Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:
PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN TRỊ NỘI BỘ CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC HIỆN NAY
NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
GV hướng dẫn : PGS.TS Bùi Xuân Hải
Học viên thực hiện : Nhóm 8 - Lớp: Đêm 4 – K22
1. Nguyn Viết Bảo - STT: 08
2. Nguyn Lê Bằng - STT: 07
3. Vũ Thị Việt Hoà - STT: 38
4. Dương Cao Kiều Quyên - STT: 85
5. Nguyn Thị Khánh Tâm - STT: 89
6. Phạm Đình Trung - STT: 117
7. Lê Thái Hạnh -
DANH MỤC BẢNG BIỂU
GVHD: PGS-TS Bùi Xuân Hải Nhóm 8-Đêm 4-K22
1
TP.HCM, tháng 3 năm 2013
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
Bảng
1.1: Tỷ
trọng
4. Nghị định 25/2010/NĐ-CP ngày 19/03/2010 của Chính phủ về chuyển đổi Công ty nhà nước
thành Công ty TNHH một thành viên và tổ chức quản lý Công ty TNHH một thành viên do nhà
nước làm chủ sở hữu.
5. Số liệu thống kê của cuộc Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2012 do
Ban chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương – Bộ Kế hoạch và đầu tư
6. PGS-TS Phạm Duy Nghĩa, 2012, Giáo trình Luật Kinh tế , Nhà xuất bản Công an Nhân
dân
7. TS. Nguyễn Tiết Cương, Tái cấu trúc DNNN và giải quyết vấn đề phân tách giữa chức
năng đại diện chủ sở hữu NN và chức năng QLNN đối với DNNN
8. Bùi Văn Dũng, Đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước – Thực trạng và thách thức
9. PGS TS Dương Đăng Huệ, Bài nói chuyện Tại buổi Tọa đàm "Nhà nước và doanh
nghiệp" ( />cate=108&id=1551 )
10. Các bài báo trên các trang báo điện tử:
/> />GVHD: PGS-TS Bùi Xuân Hải Nhóm 8-Đêm 4-K22
2
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
/> /> />doanh-nghiep-nha-nuoc-hien-nay/14174.tctc
/>sang-loai-hinh-cong-ty-trach-nhiem-huu-han-mot-thanh-vien-
/>hoa.aspx
/>moi-ve-quan-ly-doanh-nghiep-nha-nuoc.htm
11. Thư viện điện tử: www.tailieu.vn
MỤC LỤC
1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1
1.1. Khái niệm 1
1.2. Phân loại doanh nghiệp Nhà nước 1
1.2.1. Dựa vào mục đích hoạt động gồm: 1
1.2.2. Dựa vào tiêu chí cơ quan quản lý gồm: 1
1.2.3. Dựa vào quy mô gồm 2
a. Thực trạng 13
b. Giải pháp 15
2.1.2.3. Vấn đề nhân sự lãnh đạo của doanh nghiệp nhà nước 17
a. Thực trạng 17
b. Giải pháp 20
3. QUẢN TRỊ NỘI BỘ 23
3.1. Cơ chế quản lý nội bộ của DNNN 23
3.1.1. Mô hình quản lý trong các doanh nghiệp Nhà nước có HĐQT 23
3.1.1.1. Điều kiện để các doanh nghiệp Nhà nước có hội đồng quản trị 23
3.1.1.2. Mô hình tổ chức 24
a. Hội đồng quản trị 24
b. Tổng giám đốc (giám đốc) 25
c. Bộ máy giúp việc 25
d. Ban kiểm soát 25
GVHD: PGS-TS Bùi Xuân Hải Nhóm 8-Đêm 4-K22
4
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
3.1.2. Mô hình quản lý trong doanh nghiệp nhà nước không có HĐQT 26
3.1.2.1. Giám đốc 26
3.1.2.2. Bộ máy giúp việc 26
3.2. Thực trạng tồn tại trong cơ cấu quản trị nội bộ của DNNN và nguyên nhân 26
3.2.1. Hiện trạng “Bình mới rượu cũ” 26
3.2.2. Năng lực quản lý, lãnh đạo yếu kém 26
3.2.2.1. Sử dụng vốn nhà nước không hiệu quả 26
3.2.2.2. Không có các giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và đổi mới
công nghệ 27
3.2.2.3. Đội ngũ cán bộ quản lý tham ô, tham nhũng, tư lợi, che giấu thông tin
nhằm bòn rút tài sản 28
chính của mình. Nhà nước có cơ chế quản lý và có chính sách phù hợp với từng loại doanh nghiệp.
Đồng thời thực hiện việc mở rộng quyền và trách nhiệm của loại doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện 1 bước việc đưa loại doanh nghiệp Nhà nước hoạt
động kinh doanh hoạt động trên cùng mặt bằng pháp lý và bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế khác đảm bảo khả năng cạnh tranh của loại doanh nghiệp này.
1.3.2. Dựa vào tiêu chí cơ quan quản lý gồm:
- Doanh nghiệp trung ương do Chính phủ hoặc các bộ và cơ quan ngang bộ quản lý.
- Doanh nghiệp địa phương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Tập đoàn kinh tế nhà nước,
Tổng công ty quản lý.
1.3.3. Dựa vào quy mô gồm: Doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ.
1.3.4. Dựa vào hinh thức quản lý:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn do
Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của
Luật Doanh nghiệp.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên là công ty trách nhiệm hữu
hạn mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, trong đó tất cả các thành viên đều là công ty nhà
nước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được Nhà nước uỷ
quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
GVHD: PGS-TS Bùi Xuân Hải Nhóm 8-Đêm 4-K22
6
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
- Công ty cổ phần nhà nước là công ty cổ phần mà mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều
lệ, toàn bộ cổ đông là các công ty nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ
chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
1.4. Vai trò của các Doanh nghiệp nhà nước
- Hiện nay chúng ta đang có tổng số 3.300 DNNN, chiếm 1% tổng số các DN, giảm khoảng
400DN so với năm 2011 (do chủ trương cổ phần hóa).
Bảng
nước DN
ngoài
NN DN
FDI
Huy động vốn 33,7 50,7 15,6
Doanh thu thuần SXKD 28,0 52,5 19,5
Lợi nhuận trước thuế 45,0 25,1 29.9
Nộp ngân sách nhà nước 35,0 33,0 32,0
GVHD: PGS-TS Bùi Xuân Hải Nhóm 8-Đêm 4-K22
7
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
Các DNNN đang nắm giữ những ngành, lĩnh vực then chốt, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật
quan trọng bậc nhất cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nắm toàn bộ hệ thống kết
cấu hạ tầng kinh tế xã hội có tính huyết mạch, hầu hết các doanh nghiệp lớn là các doanh nghiệp
trong các ngành xây dựng, cơ khí chế tạo máy, luyện kim, xi măng, điện tử, hóa chất, dầu khí, thông
tin liên lạc, vận tải đường sắt, đường biển, đường không, ô tô…sản xuất hàng công nghệ tiêu dùng,
chế biến nông thủy hải sản, nắm giữ một tỷ lệ quan trọng trong những ngành kinh doanh dịch vụ,
thương mại nhập khẩu chiếm thị phần áp đảo trong huy động vốn và cho vay.
Năm 2011, các DNNN đóng góp 45% lợi nhuận trước thuế, và 28% doanh thu trong tổng số
3 loại hình DN. Hệ thống các Ngân hàng thương mại vốn đầu tư chủ yếu của Nhà nước cũng chiếm
tỷ phần áp đảo trong huy động (70%) và cho vay (64%). DNNN cũng chiếm một phần quan trọng
trong Xuất nhập khẩu, chiềm 54% kim ngạch xuất khẩu của toàn nền kinh tế. Đóng góp nguồn thu
nhập lớn và ổn định, chiếm tỷ trọng 35%, lớn nhất cho ngân sách nhà nước.
Các DNNN thực hiện hạ tầng kỹ thuật cần thiết để thu hút các doanh nghiệp có vốn trong và
tịch và thành viên hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty, KSV, TGĐ Công ty.
- Đánh giá Chủ tịch và thành viên hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty, KSV, TGĐ
Công ty, PTGD, KTT.
c. Quản lý về tài chính, kinh doanh và các vấn đề khác.
- Quyết định chiến lược, kế hoạch SXKD và kế hoạch đầu tư phát triển.
- Phê duyệt chủ trương đầu tư, mua, bán tài sản và hợp đồng vay, cho vay.
- Quy định chế độ tài chính, phân phối lợi nhuận,trích lập và sử dụng các quỹ; phê duyệt báo
cáo tài chính hàng năm.
- Quyết định các giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ; quy định cơ chế giao
nhiệm vụ và tham gia thực hiện việc cung cấp và đảm bảo các sản phẩm, dịch vụ công ích, thiết yếu
cho nền kinh tế.
- Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật, đánh giá việc thực hiện mục tiêu,
nhiệm vụ được giao, kết quả hoạt động, hiệu quả SXKD, quản lý, sử dụng, bảo toàn, phát triển vốn
của công ty.
2.1.1.3. Đối với doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ
a. Quản lý về mục tiêu hoạt động và vốn tại DNNN
Quyết định việc góp vốn, chuyển nhượng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp; thực hiện
các quyền của cổ đông, thành viên góp vốn theo quy định của pháp luật và Điều lệ của doanh
nghiệp; chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi
số vốn mà Nhà nước đã góp vào doanh nghiệp.
b. Quản lý về cơ cấu nhân sự, các chế độ khen thưởng, kỷ luật với thành viên HĐQT, BKS và TGĐ
DNNN
GVHD: PGS-TS Bùi Xuân Hải Nhóm 8-Đêm 4-K22
9
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
- Chỉ định Người đại diện để thực hiện các quyền của cổ đông, thành viên góp vốn; min
nhiệm, khen thưởng, kỷ luật Người đại diện; quyết định lương, thưởng, phụ cấp và các lợi ích khác
của Người đại diện; đánh giá đối với Người đại diện.
10
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
• Chủ trương mua, bán tài sản và hợp đồng vay, cho vay có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% vốn
điều lệ của doanh nghiệp hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ của doanh
nghiệp; chủ trương vay nợ nước ngoài của doanh nghiệp;
• Báo cáo tài chính, phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ, mức cổ tức hằng năm;
• Chế độ tuyển dụng; chế độ thù lao, tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp.
2.1.1.3. Phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà
nước
- Chính phủ trực tiếp thực hiện hoặc phân công cho Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ); phân cấp cho Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); giao cho Hội
đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Người đại diện thực hiện các quyền, trách nhiệm và nghĩa
vụ của chủ sở hữu nhà nước.
- Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước là doanh nghiệp do Thủ tướng Chính
phủ quyết định thành lập, được Nhà nước đầu tư vốn điều lệ và quản lý vốn nhà nước tại các doanh
nghiệp do các Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chuyển giao, có các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ
sau:
• Quản lý, sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước đầu tư và vốn nhà nước
tại các doanh nghiệp được giao quản lý;
• Chỉ định và đánh giá hoạt động của Người đại diện; min nhiệm, khen thưởng, kỷ luật
Người đại diện; quyết định mức lương, thưởng, phụ cấp và các lợi ích khác của Người đại
diện tại các doanh nghiệp được giao quản lý;
• Giao nhiệm vụ cho Người đại diện quyết định những nội dung quy định
• Báo cáo để Bộ Tài chính thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể
sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp được giao quản lý;
• Báo cáo để Bộ Tài chính thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược, kế
hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư phát triển 5 năm.
thay đổi, nhưng cốt lõi của những mô hình này vẫn là không có sự phân tách giữa chức năng đại
diện chủ sở hữu nhà nước và chức năng QLNN đối với các DNNN.
Nguyên nhân dẫn đến Việc thiếu phân tách giữa chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước và
chức năng QLNN đối với các DNNN:
- Quá trình chuyển quản lý vốn nhà nước ở DN từ các bộ ngành và địa phương về SCIC gặp
nhiều khó khăn và chậm tr.
Trong Luật DN, hai nguyên tắc về thực hiện quyền chủ sở hữu đối với DNNN đã được quy
định khá rõ ràng, đó là tách biệt chức năng thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước với các chức năng
khác của nhà nước và thực hiện quyền chủ sở hữu tập trung và thống nhất. Trên thực tế, cùng với
quá trình cổ phần hóa DN, TCty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) đã ra đời để thực hiện
điều này. Theo đó, tổ chức này là một đơn vị tiếp nhận phần vốn nhà nước tại các DN, để thực hiện
quyền chủ sở hữu một cách chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả nhất.
GVHD: PGS-TS Bùi Xuân Hải Nhóm 8-Đêm 4-K22
12
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
SCIC được thành lập nhằm tập trung quản lý, kinh doanh vốn nhà nước một cách chuyên
nghiệp và hiệu quả, nhưng ngay ở khâu đầu tiên là chuyển vốn về để quản lý đã trắc trở. Hơn thế,
SCIC hiện đang quản lý vốn của 900/1.060 DNNN còn lại ở thời điểm này nhưng thật ra chỉ vẻn
vẹn 3% vốn chủ sở hữu nhà nước bởi vốn chủ yếu nằm trong những DNNN lớn, các tập đoàn, TCty.
- Sự can thiệp của chủ sở hữu nhà nước vào các quyền của bộ máy điều hành của DN lại quá
cao.
72% DN 100% vốn nhà nước và 67% DNNN đã sở hữu cho rằng họ thường xuyên hoặc đôi
khi phải có sự đồng ý của chủ sở hữu nhà nước khi ký các hợp đồng thuộc thẩm quyền của HĐQT,
tổng giám đốc 30% DNNN đa sở hữu phải thường xuyên có sự đồng ý của cổ đông nhà nước khi
ký các hợp đồng thuộc thẩm quyền quyết định của bộ máy quản lý, điều hành cho dù sự đồng ý này
trên thực tế chỉ là phê duyệt chủ trương.
Điều này cho thấy thực tế, các cơ quan nhà nước đã không làm hết trách nhiệm của mình
trong vai trò chủ sở hữu, thậm chí, trong một số trường hợp lại trở thành tác nhân gây nên những
• Nhiều văn bản của các cơ quan này ban hành, áp dụng đối với DNNN không rõ là thuộc nội dung
QLNN hay là thực hiện thẩm quyền đại diện chủ sở hữu DNNN của cơ quan đó;
• Bộ máy QLNN ở các bộ và UBND cấp tỉnh thường thiên về quản lý DN thuộc sở hữu nhà nước
nhiều hơn;
• Cuối cùng, đây là nguyên nhân dẫn đến QLNN bị “méo mó” thiên vị đối với DNNN, luôn có tình
trạng không thống nhất hoặc có sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế; do chồng chéo và không
chuyên trách, chuyên nghiệp, nên khó quy định rõ và khó phân xử trách nhiệm giữa những cơ quan
đại diện chủ sở hữu này trong quá trình thực hiện và khi có vấn đề hoặc hậu quả xảy ra.
Việc phân tách giữa chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước và chức năng QLNN của các
cơ quan quản lý hành chính nhà nước sẽ giúp triển khai thực hiện một trong các cam kết gia nhập
WTO là Nhà nước phải đối xử với DNNN tương tự như các chủ DN khác đối với DN của mình -
nghĩa là Nhà nước phải đối xử bình đẳng giữa DNNN và DN ngoài nhà nước.
b. Giải pháp về phân tách giữa chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước và chức năng QLNN
tại các DNNN
Phân tách giữa chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước và chức năng QLNN
- Đây là vấn đề lớn, hết sức cần thiết và cấp bách để giúp tổ chức hiệu quả hơn nguồn lực
quốc gia trong các DNNN, tránh phân tán, chống chéo, lãng phí và cả lợi ích nhóm. Cần xây dựng
đề án riêng, gồm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, tổ chức, bộ máy, cán bộ, quan hệ
của cơ quan hoặc tổ chức này với các cơ quan có liên quan (Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng, các
cơ quan liên quan ) trình các cấp có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước quyết định. Những giải pháp
có tính định hướng như sau:
Đổi mới tư duy về thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước tách bạch với chức năng
QLNN của các cơ quan QLNN
Giải quyết vấn đề phân tách giữa chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước và
GVHD: PGS-TS Bùi Xuân Hải Nhóm 8-Đêm 4-K22
14
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
chức năng QLNN cần bắt đầu từ nhận thức về mục tiêu, yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ, phương
GVHD: PGS-TS Bùi Xuân Hải Nhóm 8-Đêm 4-K22
15
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
- Nhà nước quản lý DN bằng phương thức hay công cụ của cơ quan công quyền thông qua
các công cụ như: pháp luật (ban hành quy định pháp luật và tổ chức thực hiện); chính sách (ban
hành chính sách và tổ chức thực hiện); chiến lược, quy hoạch, kế hoạch (ban hành chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện); và bằng bộ máy cơ quan QLNN (thực hiện hay ứng xử của
công chức, viên chức nhà nước).
- Chủ sở hữu quản lý đối với DNNN thông qua sử dụng quyền lực của người chủ trong quan
hệ với DNNN, nhưng không vượt quá giới hạn pháp luật cho phép (pháp luật không cấm hoặc hạn
chế). Chủ sở hữu sử dụng các công cụ thuộc quyền năng của mình để quản lý đối với DNNN như sử
dụng bộ máy quản lý của chủ sở hữu; ban hành và chỉ đạo thực hiện các quy định, quy chế thuộc
thẩm quyền người chủ không trái pháp luật; ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược,
quy hoạch và kế hoạch của DN, v.v…
Lợi ích của việc phân tách chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước và chức năng QLNN:
- Thúc đẩy cải cách hành chính trong các cơ quan QLNN; làm rõ được chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn, trách nhiệm của bộ máy và cán bộ theo từng chức năng quản lý.
- Hạn chế được tình trạng nhiều đầu mối, phân tán, chồng chéo, thiếu phối hợp hoặc đùn đẩy
trách nhiệm, nhiệm vụ giữa các cơ quan; giữa các bộ phận trong cùng cơ quan.
- Hạn chế được tình trạng làm méo mó môi trường kinh doanh do sử dụng quyền lực cơ
quan hành chính công quyền ban hành chính sách hoặc ứng xử thiên lệch với DNNN.
- Tạo điều kiện để thúc đẩy thực hiện chuyên môn hoá, chuyên nghiệp tổ chức, bộ máy và
nhân sự trong các cơ quan QLNN; thực hiện có hiệu lực, hiệu quả, chuyên trách, chuyên nghiệp
chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước; bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà nước trong hoạt động kinh
doanh.
Tách về tổ chức và bộ máy thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước.
Nguyên tắc phân tách:
Tách về tổ chức và cán bộ làm công tác quản lý của chủ sở hữu nhà nước với tổ chức và cán
về khoảng trống pháp luật về quyền chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN, hoặc về những mâu thuẫn,
tính hiệu lực trong thực hiện một loạt các văn bản có liên quan đến quyền chủ sở hữu nhà nước, của
đại diện chủ sở hữu tại TĐKTNN, công ty mẹ, công ty con. Đó là những văn bản pháp luật có liên
quan như: Nghị định 132/2006/NĐ-CP (về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà
nước đối với công ty nhà nước); Nghị định 101/2009/NĐ-CP (về TĐKTNN); Nghị định
111/2007/NĐ-CP (về công ty mẹ-công ty con); Nghị định 25/2010/NĐ-CP (về quản lý, giám sát của
chủ sở hữu nhà nước đối với công ty TNHH một thành viên); Nghị định 141/2007/NĐ-CP (quy
định chế độ tiền lương đối với công ty mẹ do Nhà nước là chủ sở hữu và các công ty con trong
TĐKT), và một số quy định khác.
Hiện nay, khung pháp luật điều chỉnh doanh nghiệp nhà nước còn một số hạn chế sau đây:
GVHD: PGS-TS Bùi Xuân Hải Nhóm 8-Đêm 4-K22
17
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
Thứ nhất, các vấn đề phát sinh trong việc tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp nhà nước,
đặc biệt là những vấn đề liên quan đến việc thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với doanh
nghiệp còn chịu sự điều chỉnh của các văn bản dưới luật.
Thứ hai, pháp luật về doanh nghiệp nhà nước không còn duy trì được tính đồng bộ và tính
hệ thống. Kể từ ngày 01/7/2010, các công ty nhà nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước
năm 2003 đã phải chuyển đổi sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005. Hậu quả là nhiều
quy định trong các văn bản pháp luật nêu trên đã không còn được áp dụng nữa vì không còn đối
tượng điều chỉnh là công ty nhà nước.
Thứ ba, nhiều quy định điều chỉnh việc thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với doanh
nghiệp còn sơ sài, chưa đầy đủ, đặc biệt là đối với các tổng công ty và tập đoàn kinh tế. Hậu quả là,
nhiều vấn đề phát sinh trong hoạt động của các DNNN này không có pháp luật để điều chỉnh hoặc
điều chỉnh không đến nơi đến chốn.
Thứ tư, nội dung của nhiều quy định còn chưa hợp lý. Chẳng hạn, Nghị định 07/1999/NĐ-
CP ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở DNNN và công khai tài chính ở DNNN và Nghị định
87/2007/NĐ-CP về Quy chế thực hiện dân chủ ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn đều
Nghị định số 63/2001/NĐ-CP về chuyển đổi DNNN, DN thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
xã hội thành công ty TNHH một thành viên được Chính phủ ban hành từ tháng 9/2001 nhưng phải
đến tháng 3/2002 Bộ Tài chính mới có thông tư hướng dẫn xử lý tài chính khi chuyển đổi.
- Thiếu khung pháp lý cho quản trị.
Hiện nay vẫn chưa tạo lập được đầy đủ và đồng bộ khung pháp lý cho quản trị DNNN. Cho
đến nay, các DNNN đã chuyển sang hoạt động theo Luật DN nhưng vẫn "chiểu" theo các quy định
của Luật DNNN. Ví dụ như các tập đoàn kinh tế nhà nước vẫn áp dụng quy định tại Nghị định
101/2009/NĐ-CP về thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước.
Điều này làm giảm hiệu quả của công tác cổ phần hóa DNNN theo yêu cầu của Luật DN.
Một ví dụ cụ thể là Vinaconex - đơn vị đầu tiên thực hiện thí điểm cổ phần hóa tổng công ty
theo quyết định của Thủ tướng. Tại thời điểm Vinaconex tiến hành cổ phần hóa, do chưa có văn bản
quy định cụ thể việc cổ phần hóa tổng công ty nhà nước, Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển DN, Bộ
Xây dựng và Bộ Tài chính đã chỉ đạo Vinaconex áp dụng Nghị định 187/2004/NĐ-CP. Tuy nhiên,
Nghị định 187/2004/NĐ-CP chỉ quy định cho việc cổ phần hóa các DNNN thông thường, đơn lẻ,
quy mô nhỏ mà thiếu các quy định chi tiết và cụ thể liên quan đến việc cổ phần hóa toàn bộ một
tổng công ty nhà nước Mặc dù sau này Chính phủ ban hành Nghị định 109/2007 thay thế Nghị
định 187/2004 nhưng vẫn có nhiều nội dung chưa phù hợp với yêu cầu của thực tế.
b. Giải pháp
Bổ sung, hoàn chỉnh khung pháp luật thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN
Để khác phục những hạn chế trên, điều cần thiết là phải có một khung pháp lý hướng dẫn
đối với hoạt động của DNNN cho phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp.
Vì vậy, cần tiến hành rà soát, đánh giá toàn diện về khung pháp luật về quyền chủ sở hữu
nhà nước và việc thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN và phần vốn nhà nước tại
các DN. Trên cơ sở đó tiến hành sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp
GVHD: PGS-TS Bùi Xuân Hải Nhóm 8-Đêm 4-K22
19
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
luật có liên quan. Trong đó, chú trọng xây dựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu
GVHD: PGS-TS Bùi Xuân Hải Nhóm 8-Đêm 4-K22
20
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
- Chế tài (cơ chế xử lý hậu quả) khi người đại diện theo uỷ quyền thực hiện quyền và nghĩa,
gây tổn hại đến lợi ích của chủ sở hữu nhà nước.
Ban hành văn bản hướng dẫn về DNNN cho phù hợp với Luật doanh nghiệp 2005.
Hiện nay, nội dung của một số văn bản luật hướng dẫn về DNNN dựa trên cơ sở Luật Doanh
nghiệp Nhà nước 2003. Tuy nhiên đến nay, Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003 đã được thay thế bởi
Luật Doanh nghiệp 2005 dẫn đến cần xem xét sửa đổi, bổ sung các văn bản luật hướng dẫn về
DNNN cho phù hợp với Luật này.
Thời gian qua, Chính phủ đã ban hành một số văn bản pháp quy có liên quan như Nghị định
số 99/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm,
nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào
doanh nghiệp; cũng như đang chỉ đạo các bộ, ngành soạn thảo các văn bản pháp quy liên quan đến
thành lập, tổ chức quản lý, cơ chế quản lý tài chính, quản lý lao động, tiền lương, tiền thưởng trong
doanh nghiệp nhà nước; về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp…
Hiện nay, tất cả các công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đều đã chuyển
sang hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Trong khi đó, Nghị định số
101/2009/NĐ-CP chỉ quy định đối với công ty mẹ hoạt động dưới hình thức công ty nhà nước. Vì
vậy, cần ban hành các quy định về công ty mẹ dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn thay thế quy định về công ty mẹ hoạt động dưới hình thức công ty nhà nước.
Việc sửa đổi bổ sung một số quy định của Nghị định số 101/2009/NĐ-CP cũng nhằm đảm
bảo sự đồng bộ và phù hợp với các quy định mới được ban hành. Bên cạnh đó, một số đề án có liên
quan cũng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc đã được trình các cấp có thẩm quyền như
đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước;
đề án tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; đề án đổi mới quản
trị doanh nghiệp theo thông lệ kinh tế thị trường; đề án tách chức năng chủ sở hữu nhà nước với
chức năng quản lý của các cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước…
Đáng lưu ý, có 30/85 tập đoàn, tổng Cty có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu trên 3 lần,
đặc biệt có 10 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ trên 10 lần (Tập đoàn Xây dựng Công nghiệp, Tổng
Cty Xây dựng công trình giao thông 5, 8 và 1; Tổng Cty Xăng dầu Quân đội, Tổng Cty Thành An,
Tổng Cty Phát triển đường cao tốc).
Mức lỗ bình quân của các tổng công ty, DNNN cao gấp 12 lần các doanh nghiệp ngoài nhà nước.
Tổng lỗ lũy kế của các tập đoàn, tổng Cty đến hết năm 2011 là 26.100 tỷ đồng.
Việc DN làm ăn phải vay mượn là chuyện bình thường, nhưng được vay mượn tới đâu (bao
nhiêu lần vốn chủ sở hữu) và nếu có rủi ro thì ai gánh chịu trách nhiệm? Câu chuyện này xem ra vẫn
đang bỏ ngỏ mặcdù theo luật, nếu để DNNN thua lỗ trong 2 năm liên tiếp thì người đứng đầu phải
ra đi.
GVHD: PGS-TS Bùi Xuân Hải Nhóm 8-Đêm 4-K22
22
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
Nguyên nhân:
Tình hình bổ nhiệm nhân sự còn mang tính hình thức, “bình mới rượu cũ”. Sau cổ phần hoá,
nhiệm vụ của các doanh nghiệp là phải tiến hành tái cấu trúc mạnh mẽ để xác định được hướng đi
của mình và hoạt động hiệu quả hơn. Tuy nhiên, một thực tế là quá trình cổ phần hoá trong những
năm qua phần lớn vẫn là quá trình khép kín. Nhà nước vẫn nắm giữ phần lớn cổ phần, bộ máy quản
lý vẫn như cũ, vẫn những con người ấy, cơ chế ấy. Theo số liệu điều tra, sau khi CPH 81,5% giám
đốc doanh nghiệp được giữ nguyên chức vụ; 78% chức danh Phó Giám đốc và kế toán trưởng
không có sự thay đổi. Rất ít doanh nghiệp sau CPH sử dụng cơ chế thuê giám đốc điều hành. Tình
trạng này sẽ làm giảm sức sáng tạo, tinh thần kinh doanh trong doanh nghiệp, ảnh hưởng tiêu cực
đến hiệu quả kinh doanh.
Chưa có chế tài chặt chẽ đối với người lãnh đạo DNNN làm ăn không hiệu quả, làm thất
thoát vốn của Nhà nước.
Theo Dự thảo Nghị định về Tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng công ty nhà nước thay thế
Nghị định 101/2009/NĐ-CP, do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì soạn thảo, đang lấy ý kiến nhân dân,
đối với công ty mẹ là công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, giao Bộ hoặc
đại diện vốn, đại diện theo uỷ quyền ở các cấp, các tầng DN, kể cả đại diện uỷ quyền của chủ sở
hữu nhà nước tại các cơ quan nhà nước. Đổi mới cơ chế tuyển chọn, sàng lọc, sử dụng đối với
những người đại diện theo uỷ quyền của chủ sở hữu nhà nước và người đại diện vốn. Cơ cấu lại
nhân lực quản trị, người đại diện theo uỷ quyền và người đại diện vốn.
- Bổ sung quy định về cơ chế thông tin, báo cáo, trách nhiệm giải trình, cơ chế đánh giá của
hệ thống những người đại diện vốn, đại diện theo uỷ quyền ở các cấp, các tầng DN; đại diện chủ sở
hữu nhà nước tại các cơ quan nhà nước.
- Xây dựng cơ chế đánh giá về việc thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối
với các cơ quan, tổ chức, cá nhân đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN và vốn nhà nước tại
các DN.
- Tăng cường trách nhiệm người đại diện theo uỷ quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với
các DNNN bằng hợp đồng ràng buộc về quyền lợi và trách nhiệm pháp lý giữa người đại diện theo
uỷ quyền và đại diện chủ sở hữu nhà nước. Trong đó, xác định rõ những quyền và nghĩa vụ của chủ
sở hữu do người đại diện trực tiếp thực hiện, quyền và nghĩa vụ cần phải thông qua ý kiến của chủ
sở hữu trước khi biểu quyết, bỏ phiếu hoặc quyết định ở công ty cũng như cơ chế xử lý hậu quả khi
đại diện theo uỷ quyền thực hiện không đúng ràng buộc theo hợp đồng gây tổn hại đến lợi ích của
cổ đông nhà nước. Người đại diện theo uỷ quyền tại DN không thực hiện chức năng quản lý hành
chính nhà nước.
Đổi mới cơ chế tuyển dụng đối với người đại diện chủ sở hữu nhà nước
Trong xu thế đang din ra ở một số nước phát triển hiện nay, khâu tuyển chọn, đào tạo, bồi
dưỡng và sử dụng cán bộ quản lý thường gắn bó, lồng ghép, đan xen nhau mang tính cạnh tranh,
sàng lọc công khai và tiêu chuẩn chính của người được tín nhiệm, được đề bạt, bổ nhiệm hoặc được
thuê là: thông minh, sáng tạo, có một số phẩm chất nổi bật, có bản lĩnh vững vàng, giàu tính nhân
GVHD: PGS-TS Bùi Xuân Hải Nhóm 8-Đêm 4-K22
24
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và quản trị nội bộ
của các DNNN hiện nay – Nguyên nhân và Giải pháp
Bộ môn: Luật kinh tế
văn, đóng góp vào sự phát triển với chất lượng và hiệu quả cao trên lĩnh vực đảm nhiệm. Có thể nói
tuyển chọn là khâu quan trọng nhất để thu hút, phát hiện người có “đức” có “tài”, đủ điều kiện đáp
thuyết trình công khai để mọi người tham gia lựa chọn. Cần kết hợp thi tuyển chuyên môn, sát hạch
GVHD: PGS-TS Bùi Xuân Hải Nhóm 8-Đêm 4-K22
25