Bình luận, đánh giá thực trạng tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam
Nguyên nhân và giải pháp hạn chế tranh chấp
[1]
GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải Nhóm 16 – Đêm 4 – K22 NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Nguyên nhân và giải pháp hạn chế tranh chấp
[3]
GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải Nhóm 16 – Đêm 4 – K22 LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới và mở cửa đã có những chuyển biến tích
cực, hợp tác và giao lưu thương mại ngày càng phát triển. Nhưng trong bối cảnh đó thì các
quan hệ thương mại ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Các quan hệ này không chỉ được
thiết lập giữa các chủ thể kinh doanh trong nước mà còn mở rộng tới các tổ chức nước ngoài.
Chính vì vậy tranh chấp thương mại là điều không thể tránh khỏi và cần được quan tâm giải
quyết kịp thời.
Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại (KDTM) ngày càng có
những bước đi ổn định và bước đầu khẳng định được vị trí của mình trong việc giải quyết các
tranh chấp KDTM. Hệ thống pháp luật điều chỉnh củng ngày một hoàn thiện để đáp ứng hoạt
động thực tiễn. Luật thương mại được quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, đã đánh dấu rất ý
nghĩa của quá trình hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động thương mại.
Tuy nhiên, Luật thương mại được ban hành 2005 chủ yếu điều chỉnh các quan hệ về
pháp luật nội dung, còn các quy định về luật hình thức không được đề cập nhiều trong các quy
định của văn bản luật này mà phần lớn viện dẫn đến các văn bản của luật khác. Đây là một
khó khăn cho việc giải quyết các tranh chấp trong KDTM.
Thực tế trong thời gian qua, cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về KDTM, các
quy định về trình tự, thủ tục và cách thức tiến hành giải quyết các tranh chấp chủ yếu viện dẫn
đến pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004
(BLTTDS2004) và các văn bản liên quan. Điều đó đòi hỏi việc xây dựng một hệ thống pháp
luật hoàn thiện, đồng bộ và thống nhất trong việc giải quyết các tranh chấp KDTM. Đồng thời
các cơ quan chuyên nghành phải có những hướng dẫn cụ thể trong giải quyết tranh chấp phát
sinh trong KDTM để đảm bảo niềm tin và bình đẳng cho các chủ thể tham gia vào hoạt động
bao gồm các dạng tranh chấp cụ thể như sau:
Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức
có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;
Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức
với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;
Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của
công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp
nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty;
Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định;
Theo pháp luật hiện hành, thuật ngữ " Hoạt động thương mại" có nội hàm rất rộng, bao
gồm mọi hoạt động nhằm mục đích sinh lợi như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư,
xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Hoạt động thương mại có
thể do chủ thể có đăng ký kinh doanh hoặc không có đăng ký kinh doanh tiến hành. Khoản 3
Điều 2 Luật Thương mại 2005 có quy định về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc
lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh.
Trong khi đó, hoạt động "kinh doanh" chỉ có thể được thực hiện (hợp pháp) bởi các chủ
thể có đăng ký kinh doanh, vì theo Luật Doanh nghiệp thuật ngữ này được dùng để chỉ các
Bình luận, đánh giá thực trạng tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam
Nguyên nhân và giải pháp hạn chế tranh chấp
[5]
GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải Nhóm 16 – Đêm 4 – K22 hoạt động có mục đích sinh lợi của doanh nghiệp và của hộ kinh doanh theo quy định của
Chính phủ.
Như vậy, tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
không chỉ là các tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau mà còn
Thứ tư, tranh chấp kinh doanh, thương mại là những tranh chấp mang yếu tố vật chất và
thường có giá trị lớn.
Bình luận, đánh giá thực trạng tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam
Nguyên nhân và giải pháp hạn chế tranh chấp
[6]
GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải Nhóm 16 – Đêm 4 – K22 Tranh chấp kinh doanh, thương mại phản ánh những xung đột về lợi ích kinh tế của các
bên trong một quan hệ kinh tế nhất định. Yếu tố vật chất và lợi ích kinh tế trong nội dung
tranh chấp là đặc điểm riêng giúp phân biệt tranh chấp kinh tế với các loại tranh chấp khác
trong đời sống xã hội. Trong cơ chế thị trường, tranh chấp kinh tế có thể có giá trị tranh chấp
rất lớn, hoặc có liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau. Do vậy, cơ chế giải quyết tranh chấp
phải nhanh, gọn, hiệu quả để bảo vệ kịp thời các quyền lợi kinh tế của các bên liên quan.
Ngược lại, nếu việc giải quyết tranh chấp không triệt để, không dứt điểm sẽ dễ gây ra hậu quả
tổn thất có tính dây chuyền, không chỉ ảnh hưởng bất lợi cho quá trình hoạt động kinh doanh
của chủ thể tranh chấp mà còn tác động xấu đến lợi ích của các đối tượng khác nhau như nhà
đầu tư, người lao động, khách hàng, và làm xáo trộn đời sống kinh tế xã hội nói chung.
3. Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.
3.1. Các phương thức giải quyết tranh chấp.
Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp nói riêng cũng như mọi vấn đề liên
quan đến quá trình giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh nói chung dựa trên nguyên tắc
quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên.
Cơ quan nhà nước và Trọng tài thương mại can thiệp theo yêu cầu của các bên tranh
chấp. Kể cả khi Tòa án hoặc Trọng tài đã can thiệp trong quá trình tố tụng, quyền tự định doạt
biểu hiện bằng những hành vi đơn phương hoặc thoả thuận của các bên luôn được ghi nhận và
tôn trọng. Quyền tự định đoạt của các bên được coi là một nội dung của quyền tự do kinh
họ.
Hoà giải
Hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp KDTM mà trong đó các bên trong đó
các bên trong quá trình thương lượng với nhau có sự tham gia của các bên thứ ba độc lập do
hai bên cung chấp nhận hay chỉ định làm vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên nhằm tìm
kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giai quyết xung đột bất đồng để chấm dứt các tranh
chấp các tranh chấp phát sinh giữa các bên tham gia quan hệ.
Hoà giải là giải pháp mang tính tự nguyện, tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của các bên.
Đặc biệt là bên thứ ba với tính chất trung gian hoà giải phải có vị trí độc lập đối với các
bên. Điều đó thể hiện rõ bên thứ ba không ở vị trí xung đột lợi ích với các bên hoặc
không có những lợi ích gắn liền với lợi ích của một trong các bên trong các vụ việc đang
có tranh chấp. Bên thứ ba tham gia làm trung gian hoà giải thường là những cá nhân, tổ
chức có trình độ chuyên môn cao và có kinh nghiệm về những vụ việc có liên quan đến
các vụ việc phát sinh. Công việc của bên thứ ba là: xem xét, phân tích, đánh giá và đưa
ra những ý kiến, nhận định, bình luận về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ để các bên
tham khảo lựa chọn và quyết định.
Trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức, đó là trọng tài vụ việc và trọng tài
thường trực.
Trọng tài vụ việc: là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thoả thuận thành lập
để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tự chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong
vụ tranh chấp
Trọng tài thường trực: Theo pháp luật Việt Nam trọng tài thường trực dưới dạng các
trung tâm trọng tài. Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con
dấu, có tài khoản riêng và trụ sở giao dịch ổn định.
Bình luận, đánh giá thực trạng tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam
Nguyên nhân và giải pháp hạn chế tranh chấp
Theo Điều 29 Bộ luât tố tung dân sự năm 2004, có bốn nhóm tranh chấp về KDTM
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bao gồm:
1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh
doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm:
a) Mua bán hàng hoá;
b) Cung ứng dịch vụ;
Bình luận, đánh giá thực trạng tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam
Nguyên nhân và giải pháp hạn chế tranh chấp
[9]
GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải Nhóm 16 – Đêm 4 – K22 c) Phân phối;
d) Ký gửi;
e) Thuê; cho thuê, thuê mua;
f) Xây dựng;
g) Tư vấn kỹ thuật;
h) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa;
i) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển;
j) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu, và giấy tờ có giá khác;
k) Đầu tư, tài chính, ngân hàng;
l) Bảo hiểm;
m) Thăm dò, khai thác;
2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức
với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
3. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên công ty
với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sát nhập, hợp nhất, chia tách,
chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
quyền giải quyết.
d. Thẩm quyền xét xử theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Trong thực tế khi xác định thẩm quyền của toà án theo cấp nào và theo lãnh thổ sẽ có
trường hợp có nhiều Toà án cùng có thẩm quyền giải quyết một vụ án. Chính vì vậy để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn khi tiến hành khởi kiện pháp luật còn quy định
nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án để yêu cầu giải quyết vụ án trong trường hợp sau đây:
Nếu tranh chấp phát sinh từ chi nhánh của tổ chức thì nguyên đơn có quyền yêu cầu
Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết.
Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án
nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết.
Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau, thì nguyên đơn có thể yêu
cầu của Toà án một trong các bị đơn cư trú, làm việc có trụ sở giải quyết.
Nếu tranh chấp đến bất động sản mà bất động sản ở nhiều nơi khác nhau,thì nguyên
đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.
Bình luận, đánh giá thực trạng tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam
Nguyên nhân và giải pháp hạn chế tranh chấp
[11]
GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải Nhóm 16 – Đêm 4 – K22 [PHẦN II]
THỰC TRẠNG TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM – BÌNH LUẬN VÀ ĐÁNH GIÁ
II. Thực trạng tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam – Bình luận và
đánh giá.
1. Thực trạng tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam – Bình luận và
đánh giá.
Theo thống kê của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) và ngành Tòa án,
trong năm 2012 trong khi VIAC chỉ tiếp nhận giải quyết 64 vụ tranh chấp thương mại thì Tòa
án phải xử 11995 vụ án kinh tế cấp sơ thẩm, 1023 vụ cấp phúc thẩm và 63 vụ cấp giám đốc
thẩm. Số liệu cho thấy, việc giải quyết các tranh chấp thương mại chủ yếu vẫn thông qua Tòa
án.
Từ năm 1993-2012, các vụ tranh chấp được giải quyết thông qua VIAC có tăng, tuy
nhiên vẫn còn rất khiêm tốn so với ngành Tòa án.
Nguồn: Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (viac.org.vn)
Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao (toaan.gov.vn)
6
13
17
25
24
18
20
23
17
19
16
32
27
36
30
58
48
63
2011
2012
Số vụ tranh chấp TM giải quyết qua VIAC
1978
3783
4748
6574
6879
8418
11995
0
2000
4000
6000
8000
10000
12000
14000
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Số liệu giải quyết Sơ thẩm
các vụ án Kinh tế qua các năm
Bình luận, đánh giá thực trạng tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam
Nguyên nhân và giải pháp hạn chế tranh chấp
[13]
GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải Nhóm 16 – Đêm 4 – K22
[14]
GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải Nhóm 16 – Đêm 4 – K22
Nguồn: Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam (chongbanphagia.vn)
Nguy cơ bị khởi kiện ở hầu hết các mặt hàng lớn như: thủy sản có cá tra, cá ba sa, tôm;
công nghiệp có giày da, xe đạp, đèn huỳnh quang Mặc dù vậy, nhiều DN ngành hàng trong
nước vẫn chưa chú trọng nhiều tới việc tìm hiểu luật pháp quốc tế và các vụ tranh chấp thương
mại và thường bị động trước các vụ kiện.
Thực tiễn cho thấy, đa số phán quyết trong các vụ kiện quốc tế liên quan đến DN Việt
Nam gần đây thường có nhiều bất lợi cho phía các DN Việt Nam, tiêu biểu như vụ kiện chống
bán phá giá cá da trơn, giày da, phụ tùng xe đạp hay các vụ việc tranh chấp thương hiệu
Nguyên nhân là do DN Việt Nam chưa nắm vững, thậm chí xa lạ với hệ thống cơ quan xét xử,
thủ tục tố tụng, pháp luật áp dụng, cũng như khác biệt về văn hóa pháp lý và rào cản ngôn
ngữ.
2. Một số vụ án tranh chấp điển hình.
Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng thủy sản:
Bản án số 141/2008/ST-KDTM ngày 25/01/2008 Về việc tranh chấp hợp đồng
mua bán
Ngày 25 tháng 01 năm 2008, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, theo “
Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 559 ngày 10 tháng 1 năm 2008, mở phiên toà công khai
xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán”, giữa :
Nguyên đơn : CÔNG TY TNHH KINH DOANH CHẾ BIẾN THỦY SẢN VÀ XNK
QUỐC VIỆT (Cty Quốc Việt)
2
3
4
5
2
QUỐC VIỆT (sau đây gọi tắt là Cty Quốc Việt) trình bày yêu cầu và giao nộp các tài liệu
chứng cứ sau:
Ngày 10/5/2005, Cty Quốc Việt ký hợp đồng số 16/IBBXNKTH và 18/IBBXNKTH
với CÔNG TY IN BAO BÌ XNK TỔNG HỢP (gọi tắt là công ty Paprimex), bán hàng thủy
sản đông lạnh, trị giá toàn bộ hai hợp đồng là: 164.173.307 đồng. Công ty Quốc Việt giao đủ
hàng. Công ty Paprimex đã trả được 50.000.000 đồng, còn nợ lại là 114.173.307 đồng. Ngày
6/4/2007, hai bên có lập “Bản đối chiếu công nợ” xác nhận số tiền còn nợ là 114.173.307
đồng. Nay Công ty Quốc Việt khởi kiện Paprimex tại Tòa án yêu cầu: Công ty Paprimex phải
trả 148.288.291 đồng gồm
- Nợ gốc là: 114.173.307 đồng;
- Lãi phát sinh do chậm trả tạm tính từ 1/8/2005 đến 1/8/2007 là: 114.173.307 đồng x
0,83% x 150% x 24 tháng = 34.114.984 đồng.
- Thời hạn trả ngay khi bản án có hiệu lực
Bị đơn – Cty Paprimex trình bày: Xác nhận nội dung hợp đồng số 16/IBBXNKTH và
18/IBBXNKTH và việc thực hiện hợp đồng với Cty Quốc Việt đúng như Cty Quốc Việt trình
bày. Đến nay, Cty Paprimex còn nợ Cty Quốc Việt tiền hàng là 114.173.307 đồng. Do Cty
Paprimex hiện còn nhiều khó khăn, nên đề nghị Cty Quốc Việt giảm nợ 15.000.000 đồng và
không đồng ý trả lãi, thời hạn trả từ 5/12/2007 đến 30/1/2008. Nay tại phiên tòa, công ty
Paprimex đề nghị được trả vốn là 114.173.307 đồng, không phải trả lãi, trả chậm nhiều đợt từ
khi án có hiệu lực, mỗi tháng trả 10.000.000 đồng.
Công ty Quốc Việt không đồng ý đề nghị của công ty Paprimex.
- Sau khi thẩm tra các yêu cầu của đương sự và xem xét chứng cứ tại phiên tòa;
- Sau khi HĐXX thảo luận và nghị án;
Bình luận, đánh giá thực trạng tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam
Nguyên nhân và giải pháp hạn chế tranh chấp
[16]
GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải Nhóm 16 – Đêm 4 – K22
Bình luận, đánh giá thực trạng tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam
Nguyên nhân và giải pháp hạn chế tranh chấp
[17]
GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải Nhóm 16 – Đêm 4 – K22 QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng Điều 29, Điều 243, 245 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004;
- Áp dụng Điều 233 Luật TM 1997; Điều 305 Luật dân sự 2005
- Áp dụng khỏan 2 Điều 15, Điều 19 - Nghị Định số 70/CP, ngày 12/6/1997 của Chính Phủ
qui định về lệ phí, án phí tòa án
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của CÔNG TY TNHH KINH DOANH CHẾ BIẾN
THỦY SẢN VÀ XNK QUỐC VIỆT
Buộc CÔNG TY CP IN BAO BÌ XNK TỔNG HỢP phải trả ngay cho CÔNG TY
TNHH KINH DOANH CHẾ BIẾN THỦY SẢN VÀ XNK QUỐC VIỆT số tiền
là 148.288.291 đồng.
Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, CÔNG TY TNHH KINH DOANH CHẾ BIẾN
THỦY SẢN VÀ XNK QUỐC VIỆT có đơn yêu cầu thi hành án CÔNG TY CP IN BAO BÌ
XNK TỔNG HỢP chưa trả xong khỏan tiền trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả
theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại
thời điểm thanh tóan.
Án phí dân sự sơ thẩm CÔNG TY CP IN BAO BÌ XNK TỔNG HỢP phải nộp là
6.931.000 đồng;
CÔNG TY TNHH KINH DOANH CHẾ BIẾN THỦY SẢN VÀ XNK QUỐC VIỆT
không phải nộp; hòan lại tiền tạm ứng án phí cho Công ty TNHH KD CB TS và XNK Quốc
ty Điện máy- Xe đạp xe máy vay 8 khế ước để Công ty thanh toán theo L/C nhập khẩu hàng
hoá. Cụ thể:
1.1 Khế ước số 62/95 được hai bên ký ngày 16.9.1995. Số tiền vay 311.270 USD, thời hạn vay
4 tháng kể từ ngày thanh toán L/C (18.9.1995), 1.2 Khế ước số 77/95 ký ngày 6.12.1995. Số
tiền vay 43.763,48 USD, thời hạn vay 6 tháng kể từ ngày thanh toán L/C (20.3.1996)
1.3 Khế ước số 05/96 ngày 14.2.1996. Số tiền vay 140.179,76 USD, thời hạn vay 01 tháng kể
từ ngày thanh toán L/C (29.6.1996)
1.4 Khế ước số 14/96 ngày 15.3.1996. Số tiền vay 427.500 USD, thời hạn vay 03 tháng kể từ
ngày 26.3.1996.
1.5 Khế ước số 16/96 ngày 18.3.1996. Số tiền vay 38.283,53 USD, thời hạn vay 3 tháng. Khế
ước này Ngân hàng giải ngân theo 2 đợt. Đợt 1 ngày 17.7.1996 với số tiền là 18.923,86 USD
và đợt 2 ngày 30.7.1996 ngân hàng giải ngân số tiền còn lại là 19.359,67 USD.
1.6 Khế ước số 18/96 ngày 8.4.1996. Số tiền vay 42.468,92 USD, thời hạn vay 01 tháng kể từ
ngày nhận nợ 25.7.1996
1.7 Khế ước số 23/96 ngày 26.4.1996. Số tiền vay 27.761,95 USD, thời hạn vay 02 tháng kể từ
ngày 5.6.1996
1.8 Khế ước số 24/96 ngày 2.5.1996. Số tiền vay 58.728 USD, thời hạn vay 3 tháng kể từ ngày
20.6.1996.
2/ Toàn bộ 8 khế ước nêu trên, hai bên thoả thuận mức lãi suất Ngân hàng Công thương Việt
Nam cho Công ty Điện máy xe đạp xe máy vay là 9,5%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi
suất trong hạn.
3/ Quá trình thực hiện, do Công ty Điện máy xe đạp xe máy gặp nhiều khó khăn trong hoạt
động sản xuất kinh doanh nên đã không trả được số nợ cho Ngân hàng như đã cam kết.
4/ Theo biên bản đối chiếu công nợ được hai bên ký ngày 10.1.2007, Công ty điện máy xe đạp
xe máy xác nhận tính đến ngày 31.12.2006 Công ty còn nợ Ngân hàng công thương Việt nam
số tiền gốc của 8 khế ước trên là 742.000 USD và tiền lãi trong hạn là 655.580,07 USD; tiền
lãi quá hạn là 73.268,48 USD.
5/ Ngày 29.3.2007 Ngân hàng Công thương Việt Nam có đơn khởi kiện đề nghị Toà án buộc
Công ty Điện máy xe đạp xe máy phải trả:
Bình luận, đánh giá thực trạng tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam
quý. Mỗi kỳ trả 23.000 USD
1.3 Năm 2009 phải trả 112.000 USD (Một trăm mười hai nghìn đô la Mĩ) được chia làm 4 kỳ
theo quý. Mỗi kỳ trả 28.000 USD.
1.4 Năm 2010 phải trả 112.000 USD (Một trăm mười hai nghìn đô la Mĩ) được chia làm 4 kỳ
theo quý. Mỗi kỳ trả 28.000 USD.
1.5 Năm 2011 phải trả 112.000 USD (Một trăm mười hai nghìn đô la Mĩ) được chia làm 4 kỳ
theo quý. Mỗi kỳ trả 28.000 USD.
1.6 Năm 2012 phải trả 112.000 USD (Một trăm mười hai nghìn đô la Mĩ) được chia làm 4 kỳ
theo quý. Mỗi kỳ trả 28.000 USD.
1.7 Năm 2013 phải trả 124.000 USD (Một trăm hai mươi tư nghìn đô la Mĩ) được chia làm 4
kỳ theo quý. Mỗi kỳ trả 31.000 USD.
1.8 Thời gian trả cho mỗi kỳ vào ngày 25 hàng tháng của tháng cuối quý. Nếu rơi vào ngày
nghỉ thì sẽ phải trả vào ngày làm việc đầu tiên kế tiếp.
Bình luận, đánh giá thực trạng tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam
Nguyên nhân và giải pháp hạn chế tranh chấp
[20]
GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải Nhóm 16 – Đêm 4 – K22 1.9 Bị đơn có thể thanh toán bằng tiền Việt Nam được quy đổi theo tỷ giá hối đoái của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thanh toán.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng Công thương Việt nam không yêu cầu Công ty Điện
máy xe đạp xe máy phải trả khoản lãi được phát sinh của số tiền nợ gốc nêu trên là 744.430,55
USD.
3. Nếu Công ty Điện máy xe đạp xe máy không thực hiện đúng tiến độ trả nợ tại điểm 1 nêu
trên trong hai kỳ phải trả liên tiếp thì Ngân hàng Công thương Việt nam có quyền gửi đơn yêu
cầu cơ quan thi hành án thực hiện việc thi hành án toàn bộ số tiền còn phải trả, không phụ
thuộc vào tiến độ đã thoả thuận hoặc có quyền yêu cầu tuyên bố phá sản đối với Công ty Điện
[PHẦN III]
NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TRANH CHẤP
III. Nguyên nhân và giải pháp hạn chế tranh chấp.
1. Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp.
Quan hệ thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ thương mại là điều kiện
cần và đủ để tranh chấp thương mại phát sinh. Hoạt động thương mại của doanh nghiệp là hoạt
động thiết lập một mạng lưới các hành vi thương mại, mà mục tiêu của các bên khi tham gia
vào các quan hệ này là lợi nhuận do đó, các bên tuy hợp tác, song vẫn canh tranh nhau để thu
về được lợi ích nhiều nhất. Vì thế sẽ không tránh khỏi những mâu thuẫn bất đồng trong việc
giải thích về quyền và nghĩa vụ, cũng như quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ đó của các
bên, đó chính là nguyên nhân chính yếu dẫn đến tranh chấp thương mại.
Tranh chấp thương mại nảy sinh khi phát sinh thiệt hại về vật chất đối với hai bên mà
hai bên không có sự thoả thuận thông nhất một cách giải quyết có lợi nhất cho cả hai bên.
Nhất là khi những khó khăn từ nền kinh tế thế giới hiện nay và thực trạng “sức khỏe” kinh tế
trong nước đã tác động ảnh hưởng tới hệ thống doanh nghiệp, sức mua tiêu dùng của xã hội, từ
đó đưa ra những cảnh báo về nguy cơ phát sinh những tranh chấp, cũng như chỉ ra các dạng
tranh chấp giữa các quốc gia với quốc gia, giữa quốc gia với doanh nghiệp (kiện thương mại
quốc tế, kiện giữa nhà đầu tư với quốc gia nhận đầu tư, các vụ kiện hành chính ), giữa doanh
nghiệp với doanh nghiệp đã và sẽ có khả năng xảy ra trên thực tế.
Bên cạnh đó, tình trạng các dự án bị hủy bỏ, đình hoãn, rút giấy phép… sẽ xảy ra nhiều
yếu tố liên quan đến việc xử lý đất đã giao, đã cấp cho các dự án đồng thời phát sinh vấn đề
giữa chính quyền địa phương với nhà đầu tư, nhà đầu tư với người nông dân… Chưa kể, một
số dự án rơi vào trường hợp đã chuyển nhượng cho nhà đầu đầu tư khác (hoặc nhà đầu tư thứ
cấp) những vấn đề phát sinh còn phức tạp hơn nhiều.
Đối với những doanh nghiệp FDI phá sản, đóng cửa… chủ sở hữu và người quản lý bỏ
về nước, sẽ xuất hiện phát sinh tranh chấp giữa người lao động và chủ nợ, cùng các bên liên
quan. Thậm chí là thị trường xuất khẩu, nhiều hoạt động thương mại tiểu ngạch qua biên giới
thiếu minh bạch, rõ ràng nên ẩn chứa nhiều rủi ro đối với thương nhân Việt Nam. Tình hình
kinh tế khó khăn hiện nay, nảy sinh số nguy cơ phát sinh tranh chấp từ hoạt động vay nợ tín
dụng giữa doanh nghiệp với ngân hàng, cá nhân. Thêm vào đó, tình trạng chiếm dụng vốn, nợ
Tranh chấp kinh doanh, thương mại xuất hiện bởi nhiều lý do khác nhau, cả những
nguyên nhân chủ quan và khách quan. Chính vì những lý do đa dạng này mà việc xảy ra tranh
chấp giữa các nhà kinh doanh là tất yếu. Vì vậy, việc nghiên cứu, đề ra các giải pháp hạn chế
tranh chấp là vấn đề cấp thiết. Các giải pháp hạn chế tranh chấp kinh doanh, thương mại ở
Việt Nam:
Thận trọng khi đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng:
Hợp đồng là cơ sở để xác định quyền hạn và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết. Nó
cũng là cơ sở pháp lý để trọng tài, tòa án hay bất kỳ một cơ quan giải quyết tranh chấp nào tiến
hành xác định lỗi của mỗi bên, cũng như thiệt hại và mức bồi thường tương ứng. Nội dung
hợp đồng không chặt chẽ sẽ tiềm ẩn nguy cơ bị vi phạm và khi bị vi phạm thì không bảo vệ
được quyền lợi của bên vi phạm, không biết cách xử lý khi có hành vi vi phạm xảy ra. Chính
vì thế những điều khoản trong hợp đồng quy định càng chặt chẽ, rõ ràng, chính xác sẽ hạn chế
được các tranh chấp. Cần xây dựng chế tài và các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng như
Bình luận, đánh giá thực trạng tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam
Nguyên nhân và giải pháp hạn chế tranh chấp
[23]
GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải Nhóm 16 – Đêm 4 – K22 bảo lãnh, đặt cọc, ký cược, thế chấp ; đánh giá và loại bỏ các căn cứ mà đối tác có thể thoái
thác nghĩa vụ hợp đồng. Biện pháp lồng ghép các điều khoản “phòng ngừa” trong hợp đồng
giúp hạn chế rủi ro cho chủ thể kinh tế. Tuy nhiên, việc đưa vào hợp đồng các điều khoản này
sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của một bên. Các chủ thể kinh kế khi tham gia vào những quan hệ
thương mại mà họ cho là có lợi, có thể là lợi ích vật chất hoặc phi vật chất và khi mà mục đích
có nguy cơ không đạt được cũng sẽ làm phát sinh tranh chấp. Trong quan hệ thương mại,
quyền lợi của bên này cũng tương ứng với một nghĩa vụ của bên kia, điều đó khiến cho xung
đột lợi ích sẽ phát sinh nếu các bên không đi đến một thoả thuận thống nhất dung hoà được
quyền lợi và nghĩa vụ của họ. Đảm bảo nguyền tắc cùng có lợi trong quan hệ thương mại. Do
Nghiên cứu và nắm chắc, nâng cao trình độ vận dụng các quy định của pháp
luật trong kinh doanh:
Một trong những yêu cầu của nhà kinh doanh là nắm vững quy định pháp luật, chính
sách liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình, các luật bất thành văn trong hoạt động
thương mại. Đây là điều kiện đầu tiên để giảm thiểu các rủi ro trong kinh doanh thương mại.
Thực tế cho thấy nhiều tranh chấp phát sinh do chủ thể kinh tế không hiểu biết rõ quy định của
pháp luật, thiếu nền tảng pháp lý và do không làm đúng pháp luật nên phải tự gánh chịu thiệt
hại. Là một nhà kinh doanh không cần phải hiểu luật sâu như các luật gia song ít nhất cũng là
những vấn đề liên quan đến lĩnh vực hoạt động của mình. Trong kinh doanh, hiểu biết luật và
những quy định pháp luật có liên quan đến phạm vi hoạt động của doanh nghiệp, giúp doanh
nghiệp sẵn sàng đối mặt với sự cố phát sinh trong kinh doanh là tự tạo cho mình khả năng bảo
vệ và tránh những tổn thất không đáng có khi đối tác lợi dụng sự không thông thạo pháp luật
của mình kiếm lợi.
Nắm vững những quy định luật pháp liên quan đến phạm vi hoạt động là một trong
những chìa khóa để vận hành thành công một doanh nghiệp. Do đó, trong các văn bản giao
dịch cũng như mọi hoạt động của doanh nghiệp cần có sự cố vấn của luật sư hay một công ty
luật để tránh những tranh chấp không cần thiết có thể xảy ra. Doanh nghiệp Việt Nam nên tạo
thói quen sử dụng các dịch vụ pháp lý để hạn chế các rủi ro tranh chấp có thể xảy ra.
Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động kinh doanh thương mại:
Pháp luật về kinh doanh thương mại đang cần sự thống nhất, đồng bộ để điều chỉnh các
quan hệ trong kinh doanh thương mại sao cho được minh bạch, thuận lợi cho các chủ thể tham
gia. Pháp luật còn những khoản trống không thể bao quát được hết các quan hệ kinh tế. Những
khoản trống này cần được lấp đầy để tạo hành lang pháp lý, cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Hoàn thiện hệ thống chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, thường xuyên cập nhật
thông tin để có sự điều chỉnh phù hợp với các thông lệ, tập quán quốc tế; bổ sung các quy định
về chế tài đối với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại và các cơ quan
liên quan, trong đó quy định rõ cơ chế phối hợp trong việc giải quyết vụ việc giữa các bên.
Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của kinh doanh thương mại theo hướng đồng