TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
Báo cáo chuyên đề:
HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ TẠI KHU DỰ TRỮ
SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ
GVHD: ThS. Hoàng Thị Thủy
Thực hiện: Nhóm Cóc Đỏ - DH10DL
1. Nguyễn Vũ Hảo 10157056
2. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh ( NT ) 10157057
3. Phạm Phước Lộc 10157099
4. Nguyễn Thị My Ly 10157100
5. Phạm Thị Khánh Ly 10157101
6. Dương Thị Mỹ Nhi 10157131
7. Trần Thị Ni Ni 10157140
8. Bùi Thị Bích Phương 10157151
9. Trần Thị Kim Thi 10157179
10. Phạm Thị Kim Thương 10157192
TP.HCM, tháng 4/2013
Đánh giá hiện trạng quản lý tại rừng ngập mặn Cần Giờ
MỤC LỤC
Quản lý tài nguyên vùng bờ Trang 2
Đánh giá hiện trạng quản lý tại rừng ngập mặn Cần Giờ
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xu thế hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, các nguồn tài
nguyên bị khai thác một cách quá mức . Tài nguyên rừng cũng không ngoại lệ, đặc
biệt là diện tích rừng ngập mặn . Theo một nghiên cứu Chương trình môi trường Liên
Hợp Quốc (UNEP) được đưa ra mới đây sự phá huỷ rừng ngập mặn trên thế giới đang
xảy ra với tốc độ nhanh hơn bốn lần so với rừng trên mặt đất. Cũng trong báo cáo này
thì khoảng 35.500km
2
rừng ngập mặn của thế giới - bao gồm cả hai dạng rừng trong
cũng là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên ở Việt Nam. Việc khôi phục đã khó, công tác
quản lí, duy trì, phát triển còn khó hơn dây không phải là trách nhiệm của cá nhân hay
tổ chức nào mà là trách nhiệm của toàn xã hội, vì thế để biết rõ hơn về những khó
khăn, thuận lợi mà công tác quản lí rừng ngập mặn Cần giờ ở thành phố Hố Chí Minh
nói riêng và rừng ngập mặn trên cả nước nói chung gặp phải, từ đó đề xuất các biện
pháp nhằm phát triển hơn nữa về quy mô cũng như chất lượng rừng ngặp mặn chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ hiện trạng quản lí tại khu dự trữ sinh quyển rừng
ngập mặn Cần Giờ ”.
Quản lý tài nguyên vùng bờ Trang 4
Đánh giá hiện trạng quản lý tại rừng ngập mặn Cần Giờ
2. TỔNG QUAN VỀ KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN CẦN
GIỜ
2.1. Lịch sử hình thành
Hình 2.1: Khu dự trữ sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ
Lịch sử vùng đất Cần Giờ gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển hơn 300
năm của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (tính từ năm 1698, khi Thống
suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý miền Nam và cho lập phủ Gia Định).
Mảnh đất Cần Giờ là một trong những nơi đặt chân sớm nhất của người Việt đi
khai khẩn phương Nam. Cần Giờ là nơi chứng kiến bao sự kiện lịch sử bi hùng của
đất nước: nơi Gia Long “tẩu quốc” bị quân Tây Sơn đánh bại ở “Thất Kỳ Giang”, nơi
tàu chiến nước Pháp đầu tiên vào xâm chiếm Nam Bộ, một trong những địa bàn hoạt
động của Bình Tây Đại Nguyên soái Trương Định, là căn cứ kháng chiến của Việt
Minh, của quân Bình Xuyên trong thời kỳ chống Pháp, của đoàn 10 anh hùng trong
thời kỳ kháng chiến chống Mỹ…
Quản lý tài nguyên vùng bờ Trang 5
Đánh giá hiện trạng quản lý tại rừng ngập mặn Cần Giờ
Trước 30/4/1975, Cần Giờ chỉ là căn cứ quân sự tiền tiêu của địch, canh phòng
cho con đường thủy huyết mạch từ biển Đông vào cảng Sài Gòn. Sau ngày miền Nam
được giải phóng, ngày 28/2/1978, Cần Giờ được sáp nhập vào thành phố Hồ Chí
Minh.
Quản lý tài nguyên vùng bờ Trang 7
Đánh giá hiện trạng quản lý tại rừng ngập mặn Cần Giờ
Vị trí của huyện Cần Giờ ở từ 106
O
46’12” đến 107
O
00’50” Kinh độ Đông và
từ 10
O
22’14” đến 10
O
40’00” vĩ độ Bắc.
Ranh giới:
Phía Đông tiếp giáp với tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu.
Phía Tây giáp với tỉnh Tiền Giang và tỉnh Long An.
Phía Bắc giáp với huyện Nhà Bè TP. HCM.
Phía Nam giáp với Biển Đông.
Chiều dài từ Bắc xuống Nam: 35km, từ Đông sang Tây: 30km.
Rừng ngập mặn Cần Giờ nằm gọn trong huyện Cần Giờ của Thành phố Hồ Chí
Minh. Đây là vùng đất phù sa bồi tụ nằm ở cửa sông lớn thuộc hệ thống sông Đồng
Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ.
2.2.2. Đặc điểm địa hình
Rừng ngập mặn Cần Giờ do đất phù sa bồi tụ, mặt đất không thật bằng phẳng,
thấp dần từ Bắc xuống Nam. Ở trung tâm hình thành các lòng chảo cao -0,5m -
+0,5m. Trên từng khu vực nhỏ địa hình thay đổi nhiều nhưng độ chênh lệch cao không
lớn trừ khu vực Giồng Chùa cao 10,2m ( nơi cao nhất của TP.HCM ). Dòng cát ven
biển Cần Giờ và một số gò đất hoặc cồn cát rải rác cao từ 0 – 2m so với nước biển.
Địa hình huyện Cần Giờ có thể chia làm 5 dạng:
Bảng 2.1: Các dạng địa hình trong vùng ngập mặn Cần Giờ
STT Dạng địa hình Cao độ
• Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, gió hướng Tây Nam.
• Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, gió hướng Đông Nam.
Nhiệt độ
- Nhiệt độ trung bình: 27
O
C
- Nhiệt độ cao tuyệt đối: 33,3
O
C
- Nhiệt độ thấp tuyệt đối: 22,7
O
C
- Biên độ dao động trong ngày: 3 – 7
O
C
- Biên độ nhiệt trong tháng: 4
O
C
Nhiệt độ huyện Cần Giờ khá cao nhưng ổn định. Nhiệt độ giảm dần từ Bắc
xuống Nam nhưng không đáng kể.
Bảng 2.2: Nhiệt độ ở cần Giờ Đơn vị:
O
C
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Nhiệt
độ
26.0 25.8 27.5 28.0 28.0 27.4 27.3 27.4 27.4 27.0 26.6 26.2
Quản lý tài nguyên vùng bờ Trang 9
Đánh giá hiện trạng quản lý tại rừng ngập mặn Cần Giờ
Nguồn: số liệu khí tượng của Trạm Lâm Viên
Tốc độ gió bình quân 3,7 m/s.
Chịu ảnh hưởng bới 2 hướng gió chính:
• Gió mùa Tây Nam: xuất hiện tù tháng 5 – 10 ( trùng mùa mưa ) thường
đưa những cơn mưa vào nội địa.
• Gió mùa Đông Nam: xuất hiện từ tháng 11 – 4 năm sau (trùng mùa khô).
Nơi đây chịu ảnh hưởng sâu sắc khí hậu biển, khí hậu ổn định, ít bị bão tố thiên
tai.
Độ ẩm không khí - Lượng bốc hơi
Độ ẩm cao hơn các nơi khác, trung bình từ 80 -85%.
Lượng bốc hơi trung bình 1204mm/tháng.
2.2.5. Thủy văn
Mạng lưới sông rạch
Quản lý tài nguyên vùng bờ Trang 10
Đánh giá hiện trạng quản lý tại rừng ngập mặn Cần Giờ
Hệ thống sông ngòi ở Huyện Cần Giờ chằng chịt, nguồn nước từ biển đưa
vào bởi hai cửa chính hình phễu là vịnh Đông tranh và vịnh Gành Rai, nguồn nước từ
sông đổ ra là nơi hội lưu của sông Sài Gòn và sông Đồng Nai ra biển bằng hai tuyến
chính là sông Long Tàu và Soài Rạp; ngoài ra còn có sông Thị Vải, Gò Gia và các
sông phụ lưu.
Diện tích sông rạch là 22.161 ha chiếm 21,27% diện tích toàn huyện.
Chế độ thủy triều
Rừng Ngập mặn Cần Giờ nằm trong vùng chế độ bán nhật triều không đều của
Biển Đông với biên độ lớn (3 – 4m). Hai lần nước lớn và hai lần nước ròng trong
ngày, 2 đỉnh triều thường bằng nhau nhưng chân triều lệch rất xa.
Đặc trưng dòng chảy
Trong một ngày nước lên 2 lần, xuống 2 lần tạo ra dòng chảy 2 chiều. Các đặc
trưng dòng chảy thay đổi theo thủy triều, nước lớn hay nước ròng, lung triều, chân
triều hay đỉnh triều trong các kỳ triều khác nhau ( triều cường, triều trung hay triều
kém ) và thay đổi theo mùa ( mùa khô hay mùa mưa ) và mang tính chu kỳ khá rõ nét.
Quản lý tài nguyên vùng bờ Trang 11
Chỉ tiêu huyện đặt ra trong thời kỳ 2011-2015 là đảm bảo tốc độ tăng trưởng từ
13% trở lên hàng năm; tổng lượng du khách đến Cần Giờ từ 1,1-1,5 triệu lượt người
Quản lý tài nguyên vùng bờ Trang 12
Đánh giá hiện trạng quản lý tại rừng ngập mặn Cần Giờ
vào năm 2015; giải quyết căn bản vấn đề ô nhiễm môi trường, mở rộng diện tích che
phủ rừng và mảng xanh cảnh quan đô thị, nông thôn Riêng thu nhập bình quân đầu
người có thể đạt 4.000 - 5.000 USD/người/năm với quy mô dân số đạt 120.000 người
vào năm 2020.
2.3.4. Giao thông
Cần Giờ là cửa ngõ đường thuỷ của thành phố Hồ Chí Minh. Tàu thuyền ngoài
biển vào cửa Cần Giờ ngược dòng sông Nhà Bè vào cảng Sài Gòn, cách biển 80 km
theo đường sông.
Hệ thống giao thông nông thôn phát triển nhanh, xây dựng mới đường bộ ở các
xã (ngoại trừ xã đảo Thạnh An), đường Rừng Sác với kết cấu nền đường cấp phối sỏi
đỏ hoàn thành năm 1986 hiện đang trong tiến trình nâng cấp, mở rộng, trải nhựa, cầu
Dần Xây hoàn thành năm 2001, rút ngắn đáng kể thời gian lưu thông tạo nhiều thuận
lợi cho việc đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội nói chung, trong đó
có việc khai thác tiềm năng về du lịch sinh thái.
2.3.5. Đặc điểm kinh tế
Cơ cấu tỷ trọng các ngành kinh tế năm 2012(theo giá trị gia tăng): ngành nông
- lâm - ngư nghiệp chiếm 43%, ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 24% và ngành
dịch vụ chiếm 33%. Tổng giá trị sản xuất ước đạt 4.735 tỷ đồng, tăng 11,8%, trong đó
khu vực kinh tế nông nghiệp tăng 5,7%, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 8,7%
và khu vực dịch vụ tăng 21,5%.
Lâm nghiệp
Hiện nay, đã hoàn thành công tác điều tra sinh học trong vùng lõi, các hộ sản
xuất dưới tán rừng, theo dõi cây Đước chết không rõ nguyên nhân và triển khai thực
hiện 6 đề tài nghiên cứu khoa học về rừng ngập mặn Cần Giờ.
Tiếp tục thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng;
phát huy vai trò của Tổ tự quản trong phối hợp bảo vệ tài nguyên rừng, kịp thời phát
cấu kinh tế nông nghiệp.
Tại Cần Giờ có 3 loại hình sản xuất nông nghiệp chính gồm trồng lúa, trồng cói
và cây ăn trái.
Sản xuất lúa năm 2012 sản lượng thu hoạch tăng 16% , năng suất bình quân 2,6
tấn/ha.
Sản lượng cây ăn trái thu hoạch đạt khá, năng suất đạt 5 tấn/ha. Chương trình khuyến
nông, hỗ trợ xử lý sâu bệnh trên cây ăn trái (xoài) được triển khai rộng rãi, áp dụng thí
Quản lý tài nguyên vùng bờ Trang 14
Đánh giá hiện trạng quản lý tại rừng ngập mặn Cần Giờ
điểm mô hình trồng xoài theo tiêu chuẩn GAP nhằm khuyến khích nông dân nâng cao
chất lượng cây ăn trái ở vùng quy hoạch.
Cần Giờ có gần 100 ha cói có năng suất cao, chất lượng khá tốt. Năng suất thu hoạch
bình quân đạt khoảng 2 tấn cói khô/ha. Tuy nhiên việc tiêu thụ sản phẩm thường
xuyên không ổn định làm cho các hộ trồng cói không yên tâm sản xuất và đây cũng là
nguyên nhân người dân không dám đầu tư mở rộng diện tích trồng cói.
Nghề muối
Vụ muối năm 2012 có trên 1.532,2 ha đưa vào sản xuất, giảm 8,2 ha so với vụ
muối năm trước. Sản lượng muối thu hoạch đạt 48.111 tấn (5.384 tấn muối bạt), năng
suất thu hoạch bình quân đạt 31,4 tấn/ha, giảm 15,6 tấn/ha so với vụ muối năm trước.
Sản lượng thu hoạch đạt thấp do mùa mưa đến sớm và kết thúc vụ muối sớm hơn mọi
năm. Tuy nhiên, thị trường giá muối tiêu thụ năm 2012 tăng mạnh nên thu nhập, đời
sống của diêm dân vẫn được đảm bảo. Hiện nay đã tiêu thụ 44.884 tấn muối.
Du lịch
Huyện đã phê duyệt Đề án quy hoạch 08 điểm dừng chân phục vụ khai thác
DLST trong phạm vi rừng phòng hộ và chấp thuận cho Ban Quản lý Rừng phòng hộ
Cần Giờ liên kết với 01 đơn vị có chức năng để đầu tư khai thác tour, tuyến du lịch
sinh thái sông Thị Vải - Núi Giồng Chùa.
Tuy nhiên, du lịch ở huyện chưa có sự phát triển đáng kể, các sản phẩm du lịch
và loại hình vui chơi còn rất khiêm tốn, chủ yếu các cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống
chưa kích thích du khách chi tiêu từ các hoạt động dịch vụ du lịch.
trung gian giữa hệ sinh thái thủy vực với hệ sinh thái trên cạn; giữa hệ sinh thái nước
ngọt với hệ sinh thái nước mặn. Rừng ngập mặn Cần Giờ nhân một lượng lớn phù sa
từ sông Đồng Nai, cùng với ảnh hưởng của biển kế cận và các đợt thủy triều mà hệ
thực vật nơi đây rất phong phú.
Theo tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học (GS-TS Hoàng Đức Đạt, Tiến sĩ
Viên Ngọc Nam…1997) thì ở Cần Giờ có:
157 loài thực vật thuộc 76 họ, các họ chiếm ưu thế là Rhizophoraceae,
Avicenniaceae, Sonnerratiaceae, Meliaceae và Palmae (Nam, Thụy-
1997).
63 loài phiêu sinh thực vật.
130 loài Tảo thuộc 3 ngành: Tảo khuê, Tảo giáp và Tảo lam.
Thực vật rừng ngập mặn Cần Giờ được chia theo 3 nhóm:
o Nhóm thực vật ngập mặn chủ yếu: 42 loài thuộc 36 chi, 24 họ
( Nguồn V. N. Nam 2004).
Quản lý tài nguyên vùng bờ Trang 16
Đánh giá hiện trạng quản lý tại rừng ngập mặn Cần Giờ
o Nhóm chịu mặn gia nhập rừng ngập mặn: 33 loài, 19 họ
( Nguồn N. B. Quỳnh 1997 ).
o Nhóm thực vật nhập cư: 90 loài, 42 họ
( Nguồn N. B. Quỳnh 1997 ).
Hệ thực vật rừng tự nhiên khoảng 12.000 ha bao gồm: Chà là, Ráng, Giá,
Mấm, Dà Vôi… tất cả đều sống trên vùng đất ít ngập nước. Trong đó, Ráng thường
được hỗn giao với Chà là, Cóc kèn mọc trên đất gò, ít ngập nước. Mắm điển hình là
các loại trắng, đen mọc ven sông đất trũng, bãi bồi cao hơn 0,2m so với mực nước
biển; Dà vôi, Mắm phân bố trên đất sét chặt, ẩm.
Quản lý tài nguyên vùng bờ Trang 17
Đánh giá hiện trạng quản lý tại rừng ngập mặn Cần Giờ
Hình 2.3: Một số tài nguyên thực vật ở rừng ngập mặn
Cần Giờ
Cây Bần Ổi
Khỉ Đuôi
Dài
Cá Sấu Hoa Cà
Nghêu
Hàu
Hình 2.4: Một số tài nguyên động vật ở rừng ngập mặn Cần Giờ
( Nguồn Hoàng Đức Đạt, 1997 )
Khôi phục Rừng ngập mặn Cần Giờ thành công đã đóng góp quan trọng cho
phát triển khoa học - công nghệ trong xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu
dự trữ sinh quyển của Việt Nam trong mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển của thế
giới. Vì vậy, ngày 21/01/2000 tổ chứcUNESCO đã công nhận rừng ngập mặn Cần Giờ
là “ Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ”. Đây là Khu dự trữ sinh quyển
rừng ngập mặn được phục hồi sau chiến tranh hóa học đầu tiên trên thế giới và cũng là
Khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam.
2.5. Vai trò, chức năng của rừng ngập mặn Cần Giờ
Quản lý tài nguyên vùng bờ Trang 20
Đánh giá hiện trạng quản lý tại rừng ngập mặn Cần Giờ
Rừng ngập mặn Cần Giờ giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ sinh thái,
bảo vệ môi trường, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của huyện:
2.5.1. Vai trò sinh thái
Rừng ngập mặn Cần giờ được ví như một nhà máy lọc sinh học khổng lồ, góp
phần điều hòa khí hậu trong vùng. Các quần xã cây ngập mặn là một tác nhân làm
cho khí hậu dịu mát hơn. Cũng giống như các loài thực vật khác, cây ngập mặn và tảo,
rêu trong nước góp phần hấp thu CO
2
và thải O
2
qua quá trình quang hợp. Đây là “ lá
phổi xanh ” của thành phố.
Cần Giờ đóng vai trò quan trọng trong việc làm sạch lưu lượng nước của dòng
tính chất của đất mà trồng diện tích dải rừng cây ngập mặn phù hợp.
2.5.3. Vai trò khác
Rừng ngập mặn đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì tính thống nhất của
môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng thu nhập cho nông dân.
Rừng ngập mặn tạo ra rào chắn chống lại sự xâm nhập của nước biển và tác
động của nước biển dâng cũng như cung cấp môi trường sinh sống cần thiết cho các
loài thủy hải sản và sinh vật cửa sông.
Rừng Cần Giờ còn đóng nhiều vai trò quan trọng khác như: Lịch sử, văn hóa,
giáo dục, y tế,…
Rừng Cần Giờ với cảnh quan tươi đẹp, không khí trong lành, mang đậm dấu ấn
lịch sử, rất hấp dẫn du khách đến nghỉ ngơi, tham quan, học tập, nghiên cứu, thưởng
ngoạn phong cảnh và thưởng thức sản vật của rừng ngập mặn.
Rừng ngập mặn Cần Giờ có tác dụng rất lớn với vai trò điều hòa nguồn nước.
Mùa mưa, nước đã được trữ lại một phần ở đây. Đến mùa kiệt, do hạn chế nước hồ
Dầu Tiếng nên mực nước sông Đồng Nai xuống rất thấp, lúc đó nước từ trong rừng
ngập mặn ở cửa sông Đồng Nai chảy ra, ngăn nước mặn không vào quá sâu. Khi xây
dựng hồ Dầu Tiếng, người ta đã lo lắng việc xâm nhập mặn khi mùa kiệt tới, “uy
Quản lý tài nguyên vùng bờ Trang 22
Đánh giá hiện trạng quản lý tại rừng ngập mặn Cần Giờ
hiếp” nguồn nước sinh hoạt của thành phố. Nhưng giờ đây, điều đó đã không xảy ra
nhờ sự đóng góp không nhỏ của rừng ngập mặn Cần Giờ.
Quản lý tài nguyên vùng bờ Trang 23
Đánh giá hiện trạng quản lý tại rừng ngập mặn Cần Giờ
3. CÔNG TÁC QUẢN LÝ TẠI KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN
CẦN GIỜ
3.1. Ban quản lý
3.1.1. Vị trí
Ban Quản lý Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ được thành lập
theo Quyết định số 5902/QĐ-UB-CNN ngày 30 tháng 8 năm 2000 của Ủy ban nhân
dân thành phố Hồ Chí Minh.
việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ Cần Giờ.
- Tổ chức hoàn chỉnh hệ thống quản lý bảo vệ rừng từ huyện đến cơ sở, thực hiện việc
giao đất, giao rừng cho các hộ dân nhận khoán chăm sóc, bảo vệ, nhằm tạo ra những
vùng lâm nghiệp bền vững, ngày càng ổn định đời sống của nhân dân và cán bộ công
nhân trực tiếp làm nghề rừng.
- Xây dựng các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn để quản lý bảo vệ, phát triển
rừng phòng hộ; trong đó bao gồm việc xây dựng và thực hiện các dự án lâm – ngư –
dịch vụ du lịch sinh thái kết hợp, các đề tài nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật
cho rừng phòng hộ nhằm nâng cao chất lượng của rừng.
- Tăng cường công tác khuyến lâm và không ngừng tuyên truyền, giáo dục, vận động
nâng cao ý thức phát triển và bảo vệ rừng trong nhân dân.
- Tổ chức hoạt động sản xuất lâm ngư kết hợp, các dịch vụ khoa học kỹ thuật và dịch
vụ phục vụ tham quan du lịch, làm tăng giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội của rừng phòng
hộ; góp phần cải thiện đời sống cho các hộ dân giữ rừng và cán bộ công nhân trực tiếp
làm nghề rừng.
3.1.4. Cơ cấu tổ chức, nội dung và công tác quản lý
Cơ cấu tổ chức
Quản lý tài nguyên vùng bờ Trang 25