1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xu thế hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát
triển, các nguồn tài nguyên bị khai thác một cách quá mức . Tài
nguyên rừng cũng không ngoại lệ, đặc biệt là diện tích rừng
ngập mặn . Theo một nghiên cứu Chương trình môi trường Liên
Hợp Quốc (UNEP) được đưa ra mới đây sự phá huỷ rừng ngập
mặn trên thế giới đang xảy ra với tốc độ nhanh hơn bốn lần so
với rừng trên mặt đất. Cũng trong báo cáo này thì khoảng
35.500km
2
rừng ngập mặn của thế giới - bao gồm cả hai dạng
rừng trong đất liền và ngoài biển - đã bị mất từ năm 1980. Hiện
có khoảng 150.000km
2
rừng ngập mặn được tìm thấy tại 123
nước trên thế giới. Khu vực tập chung rừng lớn nhất trên thế
giới là Indonesia (21%; Brazil có khoảng 9% và Úc là 7%).
Mặc dù nghiên cứu hằng năm chỉ ra rằng sự biến mất của
rừng ngập mặn đã giảm xuống 0,7%/năm nhưng theo nguyên
cứu nếu tiếp tục khai thác một cách ồ ạt, không có chính sách
bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn một cách hợp lí thì sự biến
mất của các cánh rừng ngập mặn chỉ là vần đề thời gian.
1 | P a g e
Việt Nam có đường bờ biển dài trên 3260 km, 12 đầm phá.
Trong hệ đầm phá thì dải rừng ngập mặn có vai trò qua trọng về
kinh tế cũng như xã hội. đặc biệt là trong bối cảnh sự nóng lên
toàn cầu và mực nước biển dâng vai trò của rừng ngập mặn trở
nên quan trọng hơn bao giờ hết. Theo nguyên cứu, Việt Nam là
một trong những quốc gia bị tác động mạnh của biến đổi khí hậu
ước tính đến năm 2100 Việt Nam có thể bị mất 12,2% diện tích
đất do biến đồi khí hậu, thiệt hại về kinh tế có thể lên tới 17 tỉ
NGẬP MẶN CẦN GIỜ
2.1. Lịch sử hình thành
Hình 2.1: Khu dự trữ sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ
Lịch sử vùng đất Cần Giờ gắn liền với lịch sử hình thành
và phát triển hơn 300 năm của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí
Minh (tính từ năm 1698, khi Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào
kinh lý miền Nam và cho lập phủ Gia Định).
Mảnh đất Cần Giờ là một trong những nơi đặt chân sớm
nhất của người Việt đi khai khẩn phương Nam. Cần Giờ là nơi
4 | P a g e
chứng kiến bao sự kiện lịch sử bi hùng của đất nước: nơi Gia
Long “tẩu quốc” bị quân Tây Sơn đánh bại ở “Thất Kỳ Giang”,
nơi tàu chiến nước Pháp đầu tiên vào xâm chiếm Nam Bộ, một
trong những địa bàn hoạt động của Bình Tây Đại Nguyên soái
Trương Định, là căn cứ kháng chiến của Việt Minh, của
quân Bình Xuyên trong thời kỳ chống Pháp, của đoàn 10 anh
hùng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ…
Trước 30/4/1975, Cần Giờ chỉ là căn cứ quân sự tiền tiêu
của địch, canh phòng cho con đường thủy huyết mạch từ biển
Đông vào cảng Sài Gòn. Sau ngày miền Nam được giải phóng,
ngày 28/2/1978, Cần Giờ được sáp nhập vào thành phố Hồ Chí
Minh.
Trước chiến tranh, Cần Giờ là khu rừng ngập mặn với
quần thể động thực vật phong phú. Nhưng trong chiến tranh
bom đạn và chất độc hóa học đã làm nơi đây trở thành “vùng đất
chết”. Năm 1978, Cần Giờ được sáp nhập về thành phố Hồ Chí
Minh, và năm 1979 UBND thành phố Hồ Chí Minh phát động
chiến dịch trồng lại rừng Cần Giờ, thành lập Lâm trường Duyên
Hải (đóng tại Cần Giờ, thuộc Ty Lâm nghiệp) với nhiệm vụ khôi
5 | P a g e
8 | P a g e
Hình 2.2: Bản đồ Ranh giới Huyện cần Giờ
Vị trí của huyện Cần Giờ ở từ 106
O
46’12” đến 107
O
00’50” Kinh độ Đông và từ 10
O
22’14” đến 10
O
40’00” vĩ độ
Bắc.
Ranh giới:
Phía Đông tiếp giáp với tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa
Vũng Tàu.
Phía Tây giáp với tỉnh Tiền Giang và tỉnh Long An.
Phía Bắc giáp với huyện Nhà Bè TP. HCM.
Phía Nam giáp với Biển Đông.
Chiều dài từ Bắc xuống Nam: 35km, từ Đông sang Tây:
30km.
Rừng ngập mặn Cần Giờ nằm gọn trong huyện Cần Giờ
của Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vùng đất phù sa bồi tụ nằm
ở cửa sông lớn thuộc hệ thống sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm
Cỏ.
2.2.2. Đặc điểm địa hình
Rừng ngập mặn Cần Giờ do đất phù sa bồi tụ, mặt đất
không thật bằng phẳng, thấp dần từ Bắc xuống Nam. Ở trung
tâm hình thành các lòng chảo cao -0,5m - +0,5m. Trên từng khu
9 | P a g e
vực nhỏ địa hình thay đổi nhiều nhưng độ chênh lệch cao không
• Đất cát mịn có pha rất ít bùn ven biển
• Đất phèn tiềm tàng
Trong đó, loại đất mặn phèn tiềm tàng chiếm trên diện tích
lớn nhất với các yếu tố hạn chế: lớp đất sâu chưa ổn định, đất
chứa nhiều muối (NaCl), ở lớp đất sâu chứa một lượng đáng kể
lưu huỳnh ở dạng khử.
2.2.4. Khí hậu
Khí hậu Rừng Ngập mặn Cần Giờ mang đặc tính nóng ẩm
và chưa chi phối của qui luật gió mùa cận xích đạo với 2 mùa
nắng và mưa rõ rệt:
11 | P a g e
• Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, gió hướng Tây
Nam.
• Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, gió hướng
Đông Nam.
Nhiệt độ
- Nhiệt độ trung bình: 27
O
C
- Nhiệt độ cao tuyệt đối: 33,3
O
C
- Nhiệt độ thấp tuyệt đối: 22,7
O
C
- Biên độ dao động trong ngày: 3 – 7
O
C
- Biên độ nhiệt trong tháng: 4
O
4
27.
0
26.
6
26.
2
Nguồn: số liệu khí tượng của Trạm Lâm Viên
Số giờ nắng
Hằng ngày số giờ nắng từ 7 -9 giờ, trong các tháng khô số
giờ nắng đạt 240 giờ/tháng, cao nhất 276,3 giờ trong tháng 3.
Các tháng mưa 170 giờ/tháng, tháng thấp nhất là tháng 9: 169
giờ nắng.
12 | P a g e
Lượng mưa
Cần Giờ là huyện có lượng mưa thấp nhất TP Hồ Chí
Minh (130 mm/tháng).
Bảng 2.3: Lượng mưa ở Cần Giờ
Đơn vị: mm
Thá
ng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Lư
ợng
mư
a
9.8 4.2 1.4
78.
9
250
Chịu ảnh hưởng bới 2 hướng gió chính:
13 | P a g e
• Gió mùa Tây Nam: xuất hiện tù tháng 5 – 10 ( trùng
mùa mưa ) thường đưa những cơn mưa vào nội địa.
• Gió mùa Đông Nam: xuất hiện từ tháng 11 – 4 năm
sau (trùng mùa khô).
Nơi đây chịu ảnh hưởng sâu sắc khí hậu biển, khí hậu ổn
định, ít bị bão tố thiên tai.
Độ ẩm không khí - Lượng bốc hơi
Độ ẩm cao hơn các nơi khác, trung bình từ 80 -85%.
Lượng bốc hơi trung bình 1204mm/tháng.
2.2.5. Thủy văn
Mạng lưới sông rạch
Hệ thống sông ngòi ở Huyện Cần Giờ chằng chịt, nguồn
nước từ biển đưa vào bởi hai cửa chính hình phễu là vịnh Đông
tranh và vịnh Gành Rai, nguồn nước từ sông đổ ra là nơi hội lưu
của sông Sài Gòn và sông Đồng Nai ra biển bằng hai tuyến
chính là sông Long Tàu và Soài Rạp; ngoài ra còn có sông Thị
Vải, Gò Gia và các sông phụ lưu.
Diện tích sông rạch là 22.161 ha chiếm 21,27% diện tích
toàn huyện.
Chế độ thủy triều
Rừng Ngập mặn Cần Giờ nằm trong vùng chế độ bán nhật
triều không đều của Biển Đông với biên độ lớn (3 – 4m). Hai
14 | P a g e
lần nước lớn và hai lần nước ròng trong ngày, 2 đỉnh triều
thường bằng nhau nhưng chân triều lệch rất xa.
Đặc trưng dòng chảy
Trong một ngày nước lên 2 lần, xuống 2 lần tạo ra dòng
chảy 2 chiều. Các đặc trưng dòng chảy thay đổi theo thủy triều,
Cần Giờ xem việc xây dựng Nông thôn mới là nhiệm vụ
quan trọng của tiến trình hiện đại hóa huyện. Cụ thể, huyện có 6
xã và 1 thị trấn thì hiện đang triển khai xây dựng nông thôn mới
tại 3 xã là Lý Nhơn, Bình Khánh và Tam Hiệp. Trong đó, xã Lý
Nhơn thực hiện thí điểm xây dựng nông thôn mới từ năm 2010.
Đồng thời sẽ triển khai xây dựng nông thôn mới cho 3 xã còn
lại, phấn đấu đến 2015 đạt 100% số xã nông thôn mới.
Nhờ giao thông thuận lợi, du lịch phát triển theo nên người
nông dân cũng được hưởng lợi khi đưa được những sản phẩm
nổi tiếng như: Khô cá dứa, mãng cầu, xoài, tôm, cá… ra tiêu
thụ. Chưa hết, một dự án xây cầu nối Nhà Bè và Cần Giờ thay
cho bến phà Bình Khánh cũng đang được lên kế hoạch.
Chỉ tiêu huyện đặt ra trong thời kỳ 2011-2015 là đảm bảo
tốc độ tăng trưởng từ 13% trở lên hàng năm; tổng lượng du
17 | P a g e
khách đến Cần Giờ từ 1,1-1,5 triệu lượt người vào năm 2015;
giải quyết căn bản vấn đề ô nhiễm môi trường, mở rộng diện
tích che phủ rừng và mảng xanh cảnh quan đô thị, nông thôn
Riêng thu nhập bình quân đầu người có thể đạt 4.000 - 5.000
USD/người/năm với quy mô dân số đạt 120.000 người vào năm
2020.
2.3.4. Giao thông
Cần Giờ là cửa ngõ đường thuỷ của thành phố Hồ Chí
Minh. Tàu thuyền ngoài biển vào cửa Cần Giờ ngược dòng sông
Nhà Bè vào cảng Sài Gòn, cách biển 80 km theo đường sông.
Hệ thống giao thông nông thôn phát triển nhanh, xây dựng
mới đường bộ ở các xã (ngoại trừ xã đảo Thạnh An), đường
Rừng Sác với kết cấu nền đường cấp phối sỏi đỏ hoàn thành
năm 1986 hiện đang trong tiến trình nâng cấp, mở rộng, trải
nhựa, cầu Dần Xây hoàn thành năm 2001, rút ngắn đáng kể thời
biến khá phức tạp, giá nhiên liệu tăng liên tục; song, ngư trường
đánh bắt thuận lợi, hầu hết các phương tiện đánh bắt hoạt động
thường xuyên và có hiệu.
Nghề đánh bắt ven bờ hiệu quả ổn định, có 14 phương tiện
sau thời gian hoạt động có tích lũy đã đầu tư nâng cấp máy móc,
công cụ khai thác và chuyển sang đánh bắt tuyến khơi. Tính đến
cuối năm 2012, toàn huyện có 33 phương tiện đánh bắt xa bờ và
1.412 phương tiện đánh bắt ven bờ, so với năm 2011 tăng 10
phương tiện chủ yếu đánh bắt ven bờ.
Nghề nuôi nghêu, so với mọi năm, năm 2012 mức độ thiệt
hại về nghêu chết giảm đáng kể, ước lượng nghêu chết khoảng
1.221 tấn, bằng 47% so với năm trước.
20 | P a g e
Nghề nuôi hàu tiếp tục phát triển mạnh về quy mô, diện
tích, sản lượng thu hoạch trong năm 2012 tăng gấp 2,5 lần so
với năm trước.
Nghề nuôi tôm, sau 03 năm đầu tư đạt hiệu quả, nông dân
có điều kiện tiếp tục đầu tư thả nuôi. Việc thực hiện chính sách
hỗ trợ phát triển sản xuất của Nhà nước đã giúp nông dân
chuyển đổi mô hình đầu tư theo hướng thâm canh (nuôi công
nghiệp và bán công nghiệp).
Nông nghiệp
Cần Giờ đẩy mạnh công tác triển khai nhiều giải pháp hỗ
trợ về kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm, tham quan học tập mô hình
nuôi, kết hợp với triển khai nhiều mô hình nuôi thí điểm để
khuyến khích nông dân đầu tư đa dạng hóa vật nuôi, ứng dụng
các mô hình sản xuất hiệu quả, nâng cao chất lượng sản phẩm,
đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Tại Cần Giờ có 3 loại hình sản xuất nông nghiệp chính
gồm trồng lúa, trồng cói và cây ăn trái.
Tuy nhiên, du lịch ở huyện chưa có sự phát triển đáng kể,
các sản phẩm du lịch và loại hình vui chơi còn rất khiêm tốn,
chủ yếu các cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống chưa kích thích du
khách chi tiêu từ các hoạt động dịch vụ du lịch.
Thương mại – dịch vụ
Theo số liệu thống kê năm 2012 toàn huyện có tổng số hộ
kinh doanh cá thể là 3.424 hộ, với tổng mức vốn đăng ký kinh
doanh 121 tỷ đồng. Có 136 doanh nghiệp hoạt động, so với năm
2011 giảm 36 doanh nghiệp do giải thể, đóng cửa ngừng hoạt
động.
Tổng doanh số bán ra ngành thương mại,dịch vụ tăng 22%
so với năm 2011. Mạng lưới bán lẻ hàng hóa trong năm 2012
tiếp tục được mở rộng, đặc biệt các ngành hàng kinh doanh vật
23 | P a g e
tư nuôi thủy sản, vật liệu xây dựng, hàng thuộc diện bình ổn…
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sản xuất của nhân dân; các loại hình
kinh doanh dịch vụ ăn uống tăng nhanh về quy mô doanh số.
Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
tăng 13% so với năm 2011. Năm 2012, mặc dù sản lượng muối
khai thác giảm nhưng các phân xưởng may, sản xuất nước đá,
hải sản khô hoạt động hết công xuất, sản lượng sản xuất đạt
ngoài dự kiến, góp phần tăng giá trị sản xuất khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh cũng như giá trị sản xuất toàn ngành.
Chăn nuôi
Nghề chăn nuôi ở huyện chủ yếu chăn nuôi gia súc, phục
vụ tiêu dùng ở địa phương và nuôi yến đang phát triển tập trung
ở 02 xã phía bắc, góp phần tăng giá trị kinh tế vùng nông
nghiệp; hiện có 156 nhà nuôi, sản lượng thu hoạch trong năm
ước đạt 1.400 kg.