MỤC LỤC
Chương I : Những khái niệm cơ bản về nhượng quyền thương mại
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
1.1. Khái niệm về nhượng quyền thương mại
1.2. Những yếu tố cấu thành của mô hình nhượng quyền thương mại
1.2.1. Nhãn hiệu (the Brand)
1.2.2 Hệ thống kinh doanh (Business system)
1.2.3. Phí nhượng quyền (Fees)
1.3. Những hình thức nhượng quyền thương mại điển hình
1.3.1. Nhượng quyền phân phối sản phẩm (Product distribution franchise)
1.3.2. Nhượng quyền phương thức kinh doanh (Business format franchise)
1.4. Một số mô hình nhượng quyền thương mại điển hình
1.4.1.Nhượng quyền đơn vị (Unit franchising)
1.4.2. Nhượng quyền phát triển vùng (Area development franchising)
1.4.3 Nhượng quyền lại hay nhượng quyền thứ cấp (Subfranchising)
1.4.4 Nhượng quyền thông qua công ty liên doanh (Joint venture)
1.5. Những lợi ích và rủi ro của hoạt động nhượng quyền thương mại
1.5.1. Những lợi ích từ nhượng quyền thương mại
1.5.2. Những rủi ro trong hoạt động nhượng quyền thương mại.
Chương II: Thực trạng áp dụng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
1. Thực trạng phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
1.1.Thực trạng khuôn khổ pháp lý quản lý hoạt động nhượng quyền thương mại tại
Việt Nam
1.1.1. Các quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
1.1.2. Thực trạng áp dụng pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền
thương mại tại Việt Nam.
1.2. Thực trạng phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
1.2.1. Các hệ thống nhượng quyền mang thương hiệu của Việt Nam
1.2.2. Hệ thống nhượng quyền của các doanh nghiệp nước ngoài
2. Đánh giá về thực trạng phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
2.1. Những kết quả đạt được
nhượng quyền thương mại.
Phương thức kinh doanh này đã được áp dụng trên thế giới từ những năm 50 của thế kỉ
trước và đã mang lại nhiều thành công. Phương thức này cũng được đánh giá là phù hợp với
điều kiện của nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay (cả các doanh nghiệp lớn) còn đang e
ngại trong việc áp dụng phương thức kinh doanh này. Một trong các nguyên nhân là do đây là
phương thức kinh doanh còn mới mẻ với các doanh nghiệp, từ trước tới nay chưa từng có mô
hình nào được áp dụng nên các doanh nghiệp còn thiếu hiểu biết về mô hình này, hệ thống luật
pháp điều chỉnh hoạt động này cũng chưa được hoàn thiện gây khó khăn cho các doanh nghiệp
trong việc áp dụng. Chính vì thế em đã chọn và nghiên cứu đề tài "Một số suy nghĩ về
nhượng quyền kinh doanh ở Việt Nam" với mong muốn đóng góp một số giải pháp nhằm
đẩy mạnh hơn nữa việc áp dụng phương thức kinh doanh này ở Việt Nam.
1
Mục đích nghiên cứu của đề tài
* Làm rõ các vấn đề lý luận về nhượng quyền thương mại
* Nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam nhằm
tìm ra những hạn chế và những nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình áp dụng
nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
* Trên cơ sở những lý luận đã nghiên cứu cùng những hạn chế, nguyên nhân đã rút ra
được, đễ xuất các giải pháp nhằm thúc đấy sự phát triển của nhượng quyền thương mại ở Việt
Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu thực tế áp dụng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện
nay và những giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của nhượng quyền thương mại ở Việt
Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận, đề tài được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng phép duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng kết hợp các phương pháp như: phương
pháp thống kê, phương pháp đối chiếu, so sánh, phương pháp tổng hợp, phân tích,… Các bảng,
biểu, mô hình,… cũng được sử dụng để hỗ trợ cho việc trình bày nội dung nghiên cứu.
1.2.1. Nhãn hiệu (the Brand)
Trong mỗi một hợp đồng nhượng quyền, bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền
được sử dụng nhãn hiệu (trade mark), nhãn mác (service mark - thường được sử dụng để nhận
biết các dịch vụ hơn là hàng hoá, tương đương với nhãn hiệu), biểu tượng hay các hình ảnh
quảng cáo của bên nhượng quyền hay do bên nhượng quyền thực hiện.
Việc sử dụng nhãn hiệu chung của bên nhượng quyền cho phép tất cả các bên tham gia
được hưởng lợi từ các hoạt động quảng cáo hay uy tín của bất cứ một đơn vị nào hoạt động
trong hệ thống bất kể đó là bên nhượng quyền hay bên nhận quyền.
1.2.2. Hệ thống kinh doanh (Business system)
Tất cả các bên tham gia nhượng quyền bao gồm người nhượng quyền và những người
nhận quyền đều tiến hành một phương thức kinh doanh chung. Một hệ thống kinh doanh đòi
hỏi đáp ứng được các yêu cầu như: tiêu chuẩn về hàng hoá, tiêu chuẩn về sản xuất hàng hoá,
tiêu chuẩn về cung ứng dịch vụ, tiêu chuẩn về vị trí, các tiện nghi, về việc dự trữ, về hệ thống
kế toán (sổ sách), kiểm soát hàng tồn kho, các chính sách tiêu thụ, v.v ...Ở một số hệ thống
nhượng quyền, bên nhượng quyền quản lý hầu như toàn bộ các quá trình hoạt động, thậm chí cả
những chi tiết hêt sức nhỏ nhặt. Nhưng cũng có một số hệ thống trong đó bên nhượng quyền
can thiệp ít hơn và dành cho bên nhận quyền sự độc lập tương đối trong công tác điều hành nếu
chúng không liên quan trực tiếp đến những vấn đề quan trọng của hệ thống.
1.2.3. Phí nhượng quyền (Fees)
Trong tất cả các hệ thống nhượng quyền, bên nhận quyền đều phải trả phí cho bên nhận
quyền để được sử dụng nhãn hiệu của bên nhượng quyền và tham gia vào hệ thống của họ. Phí
được chia thành phí ban đầu, phí định kỳ (thường được tính trên tỷ lệ doanh thu hoặc một
khoản phí cố định), phí dịch vụ, phí cấp phép, phí quảng cáo. Các loại phí khác về cung cấp các
dịch vụ cho bên nhận quyền có thể được thoả thuận giữa hai bên.
Ngoài 3 yếu tố trên, phương thức kinh doanh này có đặc điểm cơ bản là bao gồm những
thực thể độc lập. Mỗi người nhận quyền đều tự chịu trách nhiệm về công việc kinh doanh của
mình. Những người nhận quyền đều tự tiến hành hoạt động kinh doanh, có toàn quyền với lợi
nhuận mà họ kiếm được, tự chịu trách nhiệm về việc đóng thuế cho hoạt động kinh doanh cũng
như trả lương cho công nhân, nhân viên của họ. Họ chỉ nhất thiết phải trả một khoản phí cho
người nhượng quyền bất kể công việc kinh doanh có lãi hay không.
marketing, đưa ra các tiêu chuẩn về điều hành, về hệ thống kinh doanh, hỗ trợ việc quản lý và
điều hành công việc kinh doanh, đào tạo đội ngũ công nhân viên, kiểm soát chất lượng, hướng
dẫn và giám sát các hoạt động,… Đổi lại, bên nhận quyền phải trả một khoản phí cho bên
nhượng, có thể là một khoản phí trọn gói, có thể là phí định kỳ dựa trên doanh thu hoặc một
khoản cố định, và cũng có thể tổng hợp cả hai khoản phí trên. Khoản phí phải trả cao hay thấp
là tuỳ thuộc vào uy tín thương hiệu, chủ trương của bên nhượng quyền cũng như sự thoả thuận
giữa hai bên. Ví dụ: tại Mỹ, đối với ngành kinh doanh nhà hàng ăn uống, phí nhượng quyền dao
động trung bình từ 15.000 – 35.000 USD.
Đây là hình thức nhượng quyền thương mại phổ biến nhất, phát triển nhanh nhất và hiệu
quả nhất hiện nay. Trên thực tế, nó được áp dụng trong hầu hết các ngành nghề trong nền kinh
tế. Nó có nhiều hệ thống nhượng quyền hơn, nhiều cơ sở nhượng quyền hơn, tạo ra nhiều việc
làm và nhiều cơ hội hơn hình thức nhượng quyền phân phối sản phẩm.
5
1.4. Một số mô hình nhượng quyền thương mại điển hình
Để mở rộng mạng lưới nhượng quyền của mình, các nhà nhượng quyền thường sử dụng
một vài mô hình nhượng quyền khác nhau. Có 4 mô hình nhượng quyền thương mại thường
gặp là: nhượng quyền đơn vị, nhượng quyền phát triển vùng, nhượng quyền lại hay nhượng
quyền thứ cấp, nhượng quyền thông qua công ty liên doanh.
1.4.1. Nhượng quyền đơn vị (Unit franchising)
Đây là hình thức nhượng quyền cơ bản nhất. ở hình thức này, người nhượng quyền cho
phép người nhận quyền chỉ được mở một cơ sở kinh doanh ở một vị trí hay trong một khu vực
nhất định. Mối quan hệ trong hình thức này chỉ bao gồm hai chủ thể đó là người nhượng quyền
và người nhận quyền.
Hình thức này chỉ thích hợp với những bên nhượng quyền không có nhu cầu phải mở
rộng mạng lưới nhượng quyền của mình thật lớn hay việc nhượng quyền ra các nước khác nằm
trong cùng một khu vực.
1.4.2. Nhượng quyền phát triển vùng (Area development franchising)
Ở hình thức này, người nhượng quyền cho phép người nhượng quyền (còn được gọi là
người phát triển vùng) được mở một số lượng nhất định theo thoả thuận các cơ sở kinh doanh
trong một vùng lãnh thổ nhất định. Bên nhận quyền không được phép bán lại franchise cho bất
sẽ xem như bế tắc. Trong nhiều trường hợp, chủ thương hiệu góp vốn liên doanh bằng chính
thương hiệu, bí quyết kinh doanh và đôi khi thêm tiền mặt và được qui ra tỷ lệ phần trăm vốn
góp tuỳ thoả thuận giữa hai bên. Đối tác nước ngoài thường góp vốn bằng tiền mặt và kiến thức
địa phương. Đây là mô hình nhượng quyền mà chủ thương hiệu không mấy ưu tiên do phải
chấp nhận rủi ro về mặt tài chính một khi liên doanh thất bại. Do đó mô hình này thường chỉ
được áp dụng trong trường hợp chủ thương hiệu muốn xâm nhập vào một thị trường nào đó mà
không có đối tác mua quyền thương mại thuần tuý.
Ngoài các mô hình nhượng quyền thương mại điển hình trên ta còn có thể gặp một số mô
hình nhượng quyền khác như: nhượng quyền chuyển hoá (Affiliatiion hay Conversion
franchising), nhượng quyền kiểu mới (Nontraditonal franchising),…
1.5. Những lợi ích và rủi ro của hoạt động nhượng quyền thương mại
1.5.1. Những lợi ích từ nhượng quyền thương mại.
Đối với bên nhượng quyền:
Đối với bên nhượng quyền, việc nhượng quyền thương mại đem lại những lợi ích chủ yếu
sau:
Nhân rộng mô hình kinh doanh.
Tăng doanh thu.
Phí nhượng quyền ban đầu (Initial fee/Upfront fee):
Phí định kỳ (Royalty, thường được tính theo tháng, khi đó còn
được gọi là Monthly fee): Đây là phí mà bên nhận quyền phải trả cho việcduy trì sử dụng nhãn
hiệu, thương hiệu của bên nhượng quyền và những dịch vụ mang tính chất tiếp diễn liên tục
như đào tạo huấn luyện nhân viên, tiếp thị, quảng bá, nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới,…
Bán các nguyên liệu đặc thù:
Tiết giảm chi phí.
Các doanh nghiệp có áp dụng phương thức nhượng quyền kinh doanh đều có ưu thế mua
hàng giá rẻ hơn do mua với số lượng lớn hơn (để phân phối cho các cửa hàng nhượng quyền
trong một số trường hợp). Ngoài ra, các chi phí về tiếp thị, quảng cáo cũng được tiết giảm nhờ
ưu thế có thể chia nhỏ ra cho nhiều đơn vị cùng mang một nhãn hiệu chia sẻ với nhau thông
qua phí định kỳ của các bên nhận quyền.
Thuận lợi trong việc huy động vốn.
Để đảm bảo tính đồng bộ, bên nhượng quyền thường chỉ định các bên nhận quyền mua
hàng của một nhà cung cấp. Như vậy, với lợi thể mua với số lượng lớn, họ thường được mua
hàng với giá thấp hơn những doanh nghiệp mua hàng riêng lẻ khác. Đây có thể là một lý do để
các cơ sở nhận quyền có được lợi nhuận ban đầu vốn rất cần thiết để phát triển kinh doanh.
Ngoài ra, nhượng quyền kinh doanh cũng mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và nền
kinh tế. Cụ thể:
* Đối với nền kinh tế – xã hội.
Hoạt động nhượng quyền kinh doanh khuyến khích hoạt động của doanh nhân; nâng cao
tính cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ; khuyến khích việc đa dạng hóa và phục vụ các phân
đoạn thị trường; thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ và kỹ thuật được thực hiện một cách gọn
nhẹ, nhanh chóng và thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế.
* Đối với người tiêu dùng.
8
Nhượng quyền kinh doanh giúp người tiêu dùng có khả năng lựa chọn lớn nhất, sự tin
tưởng và sự thuận tiện đối với hàng hoá, dịch vụ; chất lượng hàng hoá cũng như giá cả của
cùng một loại hàng hoá, dịch vụ đồng nhất, tiện lợi, làm giảm sự rủi ro và tính không ổn định
cho người tiêu dùng khi mua hàng.
1.5.2. Những rủi ro trong hoạt động nhượng quyền thương mại.
Mô hình kinh doanh của bên nhượng quyền không phải lúc nào cũng thành công
Sự thành công của chủ thương hiệu đạt được trong những điều kiện nhất định về thời
điểm, không gian cụ thể,… Không có sự bảo đảm chắc chắn rằng mô hình kinh doanh của họ sẽ
luôn thành công ở bất cứ nơi đâu, vào bất cứ thời điểm nào. Những tiêu chuẩn mà bên nhượng
quyền đưa ra đối với bên nhận quyền chủ yếu dựa trên những kinh nghiệm trong việc điều hành
kinh doanh của bản thân khi hoạt động tại những địa điểm, những thị trường nhất định. Có thể
những kinh nghiệm này cũng đúng với địa phương hay thị trường hoạt động của bên nhận
quyền mà cũng có thể không. Thông thường, bên nhượng quyền sẽ tiến hành điều tra khu vực
và thị trường của bên nhận quyền để điều chỉnh cho mô hình kinh doanh trở nên phù hợp hơn,
và có thể chấp nhận một vài sự thay đổi trong cách thức điều hành. Nhưng về cơ bản là không
khác nhiều so với mô hình của bên nhượng quyền và không phải lúc nào việc điều chỉnh cũng
thành công. Và phải luôn ghi nhớ lời cảnh báo của ngành công nghiệp chứng khoán: “sự thành
Nói như thế không có nghĩa là bên nhận quyền không thể có bất cứ sự thay đổi nào, hay
không thể ghi dấu ấn cá nhân lên công việc kinh doanh của mình. Hầu hết những nhà nhượng
quyền khuyến khích các đối tác nhượng quyền của họ có những cống hiến cho sự phát triển của
cả hệ thống miễn là nó không vi phạm các nguyên tắc mà bên nhượng quyền đã đề ra.
Các chính sách của bên nhượng quyền có thể ảnh hưởng tới lợi nhuận của
bên nhận quyền.
Một hợp đồng nhượng quyền điển hình thường cho phép bên nhượng quyền có quyền
kiểm soát rất nhiều lĩnh vực trong cách điều hành của bên nhận quyền. Bên nhượng quyền có
thể qui định số giờ hoạt động tối thiểu của bên nhận quyền, số lượng nhân viên tối thiểu tại bất
cứ thời điểm nào, khối lượng vật tư hàng hoá mà bên nhận quyền phải dự trữ, phải nhập hàng
từ nguồn nào và đôi khi cả giá bán tối đa,… Bên nhượng quyền có thể cung cấp hàng hoá, dịch
vụ cạnh tranh với bên nhận quyền thông qua thương mại điện tử, bên nhượng quyền cũng có
thể yêu cầu bên nhận quyền cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho một chủ thể nào đó với giá và điều
kiện ít có lợi hơn họ thường được hưởng. Sở dĩ như vậy là do bên nhượng quyền thì chú trọng
vào việc tăng doanh thu của bên nhận quyền từ đó tăng khoản thu từ phí định kỳ, trong khi bên
nhận quyền thì chú trọng vào việc tăng lợi nhuận mà đôi khi việc này không đi kèm với việc
tăng doanh thu.
Khó chuyển nhượng cơ sở kinh doanh
Trong các bản hợp đồng nhượng quyền thường có chứa một số điều khoản chống lại việc
mua bán hay chuyển nhượng các cơ sở nhượng quyền. Điều này rõ ràng là hạn chế quyền kinh
doanh của bên nhượng quyền. Họ khó có thể thu hồi vốn đầu tư khi bán hay chuyển nhượng cơ
sở cho người khác khi cần. Tuy nhiên điều này là cần thiết. Để lựa chọn được đối tác nhượng
quyền, bên nhượng quyền phải trải qua quá trình chọn lựa cẩn thận, và họ cho rằng đối tác mà
họ đã chọn là người thích hợp nhất cho cơ sở nhượng quyền tại khu vực và vùng thị trường đó.
Chính vì vậy, họ thường không dễ chấp nhận một sự thay đổi chủ sở hữu của cơ sở nhượng
quyền.
Ngoài những rủi ro nêu trên phương thức nhượng quyền kinh doanh còn tiềm ẩn một số
rủi ro khác. Chẳng hạn, đây là mô hình dễ nảy sinh tranh chấp, nhất là những tranh chấp về
doanh thu. Bên nhượng quyền có thể kiểm soát được từng khoản doanh thu cụ thể của bên nhận
quyền để tính phí, và quyền quản lý lại hoàn toàn thuộc về bên nhận quyền. Mặt khác, nếu đối
chuẩn hàng hoá và việc điều hành hoạt động; những dịch vụ mà bên nhương quyền sẽ cung
cấp;yêu cầu chung của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền; tình trạng hiện nay của
ngành kinh doanh mà bên nhận quyền đang muốn tham gia.
Chương II:
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở
VIỆT NAM
1. Thực trạng phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
11
1.1.Thực trạng khuôn khổ pháp lý quản lý hoạt động nhượng quyền thương mại tại
Việt Nam
1.1.1. Các quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
Mặc dù đã xuất hiện ở Việt Nam từ đầu những năm 90 thế kỷ trước song đến nay phương
thức nhượng quyền thương mại tại Việt Nam vẫn mang tính mới mẻ không chỉ với các doanh
nghiệp mà còn đối với cả các nhà quản lý, các chuyên gia hoạch địch chính sách kinh tế. Từ
tháng 6/2005 trở về trước, hầu như chưa có một văn bản pháp lý nào của Việt Nam đề cập tới
khái niệm nhượng quyền thương mại.
Ở thời điểm này, hoạt động nhượng quyền thương mại mới chỉ được coi như một hoạt
động chuyển giao công nghệ đơn thuần. Chính vì vậy, nhượng quyền thương mại mới chỉ được
nhắc đến trong các văn bản pháp luật về chuyển giao công nghệ như:
- Thông tư 1254/1999/TT-BKHCNMT do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ban
hành nhằm hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Nghị định 45/1998/NĐ-CP về chuyển giao công
nghệ có nhắc tới cụm từ ‘Hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh
- Nghị định số 11/2005/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2005 quy định chi tiết về chuyển
giao công nghệ (sửa đổi) được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài
thực hiện các hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam; chuyển giao công
nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài có quy định:
- Luật Thương mại 2005. Chỉ gồm 8 điều trong tổng số 324 điều của Luật Thương mại
(từ Điều 284 đến Điều 291 nhưng những quy định về nhượng quyền thương mại trong luật
cũng giúp cho các nhà quản lý và doanh nghiệp Việt Nam bước đầu có những khái niệm cụ thể
về hoạt động này.