi phƣơng thức đều có những ƣu điểm và nhƣợc điểm riêng
nhƣng nhìn chung đều hƣớng tới việc giải quyết xung đột giữa các bên, bảo vệ lợi
ích hợp pháp và chính đáng của các bên khi tham gia vào hoạt động kinh doanh
thƣơng mại.
Trong các phƣơng thức giải quyết tranh chấp, bên cạnh thƣơng lƣợng và
trọng tài thì phƣơng thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải rất phổ biến trên thế
giới, đặc biệt đƣợc ƣa chuộng tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển do những ƣu
điểm vƣợt trội của phƣơng thức này so với phƣơng thức tố tụng. Tuy nhiên, tại Việt
Nam phƣơng thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải trong kinh doanh thƣơng mại
còn khá mới và chƣa đƣợc sử dụng rộng rãi bởi nhiều nguyên nhân về pháp lý cũng

có nhu cầu giải quyết hoặc chƣa đƣợc cập nhật trong pháp luật hiện hành. Đây là
vấn đề cấp thiết đặt ra trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, hệ
thống pháp luật thƣơng mại nói riêng ở Việt Nam.

3

3. Mục đích đề tài.
Sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, tính đa dạng và phức tạp trong quan
hệ thƣơng mại làm cho tranh chấp thƣơng mại cũng trở nên phức tạp về nội dung,
gay gắt về mức độ tranh chấp và phong phú về chủng loại xuất phát từ mục tiêu của
các bên và sự hấp dẫn của nền kinh tế. Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh là cần
thiết bởi giải quyết tranh chấp kinh doanh là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế,
tạo môi trƣờng kinh doanh hiệu quả, tạo niềm tin cho các doanh nghiệp trong nƣớc
và ngoài nƣớc. Do vậy, lựa chọn một phƣơng thức giải quyết tranh chấp kinh doanh
hiệu quả là yếu tố quyết định trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên. Một
trong những phƣơng thức đó là phƣơng thức giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng
con đƣờng hòa giải – đang đƣợc các quốc gia có nền kinh tế phát triển lựa chọn khi
xảy ra tranh chấp.
Đề tài phản ánh một cách khái quát, cụ thể các vấn đề về phƣơng thức giải
quyết tranh chấp kinh doanh ở Việt Nam. Nghiên cứu đề tài này để tìm hiểu những
ƣu điểm, khuyết điểm của phƣơng thức hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh
doanh. Phân tích những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện phƣơng thức hòa
giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, đề ra một số định hƣớng, giải pháp
nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp thƣơng mại bằng hòa giải ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
- Luận văn tập trung vào nghiên cứu hoạt động giải quyết tranh chấp kinh
doanh thƣơng mại ở Việt Nam bằng hòa giải thông qua cả trong tố tụng và ngoài tố
tụng theo pháp luật Việt Nam hiện hành.
 Phạm vi nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết
tranh chấp kinh doanh thƣơng mại bằng hòa giải đƣợc quy định trong BLDS 2005,

1.1.1. Khái niệm kinh doanh thương mại.
Tự do hóa kinh tế kết hợp với sự tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ đã thúc đẩy nhanh sự đan kết của thị trƣờng hàng hóa và dịch vụ của các nƣớc
với nhau để hình thành nên thị trƣờng toàn cầu. Cùng với xu thế này hoạt động kinh
doanh thƣơng mại ra đời.
Kinh doanh thƣơng mại là hoạt động lƣu thông phân phối hàng hoá trên thị
trƣờng buôn bán hàng hoá của từng quốc gia riêng biệt hoặc giữa các quốc gia với
nhau. Nội thƣơng là lĩnh vực hoạt động thƣơng mại trong từng nƣớc, thực hiện quá
trình lƣu chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất, nhập khẩu tới nơi tiêu dùng.
Trong kinh doanh thƣơng mại nói chung và hoạt động nội thƣơng nói riêng,
cần xuất phát từ đặc điểm quan hệ thƣơng mại và tiềm năng kinh doanh với các bạn
hàng để tìm phƣơng thức giao dịch, mua, bán thích hợp đem lại cho đơn vị lợi ích
lớn nhất. Ngày nay thuật ngữ kinh doanh thƣơng mại đƣợc sử dụng rất rộng rãi
dùng để chỉ hoạt động trung gian nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng nhằm mục đích
lợi nhuận.
Hầu hết các nƣớc trên thế giới đều sử dụng khái niệm kinh doanh, còn tại
Việt Nam khái niệm kinh doanh đƣợc sử dụng rộng rãi từ khi Việt Nam chuyển
sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Tại các nƣớc có hệ thống
thông luật không có sự phân biệt giữa kinh doanh và dân sự. Nhƣng ở một số nƣớc
theo truyền thống Châu Âu lục địa có Bộ luật Thƣơng mại riêng nhƣ Cộng hòa Liên
bang Đức, Cộng hòa Pháp thì có sự phân biệt giữa thƣơng mại và dân sự. Ở các
nƣớc này kinh doanh đƣợc sử dụng phù hợp với thƣơng mại theo nghĩa rộng do Tổ
chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) hay Luật mẫu Uncitral về Trọng tài Thƣơng mại
đƣa ra. Theo đó “Thƣơng mại” bao gồm tất cả các quan hệ giao dịch mang bản chất
thƣơng mại nhƣ: cung cấp hàng hóa, dịch vụ, thỏa thuận về đại diện thƣơng mại,

6

hóa đơn, chứng từ, các dịch vụ tƣ vấn, đề án thiết kế, giấy phép đầu tƣ, giao dịch
ngân hàng, bảo hiểm, vận chuyển hàng hóa hay hành khách bằng đƣờng không,


Ngƣợc lại ở miền Nam, hoạt động kinh tế có nhiều khởi sắc dƣới sự quản lý
của chính quyền Ngô Đình Diệm. Về nội thƣơng: hoạt động mua bán, trao đổi hàng
hóa diễn ra sầm uất, hình thành nên một vài thƣơng xá lớn ở Sài Gòn nhƣ Tax, Tam
Đa. Về ngoại thƣơng: chính quyền Sài Gòn thực hiện một số chính sách nhƣ không
quốc hữu hóa, miễn các loại thuế trƣớc bạ, lợi tức, hải quan, cho tƣ bản tự do
chuyển tiền, lợi tức về nƣớc từ một đến ba năm…nhằm kêu gọi tƣ bản nƣớc ngoài
đầu tƣ vào Việt Nam. Nhìn chung, kinh tế miền Nam vẫn nằm trong kinh tế thời
chiến phụ thuộc vào viện trợ, công nghiệp hƣớng nội, chƣa giải quyết đƣợc vấn đề
năng lƣợng, thƣơng mại chủ yếu nhập khẩu và tiêu thụ hàng viện trợ. Nhƣng kinh tế
miền Nam phát triển hơn kinh tế miền Bắc nhờ có sự mở cửa giao thƣơng từ nƣớc
ngoài nhƣng điều này chủ yếu mang lại lợi ích cho tƣ bản nƣớc ngoài. Do ảnh
hƣởng của thị trƣờng tự do nên hoạt động thƣơng mại thuần túy đã hình thành ở
miền Nam.

Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1986:
Năm 1975, Việt Nam thống nhất đất nƣớc. Lúc này nhu cầu về tiêu dùng của
các tầng lớp dân cƣ trong xã hội khác trƣớc. Điều đó đòi hỏi hoạt động của thƣơng
mại phải có sự thích ứng nhanh chóng với điều kiện mới của thị trƣờng, mở rộng
kinh doanh với những phƣơng thức tiến bộ, hàng hoá phong phú với chất lƣợng bảo
đảm. Nhu cầu giao lƣu hàng hoá giữa hai miền Nam - Bắc ngày càng tăng lên, do
đó những hạn chế buôn bán ban đầu đã đƣợc Nhà nƣớc xoá bỏ dần. Nhƣng nền kinh
tế vẫn hoạt động theo đƣờng lối quan liêu bao cấp dƣới sự quản lý của nhà nƣớc,
thừa nhận nền kinh tế xã hội chủ nghĩa nhƣng không thừa nhận nền kinh tế thị
trƣờng. Do đó, chƣa xuất hiện khái niệm kinh doanh, thƣơng mại.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng lần thứ 10 khoá V (6/1986) đã đánh giá
tình hình sau cuộc điều chỉnh giá-lƣơng-tiền vào tháng 9/1985 và khẳng định chính
thức đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) đã chủ trƣơng: “Phát triển nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã

luật này đã đƣa ra một khái niệm mới trong khoa học pháp lý Việt Nam có liên quan
nhiều đến việc áp dụng pháp luật thƣơng mại, đó là khái niệm “kinh doanh”. Theo khoản
1 điều 3 LCT 1990 và điều 2 LDNTN 1990 thì “Kinh doanh là việc thực hiện một, một
số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
LDN năm 2000 và LDN năm 2005 cũng đề cập đến khái niệm kinh doanh và
không có khác biệt so với khái niệm kinh doanh trong các đạo luật trƣớc. Theo khoản 2
điều 3 LDN 2000 và khoản 2 điều 4 LDN 2005 thì “Kinh doanh là việc thực hiện một,

9

một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. LDN năm 2000
và LDN năm 2005 đã thay cụm từ “thực hiện dịch vụ” bởi cụm từ “cung ứng dịch
vụ”. Cung ứng dịch vụ mang ý nghĩa rộng hơn bao gồm cả thực hiện dịch vụ, doanh
nghiệp có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện dịch vụ đến khách hàng.
Khái niệm kinh doanh trong LDN 2005 có những điểm tƣơng đồng với khái
niệm thƣơng mại theo nghĩa rộng đƣợc sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay và
cũng đƣợc giải thích tại Luật mẫu về Trọng tài Thƣơng mại Quốc tế của
UNCITRAL năm 1985.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “Thương mại” đƣợc sử dụng khá rộng rãi trong đời
sống xã hội và trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật, song cho đến nay chƣa
có định nghĩa chính thức trong LTM. Khoản 2 điều 5 LTM năm 1997 đã định nghĩa
“Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại
của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và
các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện
các chính sách kinh tế - xã hội”.
Tại điều 45 LTM 1997 thì hành vi thƣơng mại gồm 14 hành vi: Mua bán hàng
hoá; Đại diện cho thƣơng nhân; Môi giới thƣơng mại; Uỷ thác mua bán hàng hoá;
Đại lý mua bán hàng hoá; Gia công trong thƣơng mại; Đấu giá hàng hoá; Đấu thầu

quy định thế nào là hoạt động thƣơng mại nhằm tránh sự mâu thuẫn trong việc thực
hiện các quy định pháp luật về thƣơng mại.
Nhƣ vậy, kinh doanh, thƣơng mại ở Việt Nam đƣợc quy định cụ thể, rõ ràng
trong LDN 2005 và LTM 2005. Mặc dù cần có những vấn đề cần phải bổ sung sửa
đổi do hoạt động kinh tế ngày càng phong phú và đa dạng nhƣng cũng không thể
phủ nhận những thành tựu đã đạt đƣợc trong quá trình áp dụng giải quyết tranh chấp
liên quan đến kinh doanh, thƣơng mại.
1.1.2. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại.
 Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại.
Theo Từ điển Tiếng Việt: Tranh chấp là sự tranh đấu, giằng co khi có ý kiến
bất đồng thƣờng là về quyền lợi giữa hai bên.[42]

11

Dƣới góc độ pháp lý: Tranh chấp đƣợc hiểu là những xung đột, bất đồng về
quyền, quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp
luật. Tranh chấp thƣơng mại hay tranh chấp kinh doanh là thuật ngữ đƣợc sử dụng
khá phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội ở các nƣớc trên thế giới. Thuật ngữ này
mới đƣợc sử dụng rộng rãi và phổ biến ở Việt Nam mấy năm gần đây. Trƣớc đây
trong cơ chế kế hoạch hóa thuật ngữ tranh chấp kinh tế là thuật ngữ quen thuộc đã
ăn sâu vào tiềm thức và tƣ duy pháp lý của ngƣời Việt Nam. Nguyên nhân là trong
thời kỳ đó, chúng ta chịu ảnh hƣởng của Luật học Xô Viết cùng với sự tồn tại của
một ngành luật độc lập là ngành luật kinh tế. Trong thời kì mà hoạt động kinh tế chủ
yếu là kế hoạch hóa tập trung với sự thống trị của khu vực kinh tế nhà nƣớc và kinh
tế tập thể sử dụng mệnh lệnh hành chính thì mọi hoạt động kinh tế chủ yếu do nhà
nƣớc thực hiện và chi phối. Kinh tế tƣ nhân, tƣ bản không có điều kiện phát triển.
Các đơn vị kinh tế đều hoạt động thông qua kế hoạch và sử dụng hợp đồng kinh tế
làm công cụ thực hiện kế hoạch đƣợc giao. Do đó, các tranh chấp kinh tế trong thời
kì kế hoạch hóa tập trung đôi khi đồng nghĩa với tranh chấp hợp đồng kinh tế.
Trong PLTTGQCVAKT ngày 16/3/1994 và Nghị định số 116/NĐ-CP của

thƣơng mại. Tuy nhiên lại đƣa ra các hình thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại.
Khoản 1 điều 29 BLDS năm 2005 đã liệt kê các tranh chấp về tranh chấp
kinh doanh thƣơng mại:
“Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổ
chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, gồm: Mua bán
hàng hóa; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; Ký gửi; Thuê, cho thuê,
thuê mua; Xây dựng; Tư vấn, kỹ thuật; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng
đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng
đường hàng không, đường biên; Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá
khác; Đầu tư, tài chính, ngân hàng; Bảo hiểm; Thăm dò, khai thác”.
Ngoài các định nghĩa trên thì trong Giáo trình Luật Thƣơng mại tập 2 của
trƣờng Đại học Luật Hà Nội có đƣa ra quan điểm về tranh chấp thƣơng mại: Tranh
chấp thƣơng mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ
giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thƣơng mại. [27]

13

Hiện nay, vẫn chƣa có một khái niệm thống nhất hay văn bản pháp lý nào
quy định về tranh chấp kinh doanh thƣơng mại mà nó mới chỉ dừng lại ở vấn đề
quan điểm của một số tác giả trên cơ sở tiếp cận nó thông qua luật nội dung và luật
tố tụng.
Nhƣ vậy, có thể hiểu tranh chấp kinh doanh thƣơng mại là những mâu thuẫn,
bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liên quan
đến lĩnh vực kinh doanh, thƣơng mại và đầu tƣ. Và có thể định nghĩa tranh chấp
kinh doanh thƣơng mại nhƣ sau: “Tranh chấp kinh doanh thương mại là những mâu
thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể phát sinh
trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại”.
 Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh thương mại.
Từ những định nghĩa về tranh chấp kinh doanh thƣơng mại nêu trên, rút ra
đƣợc những đặc điểm cơ bản của tranh chấp kinh doanh thƣơng mại nhƣ sau:

định của một bên, cũng có thể do lỗi của một hoặc các bên nhƣng có chủ định
trƣớc Chính vì thế, việc phát sinh tranh chấp trong hoạt động kinh doanh là điều
tất yếu. Một số nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, do lợi nhuận: Mục đích cuối cùng của hoạt động kinh doanh là lợi
nhuận. Chính vì lợi nhuận mà có những chủ thể đã chấp nhận phá vỡ hợp đồng, vi
phạm hợp đồng và phát sinh tranh chấp.
Thứ hai, do hạn chế kiến thức pháp luật: Không phải bất kỳ nhà đầu tƣ nào
cũng nắm rõ quy định pháp luật, điều này dẫn đến có những thỏa thuận vƣợt quá
quy định của pháp luật.
Thứ ba, do thiếu vắng các quy định của pháp luật: Pháp luật không thể dự trù
tất cả các mâu thuẫn trong quan hệ thƣơng mại có thể xảy ra do hoạt động kinh
doanh hiện nay đa dạng, phức tạp.
1.1.3. Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.
1.1.3.1. Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phổ biến
của các quốc gia.
Trên nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận không trái pháp luật, không trái
đạo đức xã hội để các bên xác lập quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thƣơng mại
thì các bên có quyền lựa chọn các phƣơng thức giải quyết tranh chấp trên cơ sở lợi

15

ích, thái độ, quan điểm cũng nhƣ hệ thống pháp luật và hiệu quả của quá trình tố
tụng của nƣớc mà các bên lựa chọn. Hiện nay, tại Việt Nam và các nƣớc trên thế
giới tồn tại bốn phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại cơ bản gồm: Thƣơng
lƣợng, hòa giải, trọng tài thƣơng mại và tòa án.
 Thương lượng:
Là phƣơng thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên cùng nhau bàn
bạc, thảo luận để tự giải quyết bất đồng. Đây là phƣơng thức đơn giản, không tốn
kém và đảm bảo đƣợc quan hệ kinh doanh giữa các bên.
 b. Hòa giải:

trọng tài viên, hoạt động theo điều lệ tổ chức và các quy tắc tố tụng riêng.
 d. Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án:
Là phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại do cơ quan xét xử nhân
danh quyền lực nhà nƣớc là Tòa án tiến hành theo trình tự thủ tục do pháp luật quy
định. Theo đó, Tòa án nhân danh quyền lực nhà nƣớc ra một bản án bắt buộc các
bên phải chấp hành và đƣợc đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cƣỡng chế của Nhà
nƣớc. Phƣơng thức này đƣợc các bên lựa chọn khi việc áp dụng phƣơng thức
thƣơng lƣợng, hòa giải không có hiệu quả và các bên cũng không thỏa thuận đƣa
tranh chấp ra giải quyết tranh chấp tại trọng tài.
Mỗi phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại trên đều có những ƣu
điểm và nhƣợc điểm nhất định. Lựa chọn phƣơng thức giải quyết tranh chấp nào là
quyền của các bên căn cứ vào tính chất, phạm vi, mức độ và thiện chí của các bên
tranh chấp. Ngoài các phƣơng thức giải quyết tranh chấp phổ biến và đƣợc pháp
luật quy định thì còn có các phƣơng thức giải quyết tranh chấp khác nhƣ hành
chính, tham vấn, hoạt động tƣ vấn.
1.1.3.2. Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại quốc tế và
khu vực.
Giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại luôn là quan tâm hàng đầu của
các nhà kinh doanh. Bởi vậy việc lựa chọn một phƣơng thức giải quyết tranh chấp
hiệu quả luôn là ƣu tiên hàng đầu. Ngoài pháp luật quốc gia có những cơ chế giải
quyết tranh chấp thƣơng mại của mình thì các tổ chức trên thế giới cũng có những
cơ chế giải quyết tranh chấp riêng và đƣợc các quốc gia thành viên sử dụng để giải

17

quyết tranh chấp. Một số cơ chế giải quyết tranh chấp thƣơng mại trên thế giới nhƣ
[38]:
 Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO).
WTO là một tổ chức có quy mô lớn nhất trên thế giới trong lĩnh vực thƣơng

áp dụng bất kỳ biện pháp nào bất kể biện pháp đó có vi phạm quy định của Hiệp
định hay không, hoặc việc tồn tại của bất kì tình huống nào khác gây ra hậu quả nêu
trên. Do vậy, khi một nƣớc thành viên cho rằng nƣớc thành viên khác không thực
hiện nghĩa vụ hoặc cam kết theo Hiệp định thì có thể áp dụng DSU để giải quyết.
Ngoài ra, tranh chấp có thể phát sinh từ một “tình huống” khác hoặc khi một biện
pháp thƣơng mại do một quốc gia thành viên ban hành tuy không vi phạm quy định
của WTO nhƣng gây thiệt hại cho một hoặc nhiều quốc gia thành viên khác.
Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của WTO bao gồm: Hội đồng
giải quyết tranh chấp bao gồm đại diện của tất cả các quốc gia thành viên (Viết tắt
là DSB – Dispute Settlement Body), Các ban hội thẩm (Panel), Cơ quan phúc thẩm
thƣờng trực (SAB), Ban thƣ kí WTO, các trọng tài, các chuyên gia độc lập và một
số tổ chức chuyên môn. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp thƣờng gồm ba bƣớc
chính: tham vấn giữa các bên (Consultation), quá trình xét xử của ban hội thẩm, cơ
quan phúc thẩm và thực thi các phán quyết, bao gồm áp dụng biện pháp trả đũa
trong trƣờng hợp bên thua kiện không thực thi phán quyết.
 Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của ASEAN.
Cơ chế giải quyết tranh chấp thƣơng mại của ASEAN là tổng thể thống nhất
các cơ quan giải quyết tranh chấp, cách thức, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp
và việc thi hành phán quyết giải quyết tranh chấp. Việc giải quyết tranh chấp
thƣơng mại của ASEAN đƣợc thực hiện bằng biện pháp hòa bình, không can thiệp
vào công việc nội bộ của nhau trên cơ sở hợp tác hiệu quả giữa các bên, tôn trọng
nguyên tắc thỏa thuận, kiềm chế không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực khi
có tranh chấp.
Về biện pháp giải quyết tranh chấp, nhìn chung các văn kiện của ASEAN
đều ghi nhận và khuyến khích các bên quyết tâm và có thiện ý ngăn ngừa không để
nảy sinh ra các tranh chấp. Cụ thể:

Trích đoạn Hòa giải tranh chấp kinh doanh thƣơng mại Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong tố tụng Xây dựng pháp luật về hòa giải ngoài tố tụng Xây dựng mô hình cơ quan hòa giải ngoài tố tụng Các giải pháp nâng cao hiệu quả hòa giải ngoài tố tụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status