Lời mở đầu
Ngày nay, dới tác động mạnh mẽ xu hớng toàn cầu hoá đời sống kinh tế, các
quốc gia tham gia ngày một tích cực vào quan hệ kinh tế quốc tế. Hoạt động kinh doanh
quốc tế với các hình thức đa dạng và phong phú đang trở thành một trong những nội
dung quan trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế. Trong đó hình thức xuất nhập khẩu đợc
coi là chiếc chìa khoá mở ra những giao dịch kinh tế quốc tế cho một quốc gia, tạo ra
nguồn thu ngoại tệ chủ yếu của một nớc khi tham gia vào các hoạt động kinh tế quốc tế.
Đối với Việt Nam, hoạt động xuất khẩu sẽ có ý nghĩa chiến lợc trong sự nghiệp
CNH- HĐH, góp phần quan trọng đa nền kinh tế cất cánh trong thiên niên kỷ mới. Vì
vậy, Đảng và Nhà Nớc đã đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác xuất nhập
khẩu và coi đó là một trong ba chơng trình kinh tế lớn phải thực hiện.
Quế là cây đặc sản của vùng nhiệt đới đợc trồng ở nớc ta từ lâu. Do giá trị sử
dụng ngày càng lớn nên ngày nay Quế trở thành một mặt hàng đợc các nớc trên thế giới
a chuộng. Quế của Việt Nam vốn có điều kiện phát triển và nổi tiếng thế giới từ lâu
càng nổi lên là đặc sản có nhiều u thế hơn so với các nớc khác.
Trớc tình hình đó, thời gian qua cùng với các doanh nghiệp khác Công Ty XNK
tổng hợp đã không ngừng mở rộng hoạt động xuất khẩu quế và đã có những đóng góp
tích cực vào hoạt động xuất khẩu chung của đất nớc. Xuất khẩu quế đã chiếm một tỷ
trọng không nhỏ trong tổng giá trị của Công Ty nói riêng và của Việt Nam nói chung.
Tuy mới tham gia vào đầu t xuất khẩu quế, nhng Công Ty đã thu đợc những thành tựu
đáng khích lệ đó là: Mở rộng thị trờng, tạo đợc sự tin cậy đối với các bạn hàng trên thế
giới, góp phần cải thiện đời sống của cán bộ công nhân viên và mặt hàng này chiếm một
tỷ lệ không nhỏ tới toàn bộ kim ngạch xuất khẩu quế của Việt Nam. Mặc dù vậy, bên
cạnh những thành tựu đã đạt đợc Công Ty còn gặp rất nhiều khó khăn cần giải quyết.
Đó là, chất lợng hàng xuất khẩu cha cao, Công Ty chủ yếu là xuất khẩu qua sơ chế và
xuất khẩu thờng phải qua trung gian đã gây lên một thiệt hại không nhỏ cho Công Ty.
Công tác tìm nguồn hàng từ khâu thu mua đến khâu xuất khẩu cha đợc đồng bộ, thống
nhất. Bởi thế, để Công Ty phát huy hết tiềm năng, xứng đáng là một doanh nghiệp Nhà
Nớc lớn thuộc Bộ thơng mại thì việc nhìn nhận lại thực trạng kinh doanh xuất khẩu quế
với những đánh giá chân thực về những thành tựu và hạn chế, từ đó đa ra một số giải
pháp nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu quế là một yêu cầu cần thiết. Với lý
quốc gia chỉ đóng cửa nền kinh tế của mình, áp dụng phơng thức tự cung tự cấp thì
không bao giờ có cơ hội vơn lên để khẳng định vị trí của mình và nâng cao đời sống
nhân dân.
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của ngoại thơng đã xuất hiện từ rất lâu
đời và ngày càng phát triển, tuy hình thức cơ bản đầu tiên là trao đổi hàng hoá giữa các
nớc nhng hiện nay xuất khẩu đã đợc thể hiện dới nhiều hình thức khác nhau nh xuất
khẩu trực tiếp, xuất khẩu gia công, xuất khẩu uỷ thác, buôn bán đối lu, xuất khẩu theo
nghị định th, gia công quốc tế, xuất khẩu tại chỗ, tạm nhập tái xuất.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế từ xuất khẩu
hàng hoá tiêu dùng cho đến xuất khẩu t liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị đơn giản cho
đến những máy móc công nghệ cao. Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm mục
tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về không gian và thời gian
nó có thể chỉ diễn ra trong một thời gian rất ngắn nhng cũng có thể kéo dài nhiều năm,
có thể tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay của nhiều quốc gia khác
nhau.
1.2- Vai trò của hoạt động xuất khẩu
Phơng thức cơ bản nhất để mở rộng hoạt động của doanh nghiệp ra thị trờng nớc
ngoài là thông qua xuất khẩu. Xuất khẩu cũng là một hoạt động kinh doanh quốc tế đầu
tiên của doanh nghiệp. Hoạt động này tiếp tục cả khi doanh nghiệp đã đa dạng hoá các
hoạt động kinh doanh của mình. Xuất khẩu có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Trớc hết, xuất khẩu giải quyết vấn đề ngoại tệ cho doanh nghiệp, tạo nguồn vốn
để nhập khẩu. ở những nớc kém phát triển, phần lớn các doanh nghiệp nằm trong tình
trạng thiếu vốn, công nghệ, thừa lao động phổ thông, thiếu lao động đã qua đào tạo. Để
giải quyết tình trạng này thì buộc họ phải nhập từ bên ngoài vào những yếu tố mà trong
nớc cha có khả năng đáp ứng nhng làm đợc điều đó thì cần phải có một khối lợng ngoại
tệ rất lớn.
Có thể nói đây là vòng luẩn quẩn mà các doanh nghiệp tại các nớc này gặp
phải. Nếu thiếu vốn, doanh nghiệp không thể nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ
mỗi danh nghiệp là lợi nhuận song lợi nhuận sẽ chỉ đạt đợc thông qua việc thoả mãn tối
đa nhu cầu của khách hàng. Vì vậy, hiểu đầy đủ nhu cầu của khách hàng là cơ sở để
doanh nghiệp tìm cách thoả mãn tối đa nhu cầu đó. Điều này lại phụ thuộc rất nhiều vào
yếu tố chủ quan và khách quan, vĩ mô và vi mô. Song một thực tế không thể phủ nhận là
việc vơn ra thị trờng quốc tế làm tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Thông qua xuất khẩu, doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô khách hàng, cung cấp sản
phẩm cho một thị trờng rộng lớn đa dân tộc, đa nhu cầu. Đặc biệt, tại thị trờng quốc tế
sức mua của khách hàng rất phong phú, đa dạng. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, đề có sức
mua khác nhau tuỳ theo điều kiện nh : Thu nhập, sức mua của đồng tiền, tập tính, thói
quen tiêu dùng. Và đây chính là căn cứ giúp doanh nghiệp lựa chọn đợc những đoạn thị
trờng phù hợp nhằm tối u hoá kết quả kinh doanh. Tham gia hoạt động xuất khẩu, doanh
nghiệp có thể giảm đợc chi phí cho một đơn vị sản phẩm do nâng cao khối lợng sản xuất
nhờ quy mô.
Tuy nhiên, lý thuyết này cũng chỉ ra rằng doanh nghiệp chỉ có lợi thế nhờ quy mô
khi tăng sản lợng tới một giới hạn cho phép. Và những sản phẩm này phải đợc thị trờng
chấp nhận, tiêu thụ. Thông qua xuất khẩu, doanh nghiệp có thể xác định đợc nhu cầu
của khách hàng cũng nh mức độ chấp nhận sản phẩm của doanh nghiệp, từ đó áp dụng
hiệu quả lý thuyết nhờ quy mô.
Đặc biệt, thông qua hợp đồng xuất khẩu, khả năng vợt trội của doanh nghiệp có
thể khai thác đợc. Bởi lẽ, có những sản phẩm của doanh nghiệp không chỉ cung cấp cho
thị trờng trong nớc mà còn có khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trờng nớc ngoài. Doanh
nghiệp sẽ tận dụng khả năng vợt trội về chất lợng, uy tín sản phẩm của vơn ra chiếm
lĩnh thị trờng nớc ngoài thông qua hoạt động xuất khẩu. Nh vậy, doanh nghiệp sẽ khắc
phục quy mô nhỏ bé của thị trờng nội địa hay tình trạng trì trệ, giảm sút của nó trong
những giai đoạn kinh doanh nhất định. Đồng thời, khả năng phân tán rủi ro cũng là một
u điểm rất lớn mà hoạt động xuất khẩu mang lại cho doanh nghiệp và khuyến khích
doanh nghiệp tham gia lĩnh vực này. Nói tóm lại, hoạ động xuất khẩu giúp doanh
nghiệp đạt đợc mục tiêu cuối cùng và bao trùm của mình là tăng lợi nhuận bằng việc
giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm, tăng doanh số bán, hạn chế rủi ro.
Thứ ba, thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nớc có cơ hội tham gia vào
1.3.1 - Nghiên cứu tiếp cận thị trờng.
Nghiên cứu thị trờng là một công việc quan trọng trong chu kì sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Đối với các đơn vị hoạt động ngoại thơng thì việc nghiên cứu
thị trờng quốc tế lại càng có ý nghĩa hơn bởi vì nó liên quan trực tiếp đến việc tiến hành
giao dịch, thâm nhập vào thị trờng nớc ngoài của các doanh nghiệp.
* Nghiên cứu thị trờng trớc tiên cần phải nhận biết hàng hoá
Hàng hoá mua bán phải đợc tìm hiểu kỹ về khía cạnh thơng phẩm để hiểu rõ giá
trị, công dụng, nắm bắt đợc những đặc tính của nó và những yêu cầu của thị trờng về
hàng hoá đó nh: quy cách phẩm chất bao bì, cách trang trí bên ngoài, cách lựa chọn,
phân loại vv..
Bên cạnh đó, cần nắm vững tình hình sản xuất của mặt hàng đó nh: thời vụ, khả
năng về nguyên vật liệu, công nhân tay nghề, nguyên lý cấu tạo.. cũng nh phải biết mặt
hàng đang lựa chọn đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống của sản phẩm trên thị tr-
ờng. Thông thờng tiến trình phát triển việc tiêu thụ một mặt hàng gồm bốn giai đoạn:
thâm nhập, phát triển, bão hoà và thoái trào. Nắm vững đợc giai đoạn mà sản phẩm đang
tồn tại sẽ giúp ta đa ra những phơng sách hợp lý giúp công ty phát triển cùng với sản
phẩm của mình.
* Nắm vững thị trờng nớc ngoài
Đối với những đơn vị kinh doanh với nớc ngoài, việc nghiên cứu thị trờng nớc
ngoài có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Vì vậy, khi nghiên cứu cần chú ý đến những điều
kiện về chính trị thơng mại chung, luật pháp, chính sách buôn bán, điều kiện về tiền
tệ và tín dụng, điều kiện vận tải , tình hình giá cớc
Ngoài ra, đơn vị kinh doanh cần nắm vững những điều có liên quan đến mặt hàng
kinh doanh của mình trên thị trờng nớc ngoài đó nh: Dung lợng thị trờng, tập quán và
thị hiếu tiêu dùng, những kênh tiêu thụ, sự biến động giá cả
* Lựa chọn khách hàng
Việc nghiên cứu tình hình thị trờng giúp cho đơn vị kinh doanh có thể lựa chọn
thị trờng, thời cơ thuận lợi, lựa chọn phơng thức mua bán và điều kiện giao dịch thích
hợp. Tuy nhiên, trong nhiều trờng hợp kết quả hoạt động kinh doanh còn phụ thuộc vào
khách hàng. Trong cùng những điều kiện nh nhau, việc giao dịch với khách hàng cụ thể
lực tài chính, uy tín, kinh nghiệm, năng lực pháp lý của đối tác kinh doanh đó. Việc
lựa chọn đúng đối tác để giao dịch tránh cho doanh nghiệp những phiền toái, rủi ro, mất
mát dễ gặp phải trong quá trình kinh doanh trên thị tr ờng quốc tế, đồng thời có điều
kiện để thực hiện thành công các kế hoach kinh doanh của mình.
1.3.4 - Đàm phán và kí kết hợp đồng
Đàm phán, kí kết hợp đồng xuất khẩu là một trong những khâu quan trọng của
hoạt động xuất khẩu. Nó quyết định đến khả năng, đều kiện thực hiện những công đoạn
mà doanh nghiệp thực hiện trớc đó, đồng thời cũng quyết định đến tính khả thi hay
không khả thi của các kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp.
Việc đàm phán phải căn cứ vào nhu cầu trên thị trờng, vào đối thủ cạnh tranh,
khả năng, điều kiện và mục tiêu của doanh nghiệp cũng nh mối quan hệ giữa doanh
nghiệp và đối tác. Nếu đàm phán diễn ra tốt đẹp thì kết quả của nó là hợp đồng sẽ đợc kí
kết. Mỗi cam kết trong hợp đồng sẽ là một quy định pháp lý quan trọng, vững chắc và
đáng tin cậy để các bên thực hiện đúng lời cam kết của mình.
Đàm phán có thể đợc thực hiện thông qua th tín, qua diện thoại hay gặp gỡ trực
tiếp và đợc tiến hành qua các bớc sau:
+ Chào hàng: Đây là việc nhà kinh doanh thể hiện rõ ý định bán hàng của doanh
nghiệp, là lời đề nghị kí kết hợp đồng.
+ Hoàn giá: Khi nhận đựơc lời chào hàng và không chấp nhận giá chào hàng đó
đồng thời đa ra những đề nghị gọi là chào hoàn giá.
+ Xác nhận: Là việc xác nhận lại điều kiện mà hai bên đã thoả thuận trớc đó.
Việc này đồng nghĩa với việc kí kết hợp đồng.
+ Chấp nhận: Là sự đồng ý hoàn toàn tất cả các điều kiện chào hàng mà bên kia
đa ra.
Khi kí kết hợp đồng cần chú ý:
* Hợp đồng cần đợc trình bày rõ ràng, sạch đẹp, nội dung phải phản ánh đúng,
đầy đủ các vấn đề đã thoả thuận.
* Ngôn ngữ dùng trong hợp đồng phải là ngôn ngữ phổ biến và là ngôn ngữ mà cả
hai bên cùng thông thạo.
* Ngời kí kết hợp đồng phải là ngời có thẩm quyền kí kết.
phẩm chất hàng hoá khi vận chuyển, tạo điều kiện nhận biết và phân loại hàng hoá,
đông thời gây ấn tợng có thể làm ngời mua thích thú. Trong kinh doanh Quốc tế ngời ta
dùng nhiều loại bao bì khác nhau, thông thờng đợc phân loại theo dụng cụ của nó nh:
hòm, bao, kiện, ...
Kẻ kí mã hiệu hàng hoá xuất khẩu: Kí mã hiệu là những kí hiệu bằng chữ, bằng
số hoặc bằng vẽ hình đợc ghi trên bao bì nhằm thông báo những thông tin cần thiết cho
việc giao nhận, bốc dỡ, bảo quản. Kí mã hiệu cần phải sáng sủa, rõ ràng, dễ đọc, không
phai mờ, không ảnh hởng tới phẩm chất của hàng hoá.
1.3.5.3 - Kiểm tra chất l ợng hàng hoá xuất khẩu
Đây là công việc cần thiết, nhằm bảo đảm quyền lợi của nhà nhập khẩu, ngăn
chặn kịp thời các hậu quả xấu, phân định trách nhiệm rõ ràng của các khâu trong sản
xuất tạo nguồn hàng và đảm bảo uy tín cho nhà xuất khẩu.
Trớc khi xuất khẩu, các nhà xuất khẩu phải có nghĩa vụ kiểm nghiệm và kiểm
dịch hàng hoá. Việc kiểm tra chất lợng hàng hoá do hai bên tự chịu trách nhiệm thông
qua hợp đồng. Cơ quan nhà nớc có chức năng kiểm tra chất lợng hàng hoá xuất khẩu, có
quyền thu hồi giấy phép về tự kiểm tra hàng hoá đó đối với các doanh nghiệp kinh
doanh xuất khẩu tự kiểm nghiệm mà không làm đúng chức năng của mình. Việc kiểm
tra có thể tiến hành ở cửa khẩuhoặc tại cơ sở, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng loại hàng
hoá.
1.3.5.4 - Thuê tàu
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thơng, việc thuê tàu chở hàng
dựa vào các căn cứ sau:
+ Những điều khoản hợp đồng mua bán
+ Điều kiện vận tải.
Tuỳ theo điều kiện hàng đối lu, ngời ta có thể thuê khứ hồi hoặc chuyên chở liên
tục. Nếu hàng hoá không có khối lợng lớn thì ngời ta thờng đăng kí ( lu cớc) chỗ của
một tàu chọ để chở hàng. Thông thờng, trong nhiều trờng, hợp doanh nghiệp kinh xuất
khẩu thờng uỷ thác việc thuê tàu, lu cớc cho một công ty vận tải: Letfracht,
Transimex...
1.3.5.5 - Mua bảo hiểm:
- Lấy biên lai thuyền phó và đổi lấy vận đơn ( phải có vận đơn hoàn hảo có thể
chuyển nhợng) . Vận đơn có giá trị là cơ sở để xử lý các tranh chấp có thể xảy ra đồng
thời nó đợc chuyển về bộ phận kế toán để làm chứng từ thanh toán.
1.3.5.7 - Thanh toán hợp đồng:
Thanh toán là khâu trọng tâm, là kết quả cuối cùng của tất cả các giao dịch trong
kinh doanh nên thủ tục này thờng rất phức tạp.
Có nhiều phơng thức thanh toán nhng trong xuất khẩu ngời ta chủ yếu sử dụng
các phơng thức sau:
+ Thanh toán bằng hình thức chuyển tiền .
+ Thanh toán bằng th tín dụng ( L/C), đây là một loại giấy mà ngân hàng hứa
bảo đảm hoặc hứa trả tiền. Thanh toán bằng L/C là phơng thức đảm bảo hợp lý thuận
tiện, an toàn và hạn chế rủi ro cho cả hai bên đặc biệt là bên bán.
+ Thanh toán bằng phơng thức nhờ thu. Nếu hợp đồng xuất khẩu quy định thanh
toán bằng phơng thức này sau khi giao hàng, bên xuất khẩu phải hoàn thành việc lập
chứng từ cho ngân hàng để uỷ thác.
1.3.5.8 - Giải quyết tranh chấp:
Trong trờng hợp có tranh chấp xảy ra, hai bên nên tìm cách hoà giải, khắc phục
trong sự hợp tác thiện chí, giúp đỡ lẫn nhau. Nếu không tự giải quyết đợc thì hai bên
phải giải quyết tranh chấp của mình thông qua Trọng tài Quốc tế.
Phần 2
Tình hình Hoạt động xuất
khẩu quế
của công ty xuất nhập khẩu
tổng hợp 1 Bộ thơng mại
2.1 - Thực trạng hoạt động nuôi trồng quế ở
Việt Nam
2.1.1 - Một số giống quế đợc trồng ở Việt Nam.
Quế có nhiều loại, mỗi loại quế có vị và hàm lợng tinh dầu khác nhau. Xét về
tổng thể, Quế có khoảng gần 10 loại khác nhau. Trong đó phổ biến trên thế giới là hai
loại Quế Trung Quốc (tên khoa học là Cinamomum cassia BL) và Quế Xrilanca
2.1.2 - Những sản phẩm chính của Quế.
Quế là loại thực vật thân gỗ, sống lâu năm. Nhng sản phẩm chính của sản xuất
quế lại là Vỏ. Và việc buôn bán, trao đổi trên thế giới khi nói đến Quế là hàm ý tới vỏ
Quế. Ngoài vỏ còn có gỗ, lá dùng để chng cất tinh dầu. Về mặt giá trị xuất khẩu thì
chủ yếu là vỏ quế và bên cạnh đó tinh dầu cũng là một mặt hàng có giá trị xuất khẩu
cao (tuy nhiên, lợng tinh dầu xuất khẩu của nớc ta chiếm một tỷ trọng rất nhỏ so với
mặt hàng vỏ quế ). Gỗ của sản phẩm quế chủ yếu đợc dùng cho ngành công nghiệp
trong nớc.
2.1.2.1 - Vỏ quế.
Đặc điểm cơ bản của sản xuất quế, cũng nh đặc điểm cơ bản của nghề rừng là
có thời gian sản xuất dài. Tuỳ theo yêu cầu kinh tế đối với sản phẩm quế mà quyết
định thời gian kinh doanh sản xuất quế từng luận kỳ nhất định, nhng nói chung sản
xuất quế ít nhất cũng phải 10-15 năm mới cho thu hoạch vỏ. Năng suất vỏ quế tuỳ
thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện tự nhiên nh đất đai, khí hậu..., giống cây trồng, thời
gian kinh doanh dài hay ngắn, mức độ đầu t, thâm canh. Tính trung bình một cây quế
loại thông thờng nh quế Yên Bái, Quảng Ninh, Quảng Nam Đà Nẵng 10-15 năm có
thể có đờng kính 20-30cm, có thể cho thu hoạch 20-40 kg vỏ các loại. Các loại vỏ
này có thể dùng làm gia vị thực phẩm, làm nguyên liệu chế biến hàng tiêu dùng, xuất
khẩu vỏ dới dạng vỏ nguyên liệu. Một số vùng sản xuất quế ỏ Yên Bái với mật độ gây
trồng 2500 cây/ha sau 10 năm đạt năng suất 20-22 tấn. Vỏ quế đạt tiêu chuẩn sử
dụng vào một số lĩnh vực kinh tế nhất định nh gia vị thực phẩm, nguyên liệu sản xuất
hàng tiêu dùng chỉ cần trồng trong 10 năm là có thể thu hoạch đợc. Tuy nhiên, nếu
kinh doanh quế làm dợc liệu thì thời gian trồng và sản xuất phải lâu hơn, có khi tới
20-30 năm. Song, do nhu cầu dợc liệu trong nớc cũng nh xuất khẩu hiện nay còn hạn
chế, trong khi nhu cầu quế nguyên liệu làm gia vị thực phẩm sản xuất một số hàng
tiêu dùng rất lớn mà với thời gian kinh doanh nói trên (10 năm) có thể đáp ứng đợc
yêu cầu về chất lợng, đồng thời yêu cầu kinh doanh cũng đem lại hiệu quả cao.
2.1.2.2 - Gỗ và tinh dầu
Trong sản xuất kinh doanh quế, ngoài vỏ - sản phẩm chính - còn thu đợc một
sản lợng gỗ, tinh dầu chng cất ở lá, cành non, rễ. Giá trị các sản phẩm này đem lại
2.1.3 - Diện tích và năng suất
Theo con số thống kê năm 1999, ở nớc ta, đất lâm nghiệp chiếm khoảng 24%
diện tích đất cả nớc (tức là khoảng 10.884,5 nghìn ha), trong đó diện tích trồng cây
lâu năm chiếm 18%. Hơn nữa theo thống kê của cục quản lý lâm nghiệp - Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn, diện tích có khả năng sản xuất quế ở nớc ta rất lớn
(70.000-80.000 ha) trong khi diện tích sản xuất quế hiện nay chỉ khoảng 18-20 nghìn
ha. Điều này chứng tỏ nớc ta có nhiều thuận lợi cho việc mở rộng diện tích và mở
rộng quy mô sản xuất quế phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu.
Sau đây là bảng thống kê diện tích sản xuất quế đợc phân theo ba vùng sản
xuất quế chủ yếu: Yên Bái, Quảng Ninh và Quảng Nam - Đà Nẵng qua các năm
Bảng 1: Diện tích trồng quế ở nớc ta.
Đơnvị:hecta
Năm 1990 1994 1999 2000 2002
Tổng diện tích 10.125 10.800 11.400 11.700 12.000
Yên Bái 5.000 5.500 5.700 5.800 5.850
QuảngNam-Đà
Nẵng
3.020 3.160 3.300 3.500 3.600
Quảng Ninh 2.105 2.240 2.400 2.400 2.500
(Nguồn: Tài liệu thống kê của Cục quản lý lâm nghiệp-Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn 1999-2002)
Yên Bái là vùng sản xuất quế lớn chiếm 47,5% diện tích trồng của cả nớc. Đạt
đợc điều này, một phần do Yên Bái có điều kiện tự nhiên thích hợp, đồi núi nhiều,
hơn nữa lại đợc sự quan tâm của chính quyền sở tại, coi sản xuất quế là ngành mũi
nhọn trong tỉnh. Nhận thấy sản xuất quế cho giá trị xuất khẩu cao hơn nhiều loại cây
trồng khác, nên những vùng có điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp với sản xuất quế đã
không ngừng mở rộng diện tích trồng quế. Tuy nhiên phải sau 9-10 năm quế mới cho
thu hoạch, nên những vùng này rất cần sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền địa phơng
về vốn, giống để ngành sản xuất quế có thể và đi vào chuyên canh hoá.
Bên cạnh đó, quế trồng ở các vùng khác nhau cũng cho năng suất khác nhau,
không đều. Nếu nh có thể nói diện tích tăng là do ngời sản xuất đã ý thức đợc nhu
cầu lớn của sản phẩm trên thị trờng nên đã không ngừng khai hoang mở rộng diện
Năm 1990 1994 1999 2000 2002
Tổng sản lợng 2297 2700 3656 3500 4000
Yên Bái 1100 1400 1750 1800 2000
Quảng Nam-Đà Nẵng 737 80 1000 76 1200
Quảng Ninh 460 520 906 724 800
tích gây trồng... thì sản lợng tăng hay giảm là do các yếu tố giống, kỹ thuật sản xuất
và thời tiết. Do quế là loại cây cho thu hoạch sau 8-10 năm cho nên trong khoảng thời
gian này nếu xảy ra sâu bệnh hoặc giống không tốt... thì ảnh hởng rất lớn đến sản l-
ợng sau này. Chính vì vậy mà trong sản xuất quế, vấn đề kỹ thuật sản xuất cần phải đ-
ợc coi trọng và phổ biến rộng rãi cho bà con nông dân để khi họ quyết định sản xuất
quế, họ sẽ đợc lãi (hay chí ít là hoà vốn) sau khoảng thời gian 8-10 năm.
2.2 - Thực trạng hoạt động xuất khẩu quế ở
Việt Nam trong những năm gần đây
Cũng nh các mặt hàng nông sản khác, quế sớm đợc buôn bán trên thị trờng thế
giới. Song do quế là đặc sản riêng có của một số vùng có khí hậu nhiệt đới thích hợp
nên khả năng sản xuất hạn chế, trong khi đó nhu cầu sản phẩm quế lại tơng đối lớn và
rộng khắp trên lục địa. Cho nên kinh doanh xuất khẩu quế là lợi thế cho những nớc có
điều kiện sản xuất quế. Những nớc này chủ yếu sản xuất để xuất khẩu vì tiêu dùng
trong nớc không nhiều.
2.2.1 - Kim ngạch xuất khẩu và khối lợng xuất khẩu .
2.2.1.1 - Kim ngạch xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm quế trong những năm gần đây của cả nớc có
xu hớng gia tăng. Tuy nhiên sự gia tăng này không đồng đều.
Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu quế giai đoạn 1994-2002
Năm
KNXK lâm sản
(triệu USD)*
KNXK quế
nhóm ngành hàng khác (nh cà phê, chè, hồ tiêu...) nhng cũng chứng tỏ rằng chúng ta
đã biết tận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên ban cho, khai thác đợc thế mạnh của
mình để đi lên cùng nhịp sống của thời đại.
Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy một điều rằng kim ngạch xuất khẩu của hàng
lâm sản nói chung có sự tăng lên, nhng mấy năm trở lại đây có sự suy giảm (năm
2000,2001). Ngành xuất khẩu lâm sản có sự chuyển hớng từ xuất khẩu nguyên liệu
sang xuất khẩu sản phẩm đã qua chế biến, nâng cao giá trị xuất khẩu của hàng lâm
sản. Trong khi đó, mặt hàng quế chúng ta mới chỉ xuất khẩu dới dạng thô - xuất khẩu
sản phẩm vỏ là chủ yếu. Sơ chế quế chủ yếu là qua máy sấy, làm sạch bụi bẩn ở
ngoài... là chủ yếu, cho nên kim ngạch xuất khẩu quế không có sự tăng đột biến, mà
phần nhiều còn phụ thuộc vào khối lợng vỏ quế xuất khẩu .
2.2.1.2 - Khối lợng quế xuất khẩu.
Khối lợng quế xuất khẩu phụ thuộc rất lớn vào diện tích gây trồng trớc đó, cho
nên cùng với quá trình chuyển dịch nền kinh tế, sản lợng quế xuất khẩu của nớc ta
cũng có nhiều thay đổi. Năm 1995 là năm nớc ta xuất khẩu với số lợng lớn nhất trong
thời gian qua (6.356 tấn), tuy nhiên, ngay sau đó sản lợng xuất khẩu đã sụt giảm
xuống còn 2.834 tấn, cho đến năm 1998, con số này xuống còn 804 tấn. Tuy nhiên,
khối lợng xuất khẩu các năm 1999,2002 cho thấy con số này ngày càng tăng lên.
Bảng 4: Khối lợng quế xuất khẩu của Việt Nam
Đơn vị: tấn
Năm 1995 1997 1999 2002
Khối lợng 6.356 3.399 3.160 3.600
Nguồn: Niên giám thống kê 2002.
(*) Tạp chí Ngoại thơng năm 2002.
Sở dĩ năm 1995 khối lợng quế xuất khẩu lớn là do diện tích trồng đến thời kỳ
khai thác lớn, nhiều doanh nghiệp, địa phơng tham gia vào quá trình thu gom và xuất
khẩu sản phẩm quế nhằm thu lợi nhuận. Tuy khối lợng quế xuất khẩu khá lớn song
kim ngạch xuất khẩu năm này lại không cao hơn so với năm 1997 (xem bảng 4 và 5).
Có sự chênh lệch này là do khối lợng xuất khẩu nhiều nhng xét về mặt chất lợng thì
không cao. Với sự khai thác ồ ạt trong năm 1995, đến năm 1996, khối lợng sản phẩm
hiệu quả của ngành hàng này.
Nếu tính cùng một thời điểm tháng 7 qua 3 năm (2000-2001-2002) với một
loại quế 5% (nh bảng dới đây), ta thấy rằng sự biến đổi của tỷ giá trên thị trờng sẽ có
ảnh hởng không nhỏ tới kết quả kinh doanh. Bởi vì nếu tỷ giá của đồng ngoại tệ đó
xuống thấp, giá bán qui đổi ra đồng Việt nam sẽ cao hơn và khi đó tuỳ theo yêu cầu
của kinh doanh chúng ta có thể nâng giá mua để bảo đảm khả năng tổ chức thu mua
hàng đợc hiệu quả cao.
Bảng 5: Giá xuất khẩu quế 5% cùng kỳ qua các năm.
Năm
Giá bán
(USD/tấn)
Tỷ giá
VND/USD
Đơn giá tiền việt
(nghìn đồng)
2000 2900 13500 39150