Lời mở đầu
Trong nền kinh tế, nhu cầu về vốn đầu tư và các nguồn liên tiết kiệm có thể phát sinh từ
những chủ thể khác nhau. Những người có cơ hội sinh lời thì thiếu vốn, trái lại những người có vốn
nhàn rỗi thì lại không có cơ hội đầu tư. Vì vậy, cần phải có một cơ chế chuyển vốn từ những nơi có vốn
dư thừa đến những nơi đang cần vốn. Việc đi vay, cho vay và góp vốn này được thực hiện qua các
trung gian tài chính như: ngân hàng, các tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và cho vay, các công ty bảo
hiểm hay các tổ chức trung gian đầu tư…các trung gian tài chính đều đóng vai trò cầu nối giữa hai bên
đi vay và cho vay, cầu nối giữa công ty và nhà đầu tư. Do đó, chức năng của những tổ chức này rất
quan trọng trong hoạt động của nền kinh tế. Trong các loại hình tổ chức trung gian tài chính thì Ngân
hang thương mại có hoạt động gần gũi nhất với người dân và thị trường tài chính. Mọi công dân đều
chịu tác động của ngân hàng, dù họ là khách hàng gửi tiền, một người vay hay đơn giản là người đang
làm việc cho một doanh nghiệp có vay vốn và sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Cũng giống như các tổ
chức tài chính khác, ngân hàng thương mại luôn phải kinh doanh bằng tiền của người khác và chính
điều ấy, ất kỳ một sự sụp đổ nào của bất kỳ một ngân hàng thương mại nào, thông thường nếu không
có những biện pháp xử lí thông minh và khéo léo đều có thể lây lan, mà hậu quả là sự sụp đổ của hàng
loạt ngân hàng gây thiệt hại lớn.
Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính có giới hạn hoạt động rộng lớn và đa dạng (với
chức năng cơ bản liên quan đến), là doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng đối
với tất cả các chủ thể kinh tế. Với chức năng và dịch vụ trên, ngân hàng trở thành” cửa hàng bách hóa
tổng hợp các hoạt động tài chính”. Để tồn tại và phát triển, các ngân hàng thương mại phải không
ngừng hoàn thiện hoạt động kinh doanh của mình, nâng cao chất lượng quản trị nhằm đạt mục đích
cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận
1
MỤC LỤC
Chương I: SƠ LƯỢC VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I.Khái niệm và bản chất của ngân hàng thương mại
1.Khái niệm……………………………………………………………………………………Tr5.
2.Bản chất………………………………………………………………………………...........Tr5.
II.Phân loại ngân hàng thương mại…………………………………………………………..Tr5.
III.Mô hình hoạt động của ngân hàng thương mại………………………………….............Tr6.
IV.Chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại
-Ngân hàng cổ phần: là loại hình ngân hàng được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó
các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế xã hội và các cá nhân cùng góp vốn kinh
doanh.
-Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của hai hay nhiều bên. Ở Việt
Nam, loại hình này thường được thực hiện giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài để tận
dụng các ưu thế của nhau.
2. Dựa vào chiến lược kinh doanh:
-Ngân hàng bán buôn: là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng tập
đoàn, công ty chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân.
-Ngân hàng bán lẻ: là loại ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng cá
nhân.
-Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: là loại ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả khách
hàng công ty và khách hàng cá nhân. Hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam đều thuộc loại hình
ngân hàng này.
3
III.Mô hình hoạt động của ngân hàng thương mại:
Tùy từng nước, tùy từng thời kỳ, mô hình hoạt động của ngân hàng thương mại có thể áp dụng khác
nhau. Có 3 mô hình hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại: ngân hàng chuyên doanh, ngân hàng
kinh doanh tổng hợp, ngân hàng đa năng.
-Ngân hàng chuyên doanh là những ngân hàng chỉ chuyên hoạt động trong một lĩnh vực nhất định
như: ngân hàng công nghiệp, ngân hàng nông thôn, ngân hàng đô thị…
-Ngân hàng kinh doanh tổng hợp là những ngân hàng có thể thực hiện đồng thời nhiều loại nghiệp vụ
truyền thống và trong nhiều lĩnh vực. Thực chất, ngân hàng kinh doanh tổng hợp là ngân hàng làm
nhiệm vụ tổng hợp của nhiều ngân hàng chuyên doanh,
-Ngân hàng đa năng: ngoài việc thực hiện các nghiệp vụ như ngân hàng kinh doanh tổng hợp, còn
được thực hiện các nghiệp vụ của ngân hàng hiện đại như:nghiệp vụ kinh doanh và làm các dịch vụ về
chứng khoán, nghiệp vụ bảo hiểm
III.Chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại:
1.Chức năng của ngân hành thương:
a.Chức năng trung gian tín dụng:
hàng Nhà nước. Bản thân các ngân hàng thương mại trong quá trình thực hiện các chức năng của mình
vẫn có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của
khách hàng tại ngân hàng thương mại. Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong
các giao dịch.
-Từ khoản tích trữ ban đầu, thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản, hệ thống ngân hàng
thương mại có khả năng tạo nên số tiền gửi (tức tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban
đầu. Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi. Hệ số này đến lượt nó chịu tác động
bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh
toán của.
- Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của Ngân hàng thương mại là
chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử
dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng
hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi
là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức
năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế,
đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Rõ ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ
là tiền giấy do NHTW phát hành mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các
ngân hàng thương mại tạo ra. Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu
thông tiền tệ. Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền
của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lương tiền cung ứng.
2.Vai trò của ngân hàng thương mại:
- NHTM giúp cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư mở rộ ng sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu
quả kinh doanh.
- Các ngân hàng thương mại một mặt góp phần hình thành, duy trì và phát triển nền kinh tế theo
một cơ cấu ngành và khu vực nhất định. Mặt khác, các NHTM góp phần điều chỉnh ngành, khu
vực khi xuất hiện sự phát triển mất cân đối hoặc khi cần có sự thay đổi cho phù hợp với yêu cầu
của thị trường. NHTM tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW.
5