Thực trạng về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, nguyên nhân và giải pháp - Pdf 26

PHN M U
1. TNH CP THIT CA VIC NGHIấN CU TI
Hin nay ly hụn cú yu t nc ngoi ang tr thnh mt vn mang tớnh
cp thit ca ton xó hi, bi khi m mt nn kinh t th trng phỏt trin cựng
vi nhng quan h kinh t song phng, a phng thỡ vn hụn nhõn v gia
ỡnh núi chung v ly hụn núi riờng s ngy cng tr nờn phc tp vi s xut hin
ca nhng yu t nc ngoi trong cỏc quan h.
Ly hôn là một hiện tợng xã hội mang bản chất giai cấp sâu sắc, do đó quan
điểm về ly hôn của các chế độ chính trị khác nhau là không giống nhau. Dới chế độ
phong kiến, chỉ có ngời đàn ông mới đợc quyền ly hôn, thậm chí với những lý do
rất vô lý, còn ngợc lại, ngời phụ nữ không có quyền đợc ly hôn. Ngày nay, trong một
xã hội dân chủ, quyền đợc tự do ly hôn của phụ nữ luôn đợc tôn trọng. Theo pháp
luật Việt Nam, ly hôn đợc coi là một trong những quyền nhân thân của mỗi con ngời,
khi cuộc sống chung vợ chồng đã hoàn toàn tan vỡ, đời sống chung không thể kéo
dài, mục đích của hôn nhân không đạt đợc (Đ.89 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000), quan hệ vợ chồng chỉ là sự ràng buộc về mặt pháp lý thì toà án quyết định
cho ly hôn; hay Vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án giải
quyết việc ly hôn
Trong nhng nm gn õy cựng vi s phỏt trin khụng ngng ca i
sng kinh t v xó hi, s lng cỏc cỏc v vic ly hụn núi chung v ly hụn cú
yu t nc ngoi ti Vit Nam núi riờng ngy cng gia tng, xut hin nhiu vn
cn c nghiờn cu, lm sỏng t v mt lý lun v thc tin ỏp dng nhm
t hiu qu cao hn na trong vic gii quyt cỏc v vic. Do ú vic nghiờn
cu: Thc trng v vn ly hụn cú yu t nc ngoi Vit Nam, nguyờn
nhõn v gii phỏp ang tr thnh mt yờu cu vụ cựng bc thit.
2.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Hiện nay vấn đề về thực trạng ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, đã
được một số nhà nghiên cứu quan tâm, cũng có nhiều sách báo, tạp chí viết về
vấn đề này nói chung, nhưng chỉ ở một vài khía cạnh như đề tài về một số vấn đề
có yếu tố pháp lý về ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, về thủ tục giải
quyết vụ án ly hôn có một bên đương sự ở nước ngoài như thủ tục ủy thác điều

học, chúng em chỉ đi sâu nghiên cứu một số vấn đề chung có liên quan tới ly hôn
có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam và đặc biệt là nghiên cứu về thực trạng của
vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, nguyên nhân và giải pháp. Nội dung của đề
tài bao gồm những vấn đề cơ bản như: khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển,
thực trạng các vấn đề về mặt pháp luật, thực tế về ly hôn có yếu tố nước ngoài tại
Việt Nam. Đồng thời đưa ra một số qui định tương ứng của pháp luật nước ngoài
và pháp luật Việt Nam nhằm đưa ra một số giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Đề tài khoa học được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của
Chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chững và duy vật lịch sử; Tư
tưởng Hồ Chí Minh; Đường lối của Đảng về Nhà nước và pháp luật.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài khoa học cũng sử dụng các phương
pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như lịch sử, phân tích, tổng hợp, so
sánh, diễn giải, suy diễn logic và phương pháp xã hội học để làm sáng tỏ vấn đề
nghiên cứu.
6. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 4 chương:
Chương 1: Một số khái niệm chung về ly hôn có yếu tố nước ngoài
Chương 2: Pháp luật VN về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài
Chương 3: Thực trạng giải quyết và một vài kiến nghị trong việc hoàn thiện
pháp luật điều chỉnh vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG VỀ LY HÔN CÓ
YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1.1 Khái niệm Ly hôn:
Trong quan hệ hôn nhân, nếu kết hôn là hiện tượng bình thường nhằm xác
lập quan hệ vợ chồng, thì ly hôn là hiện tượng bất bình thường, là mặt trái của
hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan

tan vỡ. Nhà nước xã hội chủ nghĩa đảm bảo quyền tự do ly hôn khi quan hệ hôn
nhân thực chất không còn tồn tại.
Theo pháp luật Việt Nam, cơ sở pháp lý để chấm dứt một quan hệ vợ chồng
bằng việc ly hôn là một bản án hoặc một quyết định của Toà án. Nhà nước ta lấy
quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về hôn nhân và gia đình làm nền tảng, luôn coi
ly hôn là một giải pháp cần thiết khi cuộc hôn nhân thực sự tan vỡ. Mặc dù, ly
hôn là quyền tự do chân chính của vợ chồng, nhưng để công nhận một cuộc hôn
nhân hoàn toàn không còn tồn tại cả trên thực tế và về mặt pháp lý, những người
được giao quyền (Thẩm phán) phải áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành
để đưa ra phán quyết hợp lý, hợp tình. Việc nhà nước can thiệp vào việc ly hôn
không chỉ nhằm bảo vệ lợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ này, mà còn
nhằm mục đích bảo vệ nhà nước và xã hội.
V cỏc cn c cho ly hụn, iu 89 LHNG Vit Nam nm 2000 quy nh
nh sau:
1. To ỏn xem xột yờu cu ly hụn, nu xột thy tỡnh trng trm
trng, i sng chung khụng th kộo di, mc ớch ca hụn nhõn
khụng t c thỡ To ỏn quyt nh cho ly hụn.
2. Trong trng hp v hoc chng ca ngi b To ỏn tuyờn b
mt tớch xin ly hụn thỡ To ỏn gii quyt cho ly hụn.
Theo quy nh trờn, ta thy trong ly hụn khụng cú yu t li, tức là khi xem
xột quyt nh cho ly hụn, To ỏn ch cn c vo bn cht ca cuc hụn nhõn m
khụng xem xột n yu t li ca v, chng. Nh ó phõn tớch Phn m u, n
gin mt iu, hụn nhõn khụng th duy trỡ c nu khụng t c mc ớch ban
u ca nú. Hụn nhõn ớch thc l iu kin vun p tỡnh yờu gia mt ngi n
ụng v mt ngi n b, nu sau mt thi gian chung sng, tỡnh yờu khụng nhng
khụng c vun p, m cũn b mi mũn v s mi mũn khụng th cu chữa thì hôn
nhân là giải pháp hữu hiệu cho cả đôi bên.
Theo quy nh ca phỏp lut Vit Nam, ly hụn c ghi nhn trong cỏc
vn bn phỏp lut nh B lut Dõn s (BLDS), Lut Hụn nhõn v gia ỡnh. iu
42 BLDS Vit Nam nm 2005 quy nh V, chng hoc c hai ngi cú quyn

quốc tịch hoặc có nhiều quốc tịch nhưng không có quốc tịch Việt Nam; quan hệ
ly hôn giữa những người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam. Theo
Điều 9 khoản 2 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10.7.2002 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của LHNGĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài thì “người nước ngoài thường trú tại Việt Nam là công dân
nước ngoài và người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt
Nam”. Điều này thể hiện sự quy định chặt chẽ hơn so với Nghị định 83/CP/1988
ngày 10.10.1988 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch (sau đây gọi là Nghị định
83/CP) về quyền đăng ký kết hôn giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam.
Bởi theo Nghị định 83/CP thì việc đăng ký kết hôn giữa người nước ngoài với
nhau tại Việt Nam, bao gồm cả thường trú và tạm trú, trong đó có thể hiểu là cả
những người nước ngoài vào du lịch, công tác…, nếu có yêu cầu đều sẽ được cơ
quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện các thủ tục về hôn nhân và gia đình.
LHNGĐ năm 2000 quy định chỉ quan hệ ly hôn phát sinh giữa những người nước
ngoài thường trú tại Việt Nam (nghĩa là có thời gian nhất định chịu sự điều chỉnh
của pháp luật Việt Nam) mới được coi là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
- Căn cứ để chấm dứt quan hệ hôn nhân theo pháp luật nước ngoài. Nãi
c¸ch kh¸c, sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở nước ngoài.
Đối với những quan hệ này, yếu tố chủ thể là công dân nước ngoài và người
không quốc tịch không được đặt ra. Nghĩa là, trong trường hợp các bên chủ thể
tham gia đều là công dân Việt Nam, nhưng nếu sự kiện pháp lý là chấm dứt quan
hệ hôn nhân xảy ra ở nước ngoài, thì quan hệ đó là quan hệ ly hôn có yếu tố nước
ngoài.
- Tài sản liên quan đến quan hệ ly hôn ở nước ngoài: Cũng giống như yếu tố
thứ hai, mặc dù chủ thể của quan hệ là công dân Việt Nam nhưng tài sản liên quan
đến quan hệ không nằm trên lãnh thổ Việt Nam mà ở nước ngoài, thì quan hệ đó
cũng được coi là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Ngoài ra, cũng theo quy định của LNHGĐ năm 2000, tại khoản 4 Điều 104
về chọn luật áp dụng cho quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì: “Bản án, quyết
định ly hôn của Toà án hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài được

1.2.1 Quan hệ về nhân thân
Quan hệ giữa vợ chồng sau ly hôn:
Cũng như các trường hợp ly hôn thông thường, việc ly hôn sẽ được coi là
căn cứ làm chấm dứt quan hệ vợ chồng. Việc chấm dứt này thường là do một bên
yêu cầu hoặc do cả hai bên thuận tỡnh và phải được Toà án công nhận bằng văn
bản cho phép ly hôn hoặc quyết định công nhận sự thuận tỡnh ly hụn của các
đương sự. Sau khi bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực thỡ quan hệ vợ
chồng sẽ chính thức chấm dứt.
Quan hệ giữa cha, mẹ và con cái sau ly hôn:
Ly h«n lµm chÊm døt quan hệ vợ chồng tuy nhiên nó không hề làm chấm
dứt quan hệ giữa cha, mẹ và con cái. Việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái là quyền
lợi đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ cả trước và sau khi ly hôn. Tuy nhiên sau
khi ly hôn sẽ làm phát sinh một vài vấn đề trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái.
Ví dụ như sau khi ly hôn, đương nhiên con cái không thể chung sống được với cả
cha lẫn mẹ. Do vậy, việc giao con chưa thành niên cho một trong hai người nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục là điều cần thiết, tuy nhiên điều này không phải là
tước đi quyền làm cha, làm mẹ của phía bên kia. Khi quyết định giao con chưa
thành niên cho ai (trong hai vợ chồng) nuôi dưỡng Toà án phải xem xét đến hoàn
cảnh thực tế của mỗi bên, nhằm đảm bảo lợi ích về mọi mặt cho đứa trẻ. Bên
cạnh vấn đề giao con cho ai nuôi thì việc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn, thay đổi
nuôi con sau ly hôn… cũng là những vấn đề mới phát sinh trong quan hệ cha mẹ,
con cái sau khi ly hôn nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng.
1.2.2 Quan hệ về tài sản
Cũng giống như quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng cũng sẽ
chấm dứt kể từ sau khi bản án hay quyết định của Toà án về việc ly hôn có hiệu
lực pháp luật. Tuy nhiên, việc chia tài sản sau ly hôn là vấn đề hết sức phức tạp,
từ việc chia tài sản chung của vợ chồng đến việc xác định tài sản riêng của các
bên trong thời kỳ hôn nhân…Đặc biệt, việc giải quyết quan hệ tài sản trong ly
hôn có yếu tố nước ngoài còn gặp khó khăn hơn nữa bởi việc xác định khối tài
sản khi tài sản đó ở nước ngoài, việc lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài

b. Giai đoạn từ 1945 đến trước khi ban hành luật hôn nhân và gia đình
1986
Giai đoạn này được chia làm 3 giai đoạn nhỏ hơn đó là giai đoạn từ 1945
đến 1975; từ 1954 đến 1975; từ 1975 đến 1986. Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn
nhân có yếu tố nước ngoài trong cả giai đoạn này có đặc điểm chung đó là chưa
có điều luật nào quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự thủ tục cũng như đối
tượng điều chỉnh hay nội dung điều chỉnh quan hệ hôn nhân và đặc biệt là vấn đề
ly hôn có yếu tố nước ngoài chưa được đề cập đến. Hệ thống pháp luật điều chỉnh
nội dung này tuy vẫn chỉ là hệ thống pháp luật của quốc gia nhưng có thể thấy
được một vài điểm tiến bộ, phần nào đã quan tâm hơn đến vấn đề hôn nhân có
yếu tố nước ngoài.
- Giai đoạn từ 1945 đến 1954:
cách mạng tháng 8 thành công khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa. Chính quyền non trẻ vừa ra đời đã phải tiếp tục chống trọi với thù trong giặc
ngoài bởi vậy toàn bộ nhân lực vật lực đều phải dành cho chiến trường lớn đó
chính là nguyên nhân làm cho gia đoạn này chúng ta ban hành rất ít những văn
bản pháp luật điều hcinhr các vấn đề dân sự trong đó có quan hệ hôn nhân và gia
đình nói chung và ly hôn nói riêng. Bởi vậy những bộ luật dân sự: Dân sự pháp
điển Bắc kỳ (1931), Dân pháp điển Trung kỳ (1936) và Pháp quy giả yếu (1883)
vẫn được sử dụng như một nguồn luật chính để điều chỉnh quan hệ dân sự phát
sinh trong phạm vi cả nước theo tinh thần của sắc lệnh được Hồ chủ tịch kí vào
10.10.1945
Các văn bản pháp luật sau đó đã từng bước đề cập đến các mặt của quan hệ
hôn nhân gia đình và trong đó có vấn đề li hôn có yếu tố nước ngoài. Có thể kể ra
đây những bước phát triển đó là:
Điều 1 sắc lệnh số 51-SL ngày 17/4/1946 quy định về thẩm quyền của Tòa
án trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, tuy chỉ rất
chung chung: "Trong toàn cõi Việt Nam, các Tòa án Việt Nam có thẩm quyền
đối với mọi người, bất cứ quốc tịch nào"
Về thủ tục tố tụng thì đã đề cập đến vấn đề hòa giải các vụ kiện dân sự

tình của vợ chồng trong ly hôn… đã tách quan hệ hôn nhân gia đình ra khỏi
ngành luật dân sự. Tuy vậy, cho đến thời điểm này thì vẫn chưa có quy định riêng
cho việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Vấn đề này chỉ được đề cập đến sau khi có pháp lệnh tổ chức Tòa án ngày
23/3/19961. Thông qua các thông tư như thông tư số 363 /DS ngày 17/4/1961 vè
việc xử lý ly hôn đối với người cố tình giấu địa chỉ; Thông tư 1080/TC ngày
25.9.1961 hướng dẫn việc thực hiện thẩm quyền mới của TAND thuộc tỉnh, xã,
huyện, khu phố, thông tư 1080/TC quy định thẩm quyền của TAND tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương và cấp hành chính tương đương có thể lấy lên để giải
quyết các việc có liên quan đến “ngoại kiều, Việt kiều mới về nước"… thì việc
giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài thực sự được quaqn tâm và có cơ sở pháp
lí để giải quyết. Đồng thời Tòa án nhân dân tối cao cũng có công văn tuy mang
tính chất hướng dẫn trong một số trường hợp đơn lẻ. Ví dụ: Công văn số 785/DS
ngày 15.7.1966 gửi TAND tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai... về việc giải
quyết các vụ án ly hôn ở biên giới Việt - Trung nhưng cũng góp phần đáng kể
vào việc hoàn thiện hơn nữa pháp luật điều chỉnh nội dung này so với thời kỳ
trước đây.
Thông tư số 09/TATC ngày 28/6/1974 hướng dẫn việc xét xử ly hôn ở biên
giới Việt - trung đẫ có những quy định về thẩm quyền xét xử và thủ tục tố tụng
khá quan trọng như Tòa ân nhân dân của ta có quyền xử lý các vụ ly hôn trong
đó một bên đươc sự là người Việt Nam, một bên là người Trung Quốc khi có ít
nhất một bên đang cư trú ở nước ta, vụ việc phức tạp thì phi so Tòa án nhân dân
cấp tỉnh xét xử sơ thẩm, về vấn đề ủy thác lấy lời khai đương sự, nhân chứng,
tống đạt giấy tờ … được phép gửi qua đồn biên phòng bên phòng bên ta để liên
hệ yêu cầu đồn biên phòng hữu quan Trung Quốc chuyển giao cho Toà án của
Trung Quốc chứ không cần thông qua Tòa án nhân dân tối cao để góp phần tạo ra
sự nhanh chóng, thuận tiện cho các bên khi hai nước có sự tương đồng gần gũi về
mạt phong tục, truyền thống.
Thông tư số 11/TATC ngày 12/7/1974 có nêu ra các trường hợp ly hôn có
yếu tố nước ngoài, quy định các trường hợp ly hôn có nhân tố nước ngoài thuộc

luật này thì có những nguyên nhân để vợ chồng căn cứ vào đó để quyết định ly
hôn đó là:
“1. Vì sự ngoại tình của người phối ngẫu;
2. Vì người phối ngẫu bị kết án trọng hình về thường tội;
3. Vì sự ngược đãi, bạo hành hay nhục mạ có tính cách thậm từ và hay tái
diễn khiến vợ, chồng không thể ăn ở được với nhau nữa.
Ngoài ra, vợ chồng có thể xin thuận tình ly hôn nếu hôn thú được lập
trên hai năm và không quá hai mươi năm”.
Bộ luật này có quy định về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài nhưng
cũng vẫn chỉ là quy định về thủ tục và các điều kiện hôn thú mà chưa có quy định
về vấn đề ly hôn. Nhưng quy định này là cơ sở để pháp lý cho đến tận 30/4/1975
tại miến Nam.
- Giai đoạn từ 1975 đến 1986
Đất nước hoàn toàn thống nhất khi Miền Nam được hoàn toàn giải phóng
ngày 30/4/1975. Do vậy trong giai đoạn này, luật pháp trong cả nước được thống
nhất, những quan hệ hôn nhân gia đình được giải quyết theo luật Hôn nhân gia
đình năm 1959. Giai đoạn này luật hôn nhân và gia đình 1959 vẫn là căn cứ chính
để xem xét, giải quyết các vụ việc mà ít có sự thay đổi bổ sung đáng kể nào.
c. Giai đoạn từ 1986 đến trước khi ban hành luật hôn nhân gia đình năm
2000
Tình hình mới của đất nước và thế giới đòi hỏi chúng ta phi có sự đổi mới
về mọi mặt sao cho phù hợp. một trong những nội dung đổi mới đó chính là cần
có sự sửa đổi bổ sung pháp luật trên tất cả các vấn dề pháp lí trong đó cần mở
rộng hơn nữa về quy định pháp lí về các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài. Luật hôn nhân và gia đình 1986 ra đời thay thế cho luật hôn nhân và
gia đình 1959 đã dành hẳn một chương riêng quy định về quan hệ vợ chồng, quan
hệ tài sản, quan hệ cha mẹ và con, hủy việc kết hôn, ly hôn, nuôi con và đỡ đầu
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài… với những quy định khá cụ thể
và riêng biệt này đã thể hiện sự quan tâm của nhà nước tới lĩnh vực này, phù hợp
với đòi hỏi của thực tế ở giai đoạn này.

thường trú chung vào thời điểm đó thì theo pháp luật của nước nơi thường trú
chung cuối cùng của họ, nếu họ chưa có nơi thường trú chung thì theo pháp luật
Việt Nam” (khoản 1 Điều 12). Quy định thẩm quyền giải quyết việc ly hôn giữa
công dân Việt Nam và người nước ngoài là Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi thường
trú của bị đơn; nếu bị đơn không có nơi thường trú tại Việt Nam thì thuộc thẩm
quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của nguyên đơn (Điều 13).
Đây là văn bản pháp luật riêng biệt đầu tiên của Việt Nam điều chỉnh một phần
quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài và cũng là văn bản đầu tiên quy định áp
dụng tập quán quốc tế để điều chỉnh quan hệ này.
Nói Pháp lệnh về hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài năm 1993 chỉ điều chỉnh một phần quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài, bởi vì nó mới điều chỉnh quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam và
người nước ngoài, còn quan hệ hôn nhân của công dân Việt Nam với nhau diễn
ra ở nước ngoài và quan hệ hôn nhân của các công dân nước ngoài với nhau trên
lãnh thổ Việt Nam thì chưa được Pháp lệnh đề cập đến. Tuy nhiên, Pháp lệnh đã
đóng góp một vai trò quan trọng trong đời sống hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam tại giai đoạn này.
Để góp phần vào việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài,
các văn bản pháp luật liên quan khác cũng lần lượt được ban hành, đó là:
- Pháp lệnh công nhân và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của toà
án nước ngoài ngày 17.4.1993, trong đó quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, thủ
tục công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của toà án
nước ngoài (trong đó có các bản án, quyết định của toà án nước ngoài tuyên về
vấn đề ly hôn);
- Pháp lệnh thi hành án dân sự, được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua
ngày 21.4.1993, quy định về vấn đề thi hành án các bản án, quyết định dân sự sự,
trong đó có vấn đề ly hôn của Toà án nước ngoài tuyên, được quy định tại điểm d
khoản 1 Điều 3.
Nội dung các quy định trong hai Pháp lệnh kể trên là cơ sở pháp lý để các cơ
quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện nhiệm vụ của mình trong việc thi hành

hành.
đ. Giai đoạn từ khi ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đến
nay.
Qua hơn 13 năm thi hành, những nguyên tắc cơ bản và các quy định chung
của LHNGĐ năm 1986 vẫn tiếp tục phát huy hiệu lực trong đời sống xã hội, được
nhân dân tôn trọng và chấp hành. Tuy nhiên, LHNGĐ năm 1986 ban hành trong
năm đầu của thời kỳ đổi mới, nên nhiều quy định của luật chưa phù hợp với sự
vận động của các quan hệ hôn nhân và gia đình trong cơ chế thị trường và sự giao
lưu kinh tế trong điều kiện “mở cửa và hội nhập” với các nước trong khu vực và
trên thế giới. Do đó, việc ban hành LHNGĐ năm 2000 trên cơ sở cụ thể hoá Hiến
pháp năm 1992, các quy định của BLDS về hôn nhân và gia đình, kế thừa và phát
triển những nguyên tắc cơ bản và các quy định còn phù hợp của LHNGĐ năm
1986, là một yêu cầu bức thiết, đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của đất nước trong
thời kỳ hội nhập quốc tế.
LHNGĐ năm 2000, đã giành một chương riêng (Chương XI) gồm 7 điều
quy định về chế độ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Riêng ly hôn có
yếu tố nước ngoài được quy định tại các Điều 102 và 104 LHNGĐ năm 2000 đã
chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh về hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài 1993.
Nhằm cụ thể hoá một số quy định trong LHNGĐ năm 2000 về quan hệ hôn
nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 về Quy định chi tiết một số điều của LHNGĐ về
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
Đối với việc hướng dẫn đường lối xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước
ngoài, Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16.4.2003 của Hội đồng Thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao đã quy định các điều kiện thụ lý một số vụ án ly
hôn có yếu tố nước ngoài. Vụ án ly hôn giữa các công dân Việt nam đã đăng ký
kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã ký HĐTTTP với Việt Nam,
việc đăng ký kết hôn đó phải được ghi chú vào sổ thay đổi các quy định về hộ
tịch...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status