Đánh giá thực trạng chính sách quản lý ngoại hối ở Việt Nam trong thời gian qua và những giải pháp kiến nghị - Pdf 12

MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, các giao dịch kinh tế và phi kinh tế giữa các
quốc gia và lãnh thổ ngày càng phát triển. Theo đó, các giao dịch tiền tệ quốc tế
cũng sôi động và không ngừng phát triển.
Mỗi quốc gia đều có đồng tiền riêng của mình. Đồng tiền ấy tượng trưng cho
chủ quyền quốc gia. Các chức năng của đồng tiền quốc gia như phương tiện trao
đổi, thanh toán, cất trữ… chỉ có giá trị trong phạm vi quốc gia đó. Ra khỏi lãnh thổ
quốc gia, đồng bản tệ phải thích nghi với những quy định và thông lệ quốc tế mới có
tác dụng trao đổi.
Để bảo vệ chủ quyền quốc gia và bảo vệ giá trị đồng tiền của mình trong
giao lưu quốc tế, ngay từ những năm đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà, nhà nước Việt Nam đã ban hành chính sách quản lý ngoại hối phù hợp với
đường lối phát triển kinh tế trong từng giai đoạn cách mạng.
Từ tháng 9-1945 đến tháng 4-1946, chính phủ ta đã có biện pháp kiên quyết
nhưng mềm dẻo chống lại tỷ giá kiểu "ăn cướp" của đồng Quan kim, Quốc tệ do
quân đội Tưởng Giới Thạch đem vào miền Băc Việt Nam trong lúc phía đồng minh
uỷ quyền họ vào giải giáp quân đội Nhật.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ta đã có biện pháp đấu tranh tỷ giá, đấu
tranh trận địa với tiền địch. Cuối cùng, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ta đã quét
sạch tiền Đông Dương ở những vùng mới giải phóng, thống nhất lưu hành giấy bạc
Ngân hàng Việt Nam trên một nửa đất nước.
Sau khi miền Bắc được giải phóng Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (sau này là
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) đã đặt quan hệ vay nợ, nhận viện trợ và quan hệ
thanh toán với các nước XHCN rồi mở rộng quan hệ ngoại hối với nhiều nước khác
trên thế giới.
Trong những năm đánh Mỹ, đánh nguỵ (1965-1975), ta đã có nhiều biện
pháp "chế biến" các loại ngoại tệ do quốc tế viện trợ để chi viện cho Chính phủ cách
mạng lâm thời. Cộng hoà miền Nam Việt Nam hoàn thành sự nghiệp giải phóng
miền Nam. Sau đại thắng mùa xuân năm 1974 ta đã quét sạch tiền nguỵ, cho lưu
Trang 1
hành một đồng tiền thống nhất trong cả nước. Trong giai đoạn lịch sử ấy có công lao

hợp tác,liên minh giữa các quốc gia. Do vậy việc dự trữ ngoại hối là một trong
những mục tiêu kinh tế có ý nghĩa chiến lược quan trọng,có dự trữ ngoại hối cần
thiết tức là nhà nước đã nắm được trong tay một công cụ quan trọng để thực hiện
các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Về nguồn gốc sâu xa, dự trữ ngoại hối chính là kết quả, là biểu hiện của sức
mạnh của tiềm lực kinh tế quốc gia.Dự trữ ngoại hối để đảm bảo sự cân bằng khả
năng thanh toán quốc tế,thoả mãn nhu cầu nhập khẩu phục vụ phất triển kinh tế và
đời sống trong nước,mở rộng hoạt động đầu tư,hợp tác kinh tế với các nước khác
phục vụ mục tiêu chính sách kinh tế mở.
Quỹ dự trữ ngoại hối bao gồm: Ngoại tệ mạnh,vàng và kim loại quý,dự trữ
quỹ tiền tệ quốc tế IMF,quyền rút vốn đặc biệt SDR và các tài sản tài chính có tính
linh hoạt cao...
2. Vai trò của quản lý dự trữ ngoại hối
Trang 3
Dự trữ ngoại hối Nhà nước biểu hiện là tài sản nợ đối với nền kinh tế và là tài
sản chung trên bảng cân đối tài sản của NHNN. Ở đó NHNN được giao sử dụng quỹ
dự trữ ngoại hối để tiến hành mua bán trên thị trường ngoại hối nhằm thực hiện
chính sách tiền tệ quốc gia.
Dự trữ ngoại hối được sử dụng nhằm tài trợ cho sự mất cân bằng cán cân
thanh toán,hoặc gián tiếp tác động thông qua việc can thiệp trên thị trường ngoại hối
giữ vai trò ngăn ngừa những biến động trong nguồn thu xuất khẩu,thanh toán nhập
khẩu,cũng như chu chuyển quá lớn luồng vốn đối với một quốc gia.
Có dự trữ ngoại hối là một cơ sở cho việc phát hành đảm bảo cho mối tương
quan giữa tiền - hàng trong nước.Nhà nước có thể chủ động sử dụng ngoại hối như
là một lực lượng để can thiệp,điều tiết thị trường tiền tệ theo những mục tiêu,theo kế
hoạch.
Đối với những nước mà đồng tiền không được tự do chuyển đổi,dự trữ ngoại
hối là lực lượng để can thiệp, điều tiết thị trường tiền tệ theo những mục tiêu,theo kế
hoạch.
Đối với những nước mà đồng tiền không được tự do chuyển đổi,dự trữ ngoại

Cán cân thanh toán quốc tế thể hiện thu-chi của một nước với nước ngoài.Khi
cán cân thanh toán quốc tế bội thu,lượng ngoại tệ chảy vào trong nước dẫn đến khả
năng cung ứng về ngoại tệ cao hơn nhu cầu. Ngựơc lại , khi cán cân thanh toán quốc
tế bội chi, tăng lượng ngoại tệ chạy ra nước ngoài dẫn đến nhu cầu ngoại tệ cao hơn
khả năng cung ứng.
Vì thế,mục đích của quản lý dự trữ ngoại hối để đảm bảo cho một quốc gia
luôn luôn trong trạng thái có thể thanh toán các khoản nợ đúng hạn và có thể giải
quyết những giao động về tỷ giá ngoại hối trong ngắn hạn.
4. Cơ chế quản lý ngoại hối
4.1. Cơ chế tự do tỷ giá
Điều này có nghĩa là ngoại hối được tự do lưu thông trên thị trường,cân bằng
ngoại hối do thị trường quyết định mà không có sự can thiệp của nhà nước,do vậy tỷ
Trang 5
giá-giá cả ngoại hối phù hợp với sức mua của đồng tiền trên thị trường.Tỷ giá thả
nổi dẫn đến lãi suất,luồng vốn vào và ra hoàn toàn do thị trường chi phối.
4.2. Cơ chế quản lý tỷ giá
4 .2.1. Cơ chế nhà nước thực hiện quản lý hoàn toàn
Theo cơ chế này nhà nước độc quyền ngoại thương và độc quyền ngoại hối.
Nhà nước thực hiện các biện pháp hành chính áp đặt nhằm tập trung tất cả hoạt
động ngoại hối vào tay mình . Tỷ giá do nhà nước quy định mà tất cả các giao dịch
ngoại hối phải chấp hành, các tổ tham gia hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nếu
bị lỗ do tỷ giá thì sẽ được nhà nước cấp bù , ngược lại nếu lãi thì nộp cho nhà nước .
Cơ chế này thích hợp với nền kinh tế tập trung.
4.2.2 Cơ chế quản lý tỷ giá có điều tiết
Cơ chế quản lý hoàn toàn, nhà nước có thể áp đặt khống chế được thị trường ,
ngăn chặn ảnh hưởng từ bên ngoài , chủ động khai thác được nguồn vốn bên trong .
Tuy nhiên , trong nền kinh tế thị trường , cách quản lý này sẽ không phù hợp , cản
trở và gây khó khăn cho nền kinh tế . Để khắc phục sự áp đặt ,nhà nước đã tiến hành
điều tiết nhưng đã gắn với thị trường , nhà nước tiến hành kiểm soát một mức độ
nhất định để nhằm phát huy tính tích cực của thị trường , hạn chế nhược điểm do thị

thực tế và xu hướng tăng lên của lãi suất ngoại tệ để kinh doanh có lãi.
Qua mua, bán ngoại hối có chênh lệch giá thì phần chênh lệch đó hình thành
lợi nhuận của ngân hàng.
NHNN thực hiện việc mua bán ngoại hối sẽ tác động trực tiếp vào tiền NHNN.
Nghiệp vụ này ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối,ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Như
vậy NHNN thông qua mua bán ngoại tệ có thể can thiệp nhằm đạt được tỷ giá mong
muốn.
5.2. Hoạt động quản lý ngoại hối của NHNN
NHNN thực hiện các hoạt động ngoại hối khác như:
- Quản lý, điều hành thị trường ngoại hối,thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng,bằng cách đưa các quy chế gia nhập thành viên,quy chế hoạt động,quy định
giới hạn tỷ giá mua bán ngoại tệ trên thị trường ....
Trang 7
- Tham gia xây dựng các dự án pháp luật và ban hành các văn bản hướng dẫn
thi hành luật về quản lý ngoại hối. NHNN được giao nhiệm vụ ban hàng các thông
tư hướng dẫn cụ thể để phục vụ cho việc quản lý của mình được thống nhất.
- Cấp giấy phép và thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối. Dựa vào luật pháp
và điều kiện cụ thể trong từng thời gian, NHNN đưa ra các quy định cần thiết để cấp
giấy phép cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân có hoạt động ngoại hối.
- Kiểm tra giám sát việc xuất nhập khẩu ngoại hối của các tổ chức tín dụng.
- Biên lập cán cân thanh toán.
Chương II
THỰC TRẠNH HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI NHỮNG
NĂM ĐẦU THẾ KỶ 21.
Trang 8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status