1 | P a g e
LỜI GIỚI THIỆU
Với sự phát triển mạnh mẽ của các công ty bảo hiểm nhân thọ cạnh tranh
đã và đang tạo ra những tác động không nhỏ tới Bảo Việt theo cả hai
chiều hướng: tích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực: Việc cạnh tranh với
những đối thủ có bề dày kinh nghiệm kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm
nhân thọ trên thị trường thế giới, có công nghệ kĩ thuật hiện đại, có
phương pháp quản lý tiên tiến đã giúp cho Bảo Việt tự nhìn nhận, đánh
giá lại mình để rút ra những điểm còn hạn chế, nhằm đề ra những giải
pháp khắc phục. Bên cạnh đó đây còn là điều kiện tốt để Bảo Việt tiến
hành xem xét, nghiên cứu và chắt lọc những điểm tiến bộ của đối thủ để
áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo sao cho phù hợp với điều kiện thực
tế của mình. Tuy nhiên, việc phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp
bảo hiểm nhân thọ trên thị trường cũng đồng nghĩa với việc sức ép cạnh
tranh đối với Bảo Việt ngày càng tăng cao và hệ quả tất yếu là sự chia sẽ
về khách hàng và thị phần, là khó khăn trong tuyển dụng đại lý Và mặc
dù trong những năm qua với sự tăng trưởng và phát triển như vũ bảo của
bảo hiểm Việt Nam, song so với các ngành khác thì Bảo Việt vẫn còn bộc
lộ những hạn chế chứng tỏ sự non nớt của mình trên thị trường tài chính
Việt Nam. Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu tại công ty bảo hiểm nhân thọ
Thanh Hoá. Tôi thấy rằng điểm hạn chế nhất đó chính là vấn đề quản lý
2 | P a g e
công ty. Vì vậy tôi quyết định chọn đề tài “Phân tích đánh giá thực trạng
và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực hoạt động của bộ
máy quản lý trong công ty bảo hiểm nhân thọ Thanh Hóa hiện nay”. Với
mục tiêu đóng góp một số ý kiến của mình, hy vọng làm một điều gì đó
nhằm khắc phục những hạn chế mà công ty đang gặp phải để nâng cao
năng lực cạnh tranh của công ty trong môi trường cạnh tranh đầy khốc
liệt của thị trường tài chính Việt Nam
3 | P a g e
Chuyên đề này tôi chỉ xin trình bày trong một phạm vi nhất định.Cơ
Năm 1996 được sự uỷ quyền của thủ tướng chính phủ, Bộ tài chính ra
quyết định thành lập lại tổng công ty bảo hiểm Việt Nam, được nhà nước
5 | P a g e
xếp loại” Doanh nghiệp nhà nước xếp hạng đặc biệt”. Sở dĩ được xếp
hạng đặc biệt là vì bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng có
những đặc điểm rất khác biệt so với các sản phẩm khác
Thứ nhất: Bảo hiểm nhân thọ là một loại hình dịch vụ tài chính, một sản
phẩm vô hình, người mua bảo hiểm đóng tiền (thường là đóng định kỳ)
cho doanh nghiệp bảo hiểm nhưng chỉ nhận lại một lời cam kết sẽ được
trả tiền khi những sự kiện bảo hiểm được xác định trước (sống đến một
thời điểm, chết, thương tật) phát sinh mà không biết chắc sự kiện đó có
xảy ra hay không cũng như không biết chắc sự kiện đó có xảy ra hay
không cũng như không xác định được thời điểm phát sinh sự kiện đó (trừ
trường hợp sống). Do vậy khác với các hàng hoá thông thường, người
mua BHNT không thể dùng thử để để biết chất lượng sản phẩm mà chỉ có
thể dùng thật, đã dùng thật là dùng trong thời hạn dài. Hơn thế nữa, sản
phẩm bảo hiểm nhân thọ còn là một sản phẩm khá phức tạp và có tính
trừu tượng cao, nên nhiều khi người mua bảo hiểm không thể hình dung
hết được về sản phẩm bảo hiểm
Thứ hai: Bảo hiểm nhân thọ có đối tượng kinh doanh rất đặc biệt, đó là
rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống sức khoẻ con người (có thể nói,
BHNT gắn liền với chu kì” sinh, lão, bệnh, tử” của con người), do vậy
BHNT không thể bù đắp lại được những tổn thất về sinh mạng, sức khỏe
khả năng lao động và tinh thần cho người được bảo hiểm và người thân
của họ mà chỉ bù đắp lại một phần nào những thiệt hại về mặt tài chính
6 | P a g e
mà những tổn thất này gây ra. Chính vì vậy, với trường hợp phạm vi bảo
hiểm chỉ là rủi ro, BHNT là một trong số ít sản phẩm mà người mua rồi
không mong muốn được nhận quyền lợi bảo hiểm, thay vào đó là họ
muốn tìm sự thanh thản, sự bảo vệ, cảm giác đầy trách nhiệm trước người
Thứ năm: Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm bán lẻ là chủ yếu, đại
đa số khách hàng là cá nhân quyết định mua BHNT của họ rất ít chịu tác
động, chi phối bởi yếu tố quyền lực hay các yếu tố khác, do vậy việc
khách hàng tham gia tại doanh nghiệp nào phụ thuộc rất lớn vào khả năng
chinh phục nhân tâm công chúng của doanh nghiệp đó.
Do những đặc điểm đó mà các doanh nghiệp phải cần xây dựng hình ảnh
doanh nghiệp và quảng cáo trong kinh doanh bảo hiểm nhân thọ có
những nét khác biệt so với các lĩnh vực khác
3. Vai trò của bảo hiểm nhân thọ
BHNT có vai trò rất quan trọng đối với mỗi cá nhân, mỗi gia đình, đối
với từng doanh nghiệp và toàn xã hội.
8 | P a g e
Đối với từng cá nhân, gia đình:
Xét trên khía cạnh tinh thần, tham gia BHNT thể hiện sự quan tâm, lo
lắng của người chủ gia đình đối với những người phụ thuộc, của cha mẹ
đối với con cái làm cho tình cảm gia đình thêm keo sơn, thắm thiết và
hạnh phúc. Đồng thời, BHNT còn góp phần đảm bảo ổn định cuộc sống
cho các cá nhân và gia đình bằng sự hỗ trợ về tài chính khi không may họ
gặp phải rủi ro. Từ đó, BHNT là chỗ dựa tinh thần cho mọi người dân
giúp họ yên tâm lao động sản xuất.
Mặt khác, BHNT còn góp phần rất lớn để từng gia đình thực hiện kế
hoạch tài chính thông qua tiết kiệm, tạo quỹ giáo dục giành cho con cái,
có tiền chi dùng khi về hưu Từ cơ chế thu phí, các doanh nghiệp BHNT
buộc họ phải thực hiện tiết kiệm thường xuyên và có kế hoạch nhờ khoản
phí bảo hiểm họ phải đóng định kỳ.
Đối với các cơ quan, doanh nghiệp:
Lợi ích đầu tiên đối với các doanh nghiệp là ở chỗ nó làm ổn định
tình hình sản xuất kinh doanh và vấn đề tài chính. Nếu vì một lý do nào
đó người chủ chốt trong các có quan, doanh nghiệp bị chết hay thương tật
vĩnh viễn thì họ sẽ nhận được một số tiền để lo chi phí cho người bị thiệt
Hiện nay ở trên thế giới và Việt Nam đều tồn tại 3 loại hình bảo hiểm như
sau:
+ Bảo hiểm trong trường hợp chết.
+ Bảo hiểm trong trường hợp sống.
+ BHNT hỗn hợp.
Đấy là ba loại hình bảo hiểm cơ bản tồn tại trên thị trường bảo hiểm hiện
nay. Tuy nhiên trong quá trình tham gia bảo hiểm thì người mua bảo
hiểm còn áp dụng các điều khoản bổ sung như: Bảo hiểm tai nạn, bảo
hiểm sức khoẻ, bảo hiểm không nộp phí khi thương tật toàn bộ vĩnh viễn
do tai nạn
a. Bảo hiểm trong trường hợp chết:
Đây là loại hình phổ biến nhất trong BHNT và được chia thành hai
nhóm: Bảo hiểm tử kỳ và Bảo hiểm nhân thọ trọn đời.
- Bảo hiểm tử kỳ.
Loại hình bảo hiểm này còn được gọi là bảo hiểm sinh mạng có
thời hạn: Nó tiến hành bảo hiểm cho cái chết có thể xảy ra bất cứ lúc nào
như: Tai nạn, bệnh tật miễn là thời điểm xảy ra tai nạn trong thời gian
hợp đồng bảo hiểm vẫn còn hiệu lực. Nếu tai nạn xảy ra vào lúc hợp
đồng còn hiệu lực thì nhà kinh doanh bảo hiểm phải trả cho người tham
gia bảo hiểm một khoản tiền đúng bằng số tiền bồi thường như trong hợp
11 | P a g e
đồng đã cam kết. Nếu tai nạn xảy ra vào thời điểm hợp đồng đã hết hiệu
lực thì nhà kinh doanh bảo hiể
-Bảo hiển nhân thọ trọn đời:
BHNT trọn đời, hay còn gọi là bảo hiểm trường sinh. Hình thức
bảo hiểm của loại hình này là: Cam kết trả một khoản tiền bồi thường
đúng như trong hợp đồng quy định khi người tham gia bảo hiểm sống đến
hết cuộc đời của mình. Vì thời điểm chết của người tham gia bảo hiểm là
không xác định nên thời hạn hợp đồng là không xác định
Loại hình bảo hiểm này có một số đặc điểm cơ bản sau:
+ Đảm bảo thu nhập cố định sau khi hết tuổi lao động.
+ Giảm nhẹ gánh nặng phụ thuộc vào con cái và phúc lợi xã
hội khi tuổi già.
c. Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp:
Đây là loại hình bảo hiểm được kết hợp giữa hai loại hình bảo hiểm
trên ( Bảo hiểm trong trường hợp chết và bảo hiểm trong trường hợp
13 | P a g e
sống). Vì tính ưu điểm của nó là tiết kiệm và rủi ro nên nó được áp dụng
rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới
BHNT hỗn hợp có một số đặc điểm chính sau:
+ Thời hạn bảo hiểm luôn xác định.
+ STBH được trả một lần khi có các SKBH xảy ra (người
bảo hiểm chết hoặc khi hết hạn hợp đồng mà người được bảo hiểm còn
sống).
+ Phí bảo hiểm thường đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt
thời hạn bảo hiểm.
+ Có thể được chia lãi hoặc có thể được hoàn phí khi không có
điều kiện tiếp tục tham gia.
+ Khách đông và có thể ở mọi lứa tuổi
Loại hình bảo hiểm này được triển khai nhằm nhiều mục đích khác
nhau :
+ Đảm bảo cuộc sống cho gia đình và người thân
+ Thực hiện tiết kiệm từ ngân sách gia đình để tạo lập quỹ gia đình
cho con cái, mua sắm tài sản.
+ Dùng làm vật thế chấp vay vốn hoặc khởi nghiệp kinh doanh.
Khi triển khai BHNT hỗn hợp, các công ty bảo hiểm có thể đa
dạng hoá loại sản phẩm này bằng các hợp đồng có thời hạn khác nhau,
hợp đồng phi lợi nhuận, có lợi nhuận và các loại hợp đồng khác tuỳ theo
tình hình thực tế.
14 | P a g e
1. Bộ máy quản lý
a. Khái niệm về bộ máy quản lý:
Bộ máy quản lý là một cơ quan chức năng trong một tổ chức nó bao gồm
hệ thống các phòng ban chức năng có nhiệm vụ cơ bản giúp giám đốc
quản lý, điều hành quá trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho quá trình
sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất
Tổ chức là sự liên kết những phần tử, những quá trình , những hoạt
động trong hệ thống nhằn thực hiện mục đích đề ra của hệ thống dựa trên
các cơ sở các nguyên tắc và các quy tắc của quản trị quy định
Hệ thống là tập hợp các phần tử và những mối quan hệ giữa các
phần tử nhằm tạo ra một đặc trưng đó là tính trồi của phần tử mà tính chất
này không thể có đượ từ những phần tử đơn lẻ
Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến hệ
thống nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của họ nhằm đạt mục tiêu đề
ra của tổ chức với hiệu quả cao nhất
16 | P a g e
Điều hành là một trong các chức năng quản lý nhằm tác động lên
hành vi của hệ thống hướng hệ thống vào thực hiện mục đích và mục tiêu
quản lý theo đướng lối, chiến lược đã định. Điều hành là chức năng chủ
yếu của hoạt động quản lý
b. Yêu cầu của bộ máy quản lý:
Mặc dù có rất nhiều hình thức tổ chức bộ máy quản lý để đáp ứng với
từng điều kiện cụ thể của một tổ chức song nhìn chung để đảm bảo dược
tính hiệu quả cao nhất thì bộ máy quản lý cần đáp ứng những yêu cầu sau
đây:
Một là: Phải đảm bảo thực hiện đầy đủ, toàn diện những chức năng
quản lý nhằm thực hiện mục tiêu chung đã đề ra: hoàn thành toàn diện kế
hoạch với chi phí ít và hiệu quả kinh tế nhiều nhất
Hai là: Phải đảm bảo nghiêm túc và tuyệt đối chế độ một thủ
trưởng chế độ trách nhiệm cá nhân trên cơ sở đảm bảo và phát huy quyền
Bộ máy quản lý là cơ quan đầu não của một doanh nghiệp. Như vậy bộ
18 | P a g e
máy quản lý phải thực hiện chức năng như một đầu tầu để kéo đẩy con
tầu đi đúng hướng an toàn về bến. Nếu căn cứ vào chức năng vào nội
dung quản lý thì bộ máy quản lý có5 chức năng chính:
Bộ máy quản lý của công ty có chức năng lập kế hoạch: Đây là chức năng
đầu tiên nó đề ra phương hướng và mục tiêu hoạt động chung cho toàn
doanh nghiệp. Kế hoạch có thể là kế hoạch dài hạn cũng có thể là kế
hoạch ngắn hạn. Theo kế hoạch đó thì từng thành viên trong doanh
nghiệp sẽ nhận thức được nhiệm vụ cụ thể của mình như thế nào. Họ sẽ
biết mình cẩn phải làm gì để hoành thành nhiệm vụ mà công ty giao phó.
Đây là khâu cực kì quan trọng trong hoạt động quản lý, nó quyết định đến
sự thành bại của công ty và ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển trong
tương lai của công ty. Do vậy các cán bộ quản lý phải xây dựng được các
kế hoạch sao cho không có sự mâu thuẫn với nhau cũng như phải có sự
điều chỉnh các kế hoạch sao cho phù hợp với sự biến động của hệ thống
môi trường
Chức năng tổ chức: Việc thiết lập một bộ máy quản lý quản lý của doanh
nghiệp phụ thuộc vào yêu cầu hoạt động của doanh nghiệp, mục tiêu đã
đặt ra của doanh nghiệp, nguồn lực của doanh nghiệp, các yếu tố khách
quan tác động đến tác động đến doanh nghiệp. Dựa trên cơ sở đó, doanh
nghiệp sẽ xác lập một cơ cấu sản xuất phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
được giao. Trong đó mỗi bộ phận, từng cá nhân đều có quyền hạn, trách
nhiệm và nghĩa vụ nhất định, có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá
19 | P a g e
trình thực hiện nhiệm vụ để đạt được mục tiêu chung mà doanh nghiệp đề
ra.
Chức năng điều hành: Mọi kế hoạch khi đã được lập ra và tổ chức xong
thì phải điều hành công việc để hoàn thành kế hoạch đó. Để điều hành có
hiệu quả thì cần phải có sự chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ trong quản lý, có
Lãnh đạo tổ chức
Người
Thực
hiện 1
Người
Thực
Hiện 2
Người
Thực
Hiện 3
Người
Thực
Hiện 4
21 | P a g e
+ Thiếu sự phối hợp giữa các phòng ban chức năng
+ Chuyên môn hoá quá mức và tạo ra cách nhìn quá hẹp ở các cán bộ
quản lý
+ Hạn chế việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý chung
+Đổ trách nhiệm về vấn đề thực hiện mục tiêu chung của tổ chức cho cấp
lãnh đạo cao nhất.
Mô hình tổ chức bộ phận theo chức năng tương đối dễ hiểu và được
hầu hết các tổ chức sử dụng trong một giai đoạn phát triển nào đó, khi tổ
chức có quy mô vừa và nhỏ hoạt động trong một lĩnh vực đơn sản phẩm,
đơn thị trường
22 | P a g e
Giám đốc
Trưởng phòng
nhân sự
Trợ lý giám
Phân xưởng
2
Kế toán chi
phí
Bán hàng Kiểm tra chất
lượng
Phân xưởng
3
Thống kê
và xử lý sl
Mô hình tổ chức bộ phận theo chức năng
23 | P a g e
-Kiểu quản lý trực tuyến chức năng:
Ưu điểm:
+ Phát huy được năng lực chuyên môn hoá của các bộ phận chức năng,
đồng thời vẫn đảm bảo được quyền chỉ huy của hệ thống trực tuyến
+ Tạo được điều kiện cho các chuyên gia đóng góp vào hoạt động quản lý
của doanh nghiệp
+ Giải quyết cho các cấp quản lý điều hành khỏi công tác phân tích chi
tiết từng khía cạnh.
+ Tạo điều kiện đào tạo cho chuyên gia
Nhược điểm:
+ Dễ gây hỗn độn như mô hình chức năng nếu như không có sự phân
định rõ ràng về quyền hạn
+ Hạn chế năng lực sử dụng nghiệp vụ của các chuyên viên
+ Dễ tạo ra xu hướng tập trung hoá đối với các nhà quản trị cao cấp
+Có thể xảy ra mâu thuẫn giữa lãnh đạo các tuyến với nhau, do không
thống nhất quyền hạn và quan điểm
Lãnh đạo tổ chức
Phòng chức
định. Điểm mấu chốt làm cho cơ cấu ma trận phát huy được tác dụng là
sự rõ ràng của mối quan hệ quyền hạn giữa các cán bộ quản lý và cơ chế
phối hợp
Đây là sơ đồ tổ chức theo ma trận trong kĩ thuật
Tổng giám
đốc
P.TGĐ
Kỹ thuật
P.TGĐ
Tài chính
P.TGĐ
Sản xuất
P.TGĐ
maketing
Trưởng p
Thiết kế
Trưởng p
Kỹ thuật
Trưởng.p
điện
Trưởng.p
Thuỷ lực
C.nhiệm đề
án A
C.nhiệm đề
án B
C.nhiệm đề
án C
Tổ chức theo ma trận trong kĩ thuật