Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách QLNH là một bộ phận hợp thành của chính sách Tài chính-
Tiền tệ quốc gia, là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, đặc
biệt là với hoạt động kinh tế đối ngoại. Để tạo điều kiện phát triển hài hoà giữa
kinh tế đối nội và kinh tế đối ngoại, hội nhập và phát triển bền vững, các quốc
gia đều phải có chính sách Tài chính-Tiền tệ nói chung và chính sách QLNH nói
riêng phù hợp với thực tiễn mỗi nước.
Chính sách QLNH có vai trò rất quan trọng trong hoạt động hoạch định
và điều hành chính sách tiền tệ của NHTW, nhất là các nước đang trong quá
trình chuyển đổi kinh tế và cam kết hội nhập KTQT một cách sâu rộng như Việt
Nam. Chính sách QLNH có tác động và ảnh hưởng quan trọng đối với biến
động của các thành tố trên TK vãng lai cũng như TK vốn như: Kim ngạch XNK,
các luồng luân chuyển vốn (đầu tư cũng như vay nợ) quốc tế. Trong điều kiện
hội nhập KTQT ngày càng sâu sắc hơn, việc tác động và điều chỉnh được những
thành tố đó có ý nghĩa then chốt đối với việc ổn định và kích thích tăng trưởng
kinh tế quốc gia.
Nhận thức được tầm quan trọng của chính sách QLNH một cách có hệ
thống nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện phù hợp với tiến trình hội nhập
KTQT của Việt Nam là hết sức cần thiết và cấp bách. Xuất phát từ đó, "Hoàn
thiện chính sách Quản lý Ngoại hối ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế" đã được em chọn làm đề tài của bản luận văn.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hoá những nét tổng quát về ngoại hối và các hạn chế đối với
GD ngoại hối theo tiêu chí chung của IMF cũng như cụ thể đối với các nước
đang phát triển để rút ra kinh nghiệm.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chính sách QLNH ở Việt Nam qua từng
giai đoạn cụ thể.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách QLNH của Việt Nam
Đối với Việt Nam, khái niệm ngoại hối được đề cập cụ thể trong Thông tư số
01/1999/TT-NHNN7 ngày 16/4/1999 của NHNN hướng dẫn Nghị định
63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ về QLNH như sau:
Ngoại hối bao gồm:
- Các đồng tiền hợp pháp của nước ngoài hiện đang được lưu hành dưới các
hình thức tiền giấy, tiền kim loại.
- Công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài như: séc, hối phiếu, thẻ thanh toán
và các công cụ thanh toán khác.
- Các loại GTCG bằng tiền nước ngoài như trái phiếu chính phủ, trái phiếu
công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại GTCG khác.
- Quyền rút vốn, đặc biệt là đồng tiền do IMF phát hành dùng để dự trữ và
thanh toán quốc tế cho các nước hội viên, được kí hiệu là SDR.
- Đồng tiền chung Châu Âu là đồng tiền chung của các nước thuộc cộng
đồng Châu Âu dùng để dự trữ và thanh toán giữa các nước thành viên đó.
- Các đồng tiền chung khác dùng trong thanh toán quốc tế và khu vực.
- Vàng tiêu chuẩn quốc tế.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Đồng tiền đang lưu hành của nước cộng hoà XHCN Việt Nam (đồng Việt
Nam) trong trường hợp chuyển vào và ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử
dụng làm công cụ trong thanh toán quốc tế.
1.1.2 Các GD ngoại hối
Các GD ngoại hối là các GD có liên quan đến hoạt động mua bán, cho vay,
bảo lãnh, các hoạt động đầu tư và các GD về ngoại hối.
Các hoạt động ngoại hối liên quan đến GD kinh tế giữa người cư trú và người
không cư trú, thể hiện giữa các GD vãng lai và các GD vốn trong phạm vi một
quốc gia.
a/ GD vãng lai
Là các GD ngoại tệ giữa người cư trú và người không cư trú về XNK hàng
hóa, dịch vụ, thu nhập từ đầu tư trực tiếp, thu nhập từ đầu tư vào các GTCG, lãi
vay và lãi tiền gửi ở nước ngoài, chuyển tiền một chiều và các GD khác liên
chuyển đổi và luôn phải đối mặt với sự biến động của tỷ giá, lạm phát cao luôn
đe doạ, việc sử dụng ngoại tệ làm công cụ cất trữ, thanh toán rất phổ biến dẫn
đến tình trạng đôla hoá nền kinh tế; mặc dù các nước này đã áp dụng các quy định về
hạn chế việc thanh toán, cho vay với nhau bằng ngoại tệ.
1.1.3 Những hạn chế đối với GD ngoại hối theo tiêu chí của IMF.
Các nước tuỳ theo mức độ phát triển của thị trường Tài chính-Tiền tệ nói riêng
và nền kinh tế nói chung đều có những quy định về một số hạn chế đối với GD
ngoại hối. Các nước phát triển với chính sách tự do hoá thương mại, dịch vụ và
đầu tư thì các GD ngoại hối căn bản được tự do hoá, các hạn chế ngoại hối được
dỡ bỏ gần như hoàn toàn; nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế ngoại hối liên quan
đến những vấn đề như mang ngoại tệ khi xuất nhập cảnh với mục đích chống
rửa tiền hoặc những hạn chế về thanh toán, đầu tư liên quan đến lý do an ninh
quốc phòng, chính trị... Đối với các nước kém phát triển hoặc đang phát triển,
nhu cầu ngoại tệ để trang bị cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ
luôn lớn hơn nguồn thu từ XK; cán cân thương mại thường xuyên trong tình
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trạng bội chi và phải tài trợ bằng vốn nước ngoài...Trong bối cảnh đó, cần phải
áp dụng các hạn chế ngoại hối nhằm thu hút nguồn ngoại tệ vào, hạn chế nguồn
ngoại tệ ra và kiểm soát các GD vay trả nợ nước ngoài góp phần ổn định tỷ giá
và hỗ trợ cho việc điều hành chính sách tiền tệ. Các hạn chế ngoại hối đối với
các nước này được quy định bằng hệ thống các văn bản pháp lý cùng với các
quy định về quyền và phạm vi sử dụng ngoại tệ được gọi là chính sách QLNH.
Để có những thông tin cần thiết về cơ chế QLNH và cơ chế tỷ giá của các
nước thành viên, IMF hàng năm biên soạn và phát hành Báo cáo thường niên về
các hạn chế ngoại hối và chế độ tỷ giá; trong đó mô tả những nét khái quát về
những hạn chế liên quan đến ngoại hối và chế độ tỷ giá theo những tiêu chí
chung sau.
a/ Những hạn chế liên quan đến các GD vãng lai
* Quy định chế độ thanh toán và nhận thanh toán
- Các quy định ảnh hưởng đến việc lựa chọn đồng tiền và phương pháp thanh
chỉ ra các hạn chế đối với việc sử dụng tiền thu từ XK cũng như quy định đối
với hoạt động XK. Đặc biệt có ý nghĩa về quy định chuyển tiền về nước, đề cập
đến nghĩa vụ của người XK phải chuyển tiền thu được từ XK về nước hoặc bằng
cách bán trên TT ngoại hối hoặc gửi vào TK. Quy định này thường được các
nước áp dụng là kết hối, đề cập tới các quy định yêu cầu người nhận tiền thu từ
XK phải bán mọi khoản thu ngoại tệ lấy nội tệ, đôi khi với tỷ giá quy định cho
NHTW, NHTM hoặc người GD ngoại hối được uỷ quyền thực hiện việc này.
* Quy định về các GD chuyển tiền một chiều ra nước ngoài
Phần này quy định các thủ tục cho phép thanh toán chuyển tiền ra nước ngoài
trong các GD chuyển tiền một chiều, gồm các yêu cầu phê duyệt trước, những
hạn chế về số lượng, hạn mức định hướng hoặc kiểm tra nhu cầu hợp lý. Hạn
mức định hướng định ra số lượng ngoại tệ tối đa được phép mua khi khai báo
các mục đích GD được phép- chủ yếu phục vụ cho yêu cầu thống kê, phân tích
số liệu luồng ngoại tệ ra vào của một quốc gia. Khi số lượng vượt quá những
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
giới hạn này sẽ được phép GD nếu chứng minh được là có nhu cầu hợp lý thông
qua việc xuất trình các chứng từ phù hợp. Cũng có thể áp dụng kiểm tra nhu cầu
hợp lý đối với các GD chưa bị hạn chế số lượng.
* Quy định các GD chuyển tiền một chiều về nước gồm các quy định điều
chỉnh việc nhận ngoại tệ từ các GD chuyển tiền về nước, các hạn chế đối với
việc chuyển đổi sang nội tệ và sử dụng các khoản tiền nhận được. Thông thường
ở Việt Nam phần này được quy định trong các văn bản về chuyển tiền kiều hối.
b/ Những hạn chế liên quan đến các GD vốn
Gồm: + Các quy chế tác động tới sự di chuyển vốn như sự ngăn cấm, yêu cầu
phê duyệt trước, uỷ quyền và thông báo.
+ Quy định về lãi suất áp đặt bởi cơ quan quản lý việc kí kết và thực
hiện các GD hay chuyển tiền đối với việc chuyển vốn vào và ra nước ngoài.
+ Các quy định liên quan đến đầu tư trực tiếp đề cập đến việc đầu tư với
mục đích thiết lập quan hệ kinh tế lâu dài chủ yếu để sản xuất hàng hoá dịch vụ,
đặc biệt là đầu tư cho phép thực hiện kiểm soát quản lý có hiệu quả, bao gồm
thâm hụt TK vãng lai gây sức ép lên quan hệ cung cầu ngoại tệ trong nước và tỷ
giá hối đoái ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định giá trị đồng bản tệ và gây tác
động xấu đến sự phát triển và tăng trưởng kinh tế quốc dân.
Để tài trợ thâm hụt TK vãng lai, cần phải hạn chế có chọn lọc luồng ngoại tệ
đi ra và khuyến khích nguồn ngoại tệ đi vào quốc gia phù hợp với từng giai đoạn
phát triển của nền kinh tế. Các hạn chế đối với hoạt động ngoại hối được thể
hiện ở một số nội dung liên quan đến chính sách hạn chế NK, chuyển tiền một
chiều trong nước ra nước ngoài, các quy định bắt buộc phải chuyển các nguồn
thu vãng lai về nước, thực hiện chính sách kết hối nhằm tập trung nguồn ngoại
tệ vào hệ thống ngân hàng để đáp ứng nhu cầu NK thiết yếu cho nền kinh tế.
Ngoài ra, để tài trợ thâm hụt TK vãng lai và có thêm nguồn lực để phát triển
kinh tế, các nước đã có nhiều biện pháp khuyến khích đầu tư, vay nợ nước
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ngoài. Tuy nhiên, thâm hụt TK vãng lai không thể luôn tài trợ bằng cách tăng nợ
nước ngoài, làm như vậy sẽ dẫn đến tình trạng tăng luồng vốn ra (trả nợ gốc và
lãi) kéo theo tình trạng không có khả năng duy trì nợ nước ngoài dẫn đến khủng
hoảng nợ. Điển hình là cuộc khủng hoảng Tài chính ở Châu á năm 1997 mang
đặc điểm của cuộc khủng hoảng Tài chính vốn mà nguyên nhân là phần lớn
lượng vốn chảy vào từ khu vực tư nhân có liên quan tới cán cân thanh toán và
mang tính ngắn hạn, tiếp theo là sự đảo lộn của luồng vốn ra một cách ào ạt. Để
khắc phục tình trạng trên đòi hỏi các nước tiếp nhận dòng vốn vào phải có sự
quản lý thận trọng đối với các GD vốn và quan tâm hơn nữa đến vấn đề thâm
hụt TK vãng lai và khả năng duy trì nợ.
1.2 Chính sách QLNH
1.2.1 Khái niệm về chính sách QLNH
a/ Khái niệm
Chính sách QLNH là bộ phận của chính sách tiền tệ quốc gia, là một trong
những công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế. Nó bao gồm
những quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động ngoại hối như mua bán, đầu tư,
vay, cho vay và các GD khác về ngoại hối của các bên liên quan nhằm thực hiện
kiểm soát chặt chẽ các luồng vận động ngoại hối nhưng Nhà nước không độc
quyền nắm giữ hoạt động kinh tế đối ngoại. Việc QLNH đối với các tổ chức, cá
nhân đã được mở rộng hơn so với chính sách độc quyền QLNH. Các tổ chức, cá
nhân có nguồn thu, chi ngoại tệ được phép mở TK ngoại tệ tại ngân hàng. Tuy
nhiên, việc quản lý nguồn thu từ XK vẫn bị ràng buộc bởi trách nhiệm phải bán
toàn bộ số ngoại hối cho các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ. Khi cần
ngoại tệ để thanh toán cho các GD với nước ngoài, các đơn vị kinh tế phải được
sự đồng ý của các cơ quan có thẩm quyền và được các ngân hàng đáp ứng ngoại
tệ- các GD trong nước được quy định thực hiện bằng ngoại tệ.
c/ Chính sách nới lỏng QLNH
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, với sự mở rộng hoạt động thương mại đầu tư
quốc tế cho tất cả các TPKT tham gia thì chính sách QLNH thông thường được
áp dụng là chính sách nới lỏng QLNH nhằm tạo điều kiện thúc đẩy giao lưu
thương mại, đầu tư quốc tế phát triển. Lúc này, Nhà nước QLNH thông qua các
công cụ TT và thông qua TT hối đoái. NHTW với tư cách là một thành viên TT
điều tiết thông qua hành động mua và bán ngoại tệ trên TT ngoại hối. Khi cần
huy động ngoại tệ để thực hiện quá trình cải tổ, phát triển nền kinh tế, NHTW sẽ
sử dụng công cụ lãi suất, tỷ giá để thu hút ngoại tệ trong nền kinh tế. Đối với các
tổ chức, cá nhân được chủ động sử dụng nguồn ngoại tệ của mình như các
quyền sở hữu, cất trữ và gửi tại ngân hàng... Dù vậy, nếu bối cảnh nền kinh tế
tiềm ẩn nguy cơ lạm phát thì việc sử dụng chính sách ngoại hối nới lỏng sẽ dẫn
đến tình trạng đôla hoá nền kinh tế.
d/ Chính sách tự do hoá ngoại hối
Trong điều kiện nền kinh tế phát triển, tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế
với việc dỡ bỏ các rào cản thương mại, chu chuyển hàng hoá và chu chuyển vốn
được vận hành theo cơ chế TT thì điều đó đã làm nền tảng cho chính sách tự do
QLNH. Nhà nước điều tiết TT thông qua các chính sách vĩ mô và các công cụ
TT, giảm tới mức tối đa việc can thiệp trực tiếp mang tính hành chính, mệnh
lệnh để TT vận hành theo tín hiệu cung cầu của TT. Giá cả hàng hoá và đặc biệt
ngoại tệ đi ra (thanh toán NK hàng hoá, dịch vụ, trả lãi đầu tư, chuyển tiền một
chiều...).
- Thông thường, việc theo dõi luồng ngoại tệ đi vào được thực hiện qua yêu
cầu bắt buộc người cư trú có nguồn thu vãng lai phải chuyển về nước và khai
báo để các cơ quan chức năng nắm được lượng ngoại tệ đi vào.
- Quy định về nghĩa vụ bán ngoại tệ từ các nguồn thu vãng lai (kết hối) cũng
được xem là một bộ phận của hoạt động QLNH đối với các GD vãng lai được
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhiều quốc gia sử dụng. Người cư trú bắt buộc phải bán một lượng nhất định
(thường theo tỷ lệ %) trong số nguồn thu ngoại tệ từ các GD vãng lai của mình
cho các NHTM. Đây là một biện pháp hành chính nhằm tăng cung ngoại tệ cho
nền kinh tế.
- Kiểm soát luồng ngoại tệ đi ra chủ yếu tập trung vào các quy định về điều
kiện được mua và chuyển ngoại tệ ra nước ngoài. Thông thường, các quốc gia
áp dụng QLNH đều quy định những đối tượng mua bán được phép mua ngoại tệ
và giới hạn tối đa lượng ngoại tệ được mua. Người cư trú thuộc đối tượng được
phép mua ngoại tệ khi có nhu cầu ngoại tệ để thanh toán cho phía nước ngoài
phải xuất trình những giấy tờ chứng minh nhu cầu được phép. Trong trường hợp
tất cả các đối tượng đều được phép mua ngoại tệ phục vụ cho các GD vãng lai
với số lượng không hạn chế thì đồng tiền của quốc gia đó được công nhận là có
khả năng chuyển đổi hoàn toàn đối với cán cân vãng lai (hay còn gọi là tự do
hoá cán cân vãng lai). Hầu hết các quốc gia là thành viên của IMF hiện nay đều
đã và đang từng bước thực hiện tạo khả năng chuyển đổi hoàn toàn cho đồng
bản tệ đối với cán cân vãng lai.
b/ QLNH đối với các GD vốn
QLNH đối với các GD vốn nhằm mục đích thu hút nguồn vốn từ nước ngoài
và hạn chế luồng vốn đi ra. Nó được thể hiện ở quy định QLNH trong lĩnh vực
đầu tư và vay trả nợ nước ngoài.
- Hầu hết các nước đều khuyến khích nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào nền
kinh tế, đặc biệt là nguồn VĐT trực tiếp FDI. Chủ trương khuyến khích FDI thể
các quy chế GD hối đoái, tổ chức và điều hành TTNTLNH, ban hành các quy
định về trạng thái ngoại tệ...
Bên cạnh đó, các quốc gia này còn theo dõi và kiểm soát việc mở TK ở nước
ngoài của người cư trú bằng cách giới hạn mục đích sử dụng trong các trường
hợp đòi hỏi thanh toán thường xuyên cho phía nước ngoài như ngành hàng
không, hàng hải, XK lao động. Các đối tượng được mở TK ở nước ngoài phải
báo cáo tình hình sử dụng TK cho các cơ quan chức năng theo định kỳ.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.3 Chính sách QLNH của một số nước trong khu vực và trên thế giới
1.3.1 Chính sách QLNH của Trung Quốc(TQ)
Dưới đây là một số nét khái quát về quá trình chuyển đổi cơ chế QLNH của
TQ trong thời gian qua, góp phần đưa nước này gia nhập WTO một cách thành
công năm 2001.
a/ Về QLNH đối với GD vãng lai
Tháng 12/1996, TQ tuyên bố thực hiện chuyển đổi hoàn toàn đồng CNY đối
với cán cân vãng lai (theo Điều 8 Điều lệ IMF). Tuy nhiên, các DN có ngoại tệ
từ nguồn thu vãng lai vẫn phải kết hối ngoại tệ theo tỷ lệ quy định (hiện nay là
80%). Để khuyến khích kiều hối chuyển về, TQ cho phép cá nhân có kiều hối
chuyển về được tự do giữ bằng CNY hoặc ngoại tệ theo nhu cầu. Người thụ
hưởng có thể bán hoặc giữ ngoại tệ trên TK và được chuyển ngoại tệ ra nước
ngoài khi có nhu cầu. Khi có nhu cầu ngoại tệ để chuyển, mang ra nước ngoài,
cá nhân là người cư trú được mua tại ngân hàng được phép không hạn chế số
lượng khi xuất trình chứng từ chứng minh nhu cầu ngoại tệ. Trước đây, chỉ có
NHNT bán ngoại tệ cho cá nhân nhưng hiện nay đã mở rộng cho các ngân hàng
được phép kinh doanh ngoại hối. Các DN TQ chỉ được mở TK ở nước ngoài khi
được Tổng cục QLNH cấp giấy phép.
b/ Về QLNH đối với GD vốn
Việc QLNH đối với các GD vốn ở TQ được thực hiện dưới 3 hình thức là cấp
phép, đăng ký và kiểm tra. Việc tự do hoá GD vốn ở TQ được tiến hành thận
trọng. TQ chia các GD vốn thành 43 hạng mục chính, trong đó 35% số hạng
Các hợp đồng vay vốn nước ngoài trung dài hạn được quản lý chặt chẽ. Các
TCTD phải thực hiện nghiêm túc quy định về trạng thái ngoại hối, kinh doanh
có lãi liên tục trong 3 năm, kinh doanh XNK hoặc các ngành ưu tiên phát triển,
có chế độ hạch toán, kế toán chặt chẽ. Các khoản vay nước ngoài phải nằm
trong kế hoạch vay vốn nước ngoài của Nhà nước. Các DN vay vốn nước ngoài
phải hạn chế chi phí vay vốn (lãi suất và phí), tổng chi phí không được cao hơn
chi phí của các khoản vay cùng thời hạn trên TT quốc tế. Các DN không làm thủ
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
tục đăng ký khoản vay sẽ không được mở và sử dụng TK vốn chuyên dùng, gốc
và lãi không được chuyển ra nước ngoài. Các DN phải báo cáo theo định kỳ và
nếu vi phạm sẽ bị xử phạt rất nặng (100.000-500.000 CNY).
c/ Về chính sách kiểm soát việc sử dụng ngoại tệ trong nước
Để chuyển đổi đồng CNY thành đồng ngoại tệ tự do chuyển đổi, TQ hạn chế
các GD trong nước sử dụng bằng ngoại tệ. Gần đây, số dư ngoại tệ tại hệ thống
ngân hàng giảm đáng kể vì trong nước nghiêm cấm thanh toán bằng ngoại tệ.
Ngoài ra, do việc điều hành lãi suất và tỷ giá hợp lý của Ngân hàng Nhân dân
(NHND) TQ, duy trì lãi suất CNY luôn cao hơn lãi suất ngoại tệ và tỷ giá giữa
CNY và USD được duy trì ổn định nên các DN có xu hướng chuyển đổi ngoại tệ
sang nội tệ, góp phần giảm tình trạng đôla hoá.
d/ Về chính sách tỷ giá hối đoái và hoạt động ngoại hối
Từ năm 1994 TQ có nhiều chuyển biến lớn trong điều hành chính sách tỷ giá
như đưa tỷ giá chính thức lên mức cân bằng với tỷ giá TT để thống nhất hai tỷ
giá và thực hiện chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý, tạo điều kiện cho việc chuyển
đổi đồng CNY. Xoá bỏ chế độ DN được giữ ngoại tệ trên TK mà phải kết hối
ngoại tệ. Khi có nhu cầu thanh toán hàng NK thì được mua ngoại tệ tại các ngân
hàng được phép nhưng với các GD phi thương mại thì không được phép mua tại
ngân hàng. Bên cạnh đó thành lập TTNTLNH với một số chi nhánh ở các tỉnh
lớn và được kết nối bằng mạng vi tính. Các ngân hàng thực hiện GD giao ngay
trên TT này (hiện nay, TQ chưa thực hiện các GD hoán đổi, kỳ hạn, quyền lựa
chọn).
* Kết hối ngoại tệ: Mọi nguồn thu ngoại tệ (kể cả nguồn thu từ các GD vốn)
của người cư trú đều phải chuyển ngay về nước và bán cho NHTM hoặc gửi vào
TK. Chủ TK được giữ lại số ngoại tệ phải thanh toán trong vòng 3 tháng (có
chứng từ chứng minh), phần vượt trội phải kết hối trong vòng 7 ngày.
* Việc quản lý về mở và sử dụng TK ngoại tệ
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đối với người cư trú TL được mở TK ngoại tệ và gửi vào TK số tiền (có
nguồn gốc nước ngoài hoặc từ vay ngoại tệ, không được mua ngoại tệ gửi vào
TK) với số dư không vượt quá nhu cầu thanh toán trong 3 tháng. Số dư cuối
ngày được phép duy trì trên TK là 5 triệu USD đối với tổ chức và 500 000 USD
đối với cá nhân. Được gửi ngoại tệ tiền mặt vào TK nhưng không vượt quá 2
000 USD/ngày; không được rút ngoại tệ tiền mặt (trừ trường hợp được phép
mang đi nước ngoài). Còn đối với người không cư trú, không có hạn chế đặc
biệt đối với TK ngoại tệ.
TK đồng Baht của người không cư trú được phép thu từ bán ngoại tệ có nguồn
gốc từ nước ngoài hoặc trên TK ngoại tệ. Số dư trên TK đồng Baht được phép
tự do chuyển đổi ra ngoại tệ và chuyển ra nước ngoài. Số dư trên chỉ được phép
duy trì đến mức 50 triệu Baht.
* Việc quản lý vay, trả nợ nước ngoài
Các công ty đi vay trực tiếp nước ngoài rất ít mà chủ yếu thông qua các
NHTM (đặc biệt là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài). Nguồn cho vay ngoại
tệ này phải từ nước ngoài chuyển vào; được hạch toán thành quỹ riêng (các
NHTM phải xin phép NHTW để thực hiện). Do đó, các công ty vay NHTM từ
nguồn ngoại tệ này được coi là vay nước ngoài.
Hạn chế cho vay nước ngoài, một công ty chỉ cho vay nước ngoài (đối với
công ty trực thuộc hoặc liên doanh với nước ngoài không quá 25% vốn) tối đa
10 triệu USD/năm; không cho vay để đầu tư mua bất động sản và CK ở nước
ngoài. Ngân hàng, TCTC được mua, bán tài sản Tài chính nước ngoài nhưng
không vượt quá 15% vốn tự có ròng.
Hiện nay, thông qua hệ thống TK (kể cả TK lưu ký CK) và hệ thống báo cáo,
của các nước trên.
Kiểm soát đối với XNK giấy bạc ngân hàng. Mọi người vào và ra khỏi Mĩ
mang theo hơn 10.000 USD bằng bản tệ hoặc ngoại tệ, séc du lịch, thẻ rút tiền,
CK chuyển nhượng vô danh phải khai báo cho Hải quan cửa khẩu.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Các GD vãng lai được tự do hoá. Các GD vốn còn một số hạn chế trong việc
mua, bán CK trên TT vốn dài hạn. Đối với việc kiểm soát hoạt động đầu tư trực
tiếp, chỉ cấm đầu tư của nước ngoài nếu đe doạ an ninh quốc gia.
1.3.4 Bài học kinh nghiệm rút ra từ cơ chế QLNH của các nước
Qua những nét khái quát về cơ chế QLNH của Trung Quốc, Thái Lan và Mĩ
có thể nói chính sách QLNH của từng quốc gia rất khác nhau và luôn thay đổi
phù hợp với từng giai đoạn và mức độ phát triển của nền kinh tế; đồng thời có
sự quan hệ chặt chẽ giữa chính sách QLNH và các chính sách kinh tế khác như
chính sách về thương mại, đầu tư, lãi suất, thuế...
Chính sách QLNH của từng quốc gia phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền
kinh tế nói chung và của TT Tài chính-Tiền tệ nói riêng. Cụ thể ở Trung Quốc
và Thái Lan là những nước đang phát triển với TT Tài chính-Tiền tệ chưa ổn
định và hoạt động chưa có hiệu quả thì chính sách QLNH còn phải kiểm soát
các GD chuyển ngoại tệ vào và ra khỏi đất nước nhằm đảm bảo cân bằng cung
cầu ngoại tệ, ổn định TT Tiền tệ và không làm suy giảm DTNH quốc gia. Còn
Mĩ là một nước kinh tế phát triển, tự do hoá thương mại, đầu tư và có TT Tài
chính-Tiền tệ phát triển năng động và hiệu quả nên việc kiểm soát luồng chu
chuyển ngoại tệ là không cần thiết và chủ yếu để TT tự điều tiết theo quy luật
cung cầu. Chính phủ chỉ sử dụng các chính sách vĩ mô và các công cụ TT để
định hướng TT hoạt động có hiệu quả.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, hầu hết các nước đang phát triển có xu hướng
ngày càng nới lỏng chính sách QLNH. Tuy nhiên, mỗi quốc gia tuỳ thuộc bối
cảnh nền kinh tế mà có những bước đi thích hợp để từng bước tự do hoá ngoại
hối cho phù hợp. Nhìn chung cần có sự thận trọng trong quá trình dỡ bỏ các hạn
chế ngoại hối nhằm ổn định tiền tệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
tiết vĩ mô một cách có hiệu quả. Đồng Việt Nam được đánh giá cao hơn giá trị
thực của chúng. Các DN XK phải kết hối toàn bộ số ngoại tệ thu được; khi có
nhu cầu được phép của cấp có thẩm quyền thì DN được các NHTM cung ứng
ngoại tệ. Trong điều kiện này, các DN XNK rất thụ động trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, làm cho hoạt động ngoại thương trì trệ kém phát triển.
Nghiêm cấm hoạt động kinh doanh ngoại hối của các TCKT, các cá nhân và
nghiêm cấm việc lưu thông, tàng trữ ngoại hối dưới mọi hình thức.
Các TCKT, các tổ chức xã hội có nguồn thu ngoại tệ phải kết hối 100% số
ngoại tệ thu được.
Hạn chế tối đa việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài.
2.1.2 Tác động của chính sách độc quyền về quản lý và kinh doanh ngoại hối đối
với nền kinh tế.
a/ Đối với hoạt động XNK
Để thực hiện chính sách độc quyền về ngoại thương, Nhà nước chỉ cho phép
một số ít các DN quốc doanh được trực tiếp tham gia hoạt động XNK với các
điều kiện phải đáp ứng các yêu cầu về vốn (trên 200 000 USD), có giấy phép
kinh doanh- hoạt động XNK... Ngoài ra, Nhà nước cũng kiểm soát chặt chẽ các
danh mục cũng như giá trị hàng hoá trao đổi mua bán trên TT quốc tế. Nhiều
mặt hàng còn bị quản lý bằng Quota, giấy phép và hạn ngạch... Với sự kiểm soát
chặt chẽ về ngoại thương nên trong giai đoạn này, kim ngạch XNK tăng không
đáng kể và cán cân thương mại ngày càng bội chi.
Thực trạng bội chi của cán cân thương mại là một phần hậu quả của sự bất hợp
lý của cơ chế tỷ giá; đồng Việt Nam bị đánh giá cao đã khuyến khích NK và cản
trở XK. Giá trị XK đã không bù đắp được nhu cầu NK, cán cân thương mại
thâm hụt dẫn đến dự trữ ngoại tệ bị giảm nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, Nhà
nước lại tăng cường kiểm soát ngoại hối, bảo hộ mậu dịch, hạn chế NK... Điều
này đã làm cho nền sản xuất trong nước lâm vào tình trạng đình đốn, hoạt động
cầm chừng vì thiếu vật tư, nguyên liệu.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đối với hoạt động XK, mặc dù đã được Nhà nước bù lỗ thông qua tỷ giá kết