LUẬN VĂN: Lạm phát ở Việt Nam hiện nay: Nguyên nhân và giải pháp pot - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Lạm phát ở Việt Nam hiện nay:
Nguyên nhân và giải pháp MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã đi qua hơn 20 năm đổi mới một cách ấn tượng với những thành tựu
quan trọng. Từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ, Việt Nam đã chuyển từng
bước chắc chắn sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam cũng
đã vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế để tự tin bước sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
đất nước theo định hướng XHCN. Việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
năm 2007 đã khẳng định mức độ tiến bộ mà chúng ta đạt được trong hơn 20 năm qua.
Đến nay, Việt Nam đã vượt qua ngưỡng nước có thu nhập thấp và đang nỗ lực theo

công trình thuộc nhóm này chiếm số lượng khá lớn trong số các công trình nghiên cứu lạm
phát ở Việt Nam hiện nay.
Nghiên cứu các công trình thuộc hướng này, chúng tôi thấy có thể chia thành 3
nhóm như sau:
Thứ nhất, trên cơ sở lý thuyết về lạm phát do nguyên nhân tiền tệ, các tác giả đã
vận dụng vào việc phân tích, đánh giá nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam và đồng thời, gợi
ý hướng khắc phục.
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này, có thể kể đến các công trình sau:
- Phan Sỹ An và Trần Thị Kim Chi, (2008), Lạm phát Việt Nam: Nguyên nhân và
đề xuất chính sách, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 359 tháng 4/2008.
- Nguyễn Cao Đức, (2006), Các nhân tố quyết định lạm phát của Việt Nam dựa trên
cách tiếp cận tiền tệ, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 335, tháng 6/2006.
- Charles Adams, (2008), Chính sách kinh tế vĩ mô hiện nay - Những thách thức đặt
ra cho Việt Nam, Tập bài giảng dùng cho lớp đào tạo chính sách công của Ngân hàng Phát
triển Châu á, tháng 6/2007.
- Bùi Duy Phú, (2007), Mối quan hệ giữa tiền tệ và giá cả của Việt Nam qua một số
mô hình định lượng, Nghiên cứu kinh tế, số 347 - 4/2008.
- Nguyễn Đại Lai, (2008), Nhận diện, bình luận và đề xuất quan điểm chính sách và
ổn định thị trường tài chính Việt Nam sau một năm gia nhập WTO, Tạp chí Phát triển kinh
tế số 360, tháng 5/2008.
Thứ hai, các tác giả trực tiếp bàn về các giải pháp cắt giảm lạm phát ở Việt Nam
hiện nay bằng các công cụ chính sách tài chính - tiền tệ.
Các công trình thuộc nhóm này có rất nhiều. Tiêu biểu trong số đó có một số công
trình điển hình:
- Lờ Hựng, (2006), Gii phỏp hon thin v phỏt trin nghip v th trng m,
Nghiờn cu kinh t s 340 thỏng 9/2006.
- Nguyn i Lai, (2008), Chng lm phỏt t phớa ngõn hng, Thi bỏo kinh t Vit


2.2. Hướng nghiên cứu lạm phát của Việt Nam trong mối quan hệ với tăng
trưởng kinh tế
Đi theo hướng này, các tác giả đã vận dụng các lý thuyết kinh tế vĩ mô về mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát (Lý thuyết cổ điển, Lý thuyết Keynes, Lý thuyết
hậu Keynes ) để phân tích một số trường hợp ở các nước châu Á.
Các công trình tiêu biểu cho nhóm này có thể kể đến là:
- Lê Việt Đức và Trần Thị Thu Hằng, (2008), Quan hệ giữa tăng trưởng và lạm
phát: lý thuyết và kinh nghiệm các nước đang phát triển châu Á, Tạp chí Nghiên cứu kinh
tế số 359 - tháng 4/2008.
- Nguyễn Thị Hường, (2007), Quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát và việc làm. Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Kỷ yếu đề tài cấp cơ sở - Viện Kinh tế và Phát
triển, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2007.
- Lê Quốc Lý, (2006), Đi tìm lời giải cho bài toán: Tăng trưởng kinh tế cao và lạm
phát thấp trong năm 2005, Tạp chí Kinh tế và phát triển 3/2006.
- Nguyễn Quang Thái, (2007), Tăng trưởng nóng: nhận dạng, nguy cơ và giải pháp
(ý tưởng ban đầu), Nghiên cứu kinh tế số 347 tháng 4/2007.
2.3. Hướng nghiên cứu lạm phát ở Việt Nam do nhiều nguyên nhân và từ đó đề
xuất các giải pháp chống lạm phát ở nước ta hiện nay
Các tác giả đi theo hướng nghiên cứu này không chỉ nghiên cứu nguyên nhân lạm
phát do yếu tố tiền tệ, như một số tác giả đã được nêu ở hướng nghiên cứu thứ nhất, mà họ
còn đề cập tới các nguyên nhân khác gây ra lạm phát ở Việt Nam hiện nay. Đó là lạm phát
do cầu kéo, lạm phát do chi phí đẩy, lạm phát do yếu tố tâm lý, lạm phát do việc chuyển
đổi cơ chế quản lý giá đối với một số mặt hàng thiết yếu (xăng dầu, điện,…), lạm phát do
ảnh hưởng của quá trình hội nhập. Đặc biệt, lạm phát do nguyên nhân từ sự yếu kém trong
quản lý - điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ đã được nhiều tác giả phân tích.
Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất các giải pháp khắc phục lạm phát như thực
hiện việc thắt chặt tiền tệ và tài chính để cắt giảm tổng cầu, trợ giá đối với một số mặt
hàng là đầu vào sản xuất, các giải pháp giảm nhập siêu, thực hiện cơ chế giá thị trường của
một số mặt hàng thiết yếu, do Nhà nước quản lý, theo một lộ trình thích hợp,…

chống lạm phát ở Việt Nam, bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định cả trong
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn và hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào
việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về lạm phát ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Formatted: Font: Times New
Roman, 13 pt, Not Bold, Italian
(Italy)
ti cú ba mc tiờu chớnh sau õy:
- Phõn tớch v lm rừ thờm c s lý lun v thc tin ca nguyờn nhõn gõy ra lm
phỏt cng nh cỏch khc phc.
- Phõn tớch, ỏnh giỏ cỏc nguyờn nhõn gõy ra lm phỏt Vit Nam hin nay.
- xut cỏc gii phỏp khng ch v kim soỏt lm phỏt Vit Nam trong ngn
hn, trung hn v di hn, ng thi, duy trỡ n nh v tng trng kinh t trong nhng
nm tip theo.
4. i tng v phm vi nghiờn cu
- i tng: Nguyờn nhõn v gii phỏp khc phc lm phỏt Vit Nam hin nay.
- Phm vi nghiờn cu: Tp trung kho sỏt thc trng lm phỏt v nguyờn nhõn gõy
ra lm phỏt Vit Nam t 2004 n nay v xut gii phỏp khc phc lm phỏt cho thi
k mi.
5. Phng phỏp nghiờn cu
Đề tài sử dụng ph-ơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng để
phân tích, đánh giá các vấn đề nghiên cứu.
Bên cạnh đó, đề tài sử dụng các ph-ơng pháp cụ thể nh- phân tích, so sánh, tổng
hợp, thống kê, mô hình hoá và ph-ơng pháp chuyên gia.
6. Kt cu ca ti:
Ngoi phn m u v kt lun ti c kt cu thnh 3 phn 7 tit, c trỡnh

Khái niệm lạm phát thứ ba sẽ được sử dụng trong toàn bộ nghiên cứu của đề tài.
Bởi lẽ, nó đề cập đầy đủ bản chất của lạm phát. Lạm phát không phải là hiện tượng giá cả
của một vài hàng hóa hay vài nhóm hàng hóa nào đó tăng lên mà là sự tăng lên của mức
giá chung của nền kinh tế. Khi mức giá chung tăng lên mọi người phải trả nhiều tiền hơn
cho giỏ hàng hóa và dịch vụ mà họ mua. Hơn nữa, có thể coi mức giá là thước đo giá trị
của đồng tiền. Sự gia tăng của mức giá có nghĩa là giá trị của đồng tiền bị suy giảm bởi vì
khi đó mỗi đơn vị tiền tệ (VNĐ, USD…) sẽ mua được một lượng hàng hóa ít hơn.
Cần phân biệt rõ hai khái niệm sau đây có liên quan đến lạm phát.
- Giảm lạm phát là sự sụt giảm tỷ lệ lạm phát, tức là mức giá chung của nền kinh tế
vẫn gia tăng song mức độ tăng mức giá chung có xu hướng chậm lại. Chẳng hạn, tỷ lệ lạm
phát của Việt Nam năm 1993 là 5,2% trong khi năm 1992 tỷ lệ đó là 17,6% có thể nói năm
1993 nền kinh tế Việt Nam có giảm lạm phát so với năm 1992 vì tốc độ tăng lạm phát của
năm 1993 là 5,2% < 17,6% của năm 1993.
- Thiểu phát là khi mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống bằng 0 hoặc dưới 0.
Chẳng hạn, năm 2000 nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng thiểu phát, với tỷ lệ lạm
phát -0,6%.
* Cách đo lường lạm phát
- Một số khái niệm liên quan đến đo lường lạm phát

Mức giá (Price - P) chung của nền kinh tế tại một thời điểm được tính theo số
bình quân gia quyền của giá nhiều hàng hóa và dịch vụ. Để đo lường mức giá chung, các
nhà thống kê thường sử dụng chỉ số giá cả.

Chỉ số giá cả: (Price Index – PI) là thước đo mức giá chung tại thời điểm hiện tại
(nếu coi thời điểm cần so sánh là 100 đơn vị). Các chỉ số giá cả thường được sử dụng là:
chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index – CPI); Chỉ số điều chỉnh GDP (Deputation
Gross Domestic Index – D); Chỉ số giá cả sản xuất (Producer Price Index – PPI); Chỉ số

đó. Chẳng hạn, để tính chỉ số giá tiêu dùng ở Hoa Kỳ người ta chọn 364 hàng hóa và dịch
vụ riêng biệt được thu thập từ 21.000 cơ sở trong 91 vùng cả nước
1
. Qua điều tra ở các
vùng đã lựa chọn ở Hoa Kỳ, người ta thấy người tiêu dùng chi 20% ngân sách của họ cho
thực phẩm, 50% cho nhà cửa và 30% cho dịch vụ y tế… và dựa trên cơ sở đó họ đã gắn
các trọng số tương ứng cho từng mặt hàng và nhóm hàng để tính CPI. Tuy nhiên, số mặt
hàng và quyền số gắn với từng mặt hàng trong giỏ hàng hóa để tính CPI không phải là bất
biến, nó được điều chỉnh khi có sự thay đổi trong cơ cấu tiêu dùng.
Ở Việt Nam, để tính CPI từ năm 1998 đến 10/2009 sử dụng 10 nhóm hàng sau đây:
Nhóm I: Lương thực, thực phẩm;
Nhóm II: Đồ uống và thuốc lá;
Nhóm III: May mặc, giày dép, mũ nón;
Nhóm IV: Nhà ở và vật liệu xây dựng;
Nhóm V: Thiết bị và đồ dùng gia đình;

1
Paul. A. Samuelson và William D. Nordhans. Kinh tế học (xuất bản lần thứ 15), Tập II, tr. 392.
Nhóm VI: Dược phẩm, y tế;
Nhóm VII: Phương tiện đi lại, bưu điện;
Nhóm VIII: Giáo dục;
Nhóm IX: Văn hóa, thể thao, giải trí
Nhóm X: Hàng hóa và dịch vụ khác.
Số lượng mặt hàng trong 10 nhóm hàng hóa thay đổi từ 396 năm 2000 lên 490 mặt
hàng năm 2005.
Từ 10/2009 số lượng nhóm hàng tăng từ 10 lên 11; số lượng mặt hàng sẽ tăng thêm
82, từ 490 – 572 mặt hàng. Quyền số của các nhóm hàng để tính CPI ở Việt Nam cũng

Cách thứ hai có ưu điểm là loại bỏ được những biến động ngắn hạn nhưng lại
không phản ánh đúng diễn biến thị trường ở những thời điểm khác nhau.
Do vậy, hiện nay ở Việt Nam thường tính toán CPI theo cả 2 phương pháp trên.
* Sự khác nhau giữa D và CPI
- D phản ánh tình hình lạm phát của tất cả mọi hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong
GDP, CPI chỉ phản ánh tình hình lạm phát của mặt hàng tiêu dùng cơ bản trên thị trường
của người tiêu dùng.
- D chỉ phản ánh sự thay đổi giá cả sản xuất trong nước còn CPI bao gồm giá cả các
mặt hàng nhập khẩu. Do vậy, khi giá hàng nhập khẩu tăng thì kéo CPI tăng theo. Hiện
tượng được gọi là nhập khẩu lạm phát.
- CPI thường gắn quyền số cố định cho hàng hóa tiêu dùng trong một thời gian
tương đối dài, còn D gắn với quyền số thay đổi của mọi hàng hóa sản xuất trong nước. Do
đó, CPI phóng đại giá sinh hoạt khi người tiêu dùng đã thay thế những hàng hóa tương đối
rẻ hơn cho những hàng hóa tương đối đắt hơn.
Ngoài ra CPI không thể hiện chính xác những thay đổi về chất lượng hàng hóa và
dịch vụ. Chẳng hạn, việc sử dụng các dược phẩm mới thay đổi cho những ca phẫu thuật
tốn kém trước đây cũng không được phản ánh trong CPI.
Năm 2008, khi tỷ lệ lạm phát của Việt Nam tăng cao, Chính phủ Việt Nam đã thực
hiện chính sách thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát. Một số nhà nghiên cứu kinh tế Việt
Nam mà tiêu biểu là PGS,TS Vũ Ngọc Nhung đã lên tiếng phản đối Ngân hàng nhà nước
Việt Nam vì họ cho rằng lạm phát ở Việt Nam là lạm phát giá cả chứ không phải do yếu tố
tiền tệ gây ra nên không thể dùng công cụ tiền tệ để kiềm chế lạm phát. Ông cho rằng, với
hành động đó giải pháp chống lạm phát vừa không đúng vừa làm giảm động lực tăng
trưởng kinh tế và cần phải loại bỏ lạm phát giá cả ra khỏi chỉ số lạm phát.
Trên thực tế, giá trị đo bằng tiền của hàng hóa thay đổi có thể do hai nguyên nhân
chủ yếu, một là, do lượng tiền tăng nhanh hơn so với mức tăng của cung hàng hóa thì sẽ
gây ra lạm phát tiền tệ; hai là, lượng cung hàng hóa giảm sút do các yếu tố khác nhau như
thiên tai, độc quyền… gây ra lạm phát giá cả. Do đó, không thể loại bỏ lạm phát giá cả
khi đo lường chỉ số lạm phát.


P
hay
P
1
1
1
100
{ 1} 100%




  
   

Trong đó:
t
: tỷ lệ lạm phát
P
t
, P
t-1
: chỉ số giá của thời kỳ t và t-1
Với ví dụ ở trên tỷ lệ lạm phát của Hoa Kỳ năm 1996 là:
,
% , %
106 4 100
100 6 4
100


1.1.2. Tác động của lạm phát và thiểu phát đối với kinh tế - xã hội
1.1.2.1. Tác động của lạm phát đối với phát triển kinh tế - xã hội
Ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế - xã hội. Lạm
phát nhìn chung có tác động tiêu cực đối với phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, trong
những hoàn cảnh cụ thể một tỷ lệ lạm phát vừa phải cũng có tác động tích cực, kích thích
tăng trưởng kinh tế.
Một là, tác động tiêu cực của lạm phát đối với phát triển kinh tế - xã hội
Thứ nhất, lạm phát cao gây mất ổn định kinh tế vĩ mô, làm giảm tốc độ tăng trưởng
và sản lượng của nền kinh tế.
Khi lạm phát tăng và không được kiểm soát, giá đầu vào sản xuất và giá đầu ra của
các sản phẩm biến động thường xuyên tạo ra môi trường kinh doanh không ổn định. Điều
đó sẽ dẫn đến đầu tư của doanh nghiệp giảm sút. Đầu tư giảm làm giảm thu nhập và lợi
nhuận của doanh nghiệp, đến lượt nó sẽ làm giảm đầu tư trong chu kỳ tiếp theo Hiệu ứng
dây chuyền đó sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng và sản lượng của nền kinh tế.
Môi trường kinh tế vĩ mô không ổn định, đầu tư nước ngoài vào trong nước sẽ giảm
mạnh và điều này thêm một nguyên nhân làm giảm GDP và đây là một tác động rất đáng
kể đối với các nước đang phát triển như Việt Nam.
Khi lạm phát cao, giá cả bị bóp méo dẫn đến phân bổ nguồn lực không hiệu quả.
Bởi vì, lạm phát cao làm biến dạng giá cả tương đối và quyết định của khách hàng, khi đó,
thị trường ít có khả năng phân bổ nguồn lực một cách hợp lý, dẫn đến lãng phí các nguồn
lực phát triển.
Bên cạnh đó, khi lạm phát tăng, làm tăng thêm chi phí của doanh nghiệp do lãi suất
tăng và do doanh nghiệp phải thường xuyên điều chỉnh thực đơn… góp thêm một nguyên
nhân làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, giảm sản lượng, thu nhập của nền
kinh tế.
Thứ hai, lạm phát cao gây ra nhiều vấn đề xã hội bức xúc
Khi đầu tư giảm sút do lạm phát gây ra như đã phân tích ở trên doanh nghiệp sẽ

định kinh tế vĩ mô. Nhiều doanh nghiệp có thể bị phá sản, thất nghiệp tăng cao, tệ nạn xã
hội sẽ tăng lên, càng làm sâu sắc hơn những bất ổn định chính trị - xã hội. Do vậy, nhiều
nước trong đó có Hoa Kỳ đã coi "lạm phát" là kẻ thù số 1 của nhân loại.
Hai là, tác động tích cực của lạm phát đối với phát triển kinh tế - xã hội
Thứ nhất, trong những trường hợp cụ thể một sự tăng lên của mức giá ở một mức
độ vừa phải có tác động kích thích tăng trưởng kinh tế.
Từ phân tích lý thuyết các mô hình tổng cung, các nhà kinh tế đã rút ra phương
trình biểu thị mối quan hệ giữa mức giá và sản lượng:
Y =
Y
+  (P – P
e
) (1)
Trong đó:
Y : sản lượng thực tế của nền kinh
tế ứng với mỗi mức giá.
Y
: sản lượng tiềm năng của nền
kinh tế
P
e
: mức giá dự kiến

1
Tạp chí Tài chính số 10/2008; tr. 38

Y
1
Y
2

Y
một sự tăng lên trong mức giá dự
kiến từ P
1
 P
2
sẽ làm cho sản lượng tăng lên từ Y
1
 Y
2
.
- Kể cả khi sản lượng đã đạt được mức sản lượng tiềm năng Y, một sự tăng lên
trong mức giá từ
P
 P
3
cũng có tác động kích thích sản lượng tăng từ
Y
 Y
3
. Tuy
nhiên, trong trường hợp này sự tăng lên của sản lượng chỉ đạt được trong ngắn hạn, khi giá
tăng lên trong một thời gian nhất định nền kinh tế sẽ điều chỉnh về mức sản lượng tiềm
năng.
Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu định lượng của một số tác giả về mối quan hệ giữa
tăng trưởng và lạm phát cũng cho thấy rằng, trong những năm tỷ lệ lạm phát ở mức vừa phải
(1996-1997 và 2003-2004) tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt được ở mức cao. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao xấp xỉ 2 lần so với tỷ lệ lạm phát
1
.

< П
1
tỷ lệ thất nghiệp U
2
> U
1
.

1
Nguyễn Văn Công (2005), Tạp chí kinh tế phát triển số 3/2005 và Bùi Duy Phú (2007), Tạp chí Ngân hàng số
12/2007.
U
1

U
n

U
2

П
2
П

П
1

П

U

1.1.2.2. Tác động của thiểu phát đối với phát triển kinh tế - xã hội
Ngược lại với lạm phát, thiểu phát xẩy ra khi mức giá chung của nền kinh tế liên tục
giảm sút. Quan niệm về thiểu phát, hiện có nhiều ý kiến khác nhau. Có người cho rằng khi
tỷ lệ lạm phát ở mức 3-4% được gọi là thiểu phát. Tuy nhiên, đối với các nền kinh tế phát
triển (Đức, Nhật Bản) tỷ lệ lạm phát 3-4% được coi là hoàn toàn bình thường. Khi nền
kinh tế có tỷ lệ lạm phát âm thì tất cả các nhà kinh tế đều thống nhất đó là hiện tượng thiểu
phát.
Có 3 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thiểu phát:
- Do tổng cầu quá thấp dẫn đến giá cả thấp. Các nhà kinh tế thường gọi là nền kinh
tế rơi vào trạng thái quá lạnh.
- Do chính phủ áp dụng các giải pháp chống lạm phát quá liều, chẳng hạn như chính
sách thắt chặt tiền tệ và tài khóa quá mức.

1
Nguyễn Thị Hường (2007), Quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát và việc làm. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở
Việt Nam, Tổng quan đề tài cấp cơ sở, Viện Kinh tế phát triển, Học viện CT-HCQG HỒ CHÍ MINH, tr.66.
- Do sử dụng các biện pháp ngăn ngừa lạm phát quá cứng nhắc như trực tiếp kiểm
soát giá của một số mặt hàng.
Tác động của thiểu phát đối với phát triển kinh tế - xã hội có thể sẽ hết sức nghiêm
trọng nếu không có những biện pháp kịp thời để khắc phục.
Thông thường tác động tiêu cực của thiểu phát đối với kinh tế - xã hội được biểu
hiện qua những đặc trưng cơ bản sau đây:
Một là, thiểu phát làm giảm tốc độ tăng trưởng và sản lượng của nền kinh tế.
Khi có thiểu phát, lãi suất thực cao, làm tăng chi phí vay vốn. Vì vậy, các nhà đầu
tư phải dè dặt đi vay vốn để mở rộng sản xuất và đầu tư mới. Lạm phát thấp (đặc biệt là
thiểu phát) làm cho tiền lương thực tế cao, người lao động có thể cắt giảm thời gian làm
việc để tăng thời gian nghỉ ngơi. Hơn thế nữa, khi có thiểu phát lưu thông hàng hóa sẽ bị

Để chống thiểu phát thường áp dụng các giải pháp ngược chiều với chống lạm phát.
Một là, thực hiện chính sách tiền tệ và tài khóa nới lỏng. Đó là giảm lãi suất, tăng
chi tiêu chính phủ và giảm thuế để kích thích tổng cầu (đầu tư, tiêu dùng địa phương và hộ
gia đình, mở rộng xuất khẩu. Đây là giải pháp mà nhiều nước đang sử dụng, nhất là Nhật
bản đã thực hiện trong nhiều năm nay. Nhưng mức độ thành công cũng hết sức khác nhau
(chẳng hạn như Nhật Bản được xem là kém thành công) trong chính sách chống thiểu phát.
Hai là, thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế để chuyển các lĩnh vực có năng lực dư thừa
sang các lĩnh vực khác, nhất là các lĩnh vực mới có nhiều tiềm năng phát triển.
Về lý thuyết, các giải pháp chống thiểu phát không quá khó, nhưng phức tạp, bởi vì
rất dễ xẩy ra nguy cơ của sự "đổi chiều" giảm phát thành lạm phát.
Kinh nghiệm về chống thiểu phát chưa nhiều vì trên thực tế hiện tượng thiểu phát
xẩy ra chưa phổ biến, nhất là đối với các nước đang phát triển.
1.2. CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT
1.2.1. Nguyên nhân lạm phát do tổng cầu tăng mạnh (lạm phát cầu kéo) và giải
pháp khắc phục
Khi tổng cầu tăng mạnh có thể làm cho sản lượng thực tế vượt quá mức sản lượng
tiềm năng của một nước, làm cho giá cả tăng lên để cân bằng tổng cung và tổng cầu (xem
hình 1.1.)

Biểu đồ 1.3. Lạm phát do tổng cầu tăng mạnh


Tổng cầu AD = C + I + G + X - IM tăng có thể do các yếu tố của tổng cầu tăng:
(i). Tiêu dùng của hộ gia đình tăng
* Tiêu dùng của hộ gia đình quyết định tiêu dùng quốc gia và ảnh hưởng tới tổng
cầu của nền kinh tế.
Tiêu dùng của hộ gia đình do thu nhập khả dụng hiện tại tăng.
Thu nhập khả dụng hiện tại tăng có thể do chính sách giảm thuế của Chính phủ,
chính sách tăng các khoản chi chuyển nhượng của Chính phủ tới các hộ gia đình và các
khoản thu nhập khác mà các hộ gia đình nhận được và có thể chi tiêu cho tiêu dùng.
P (giá cả)
AS

AD
2
AD
1
P
2
P
1
Y
P

Y
1

Y
2

Y (Sản lượng thực
t

vọng của họ và giảm mức tiêu dùng. Nhưng sau một thời gian áp dụng chính sách này, mức
tiêu dùng của hộ gia đình sẽ không có gì thay đổi do không có thông tin mới nào làm thay
đổi kỳ vọng của họ. Mức thu nhập thấp hơn của họ lúc này trở thành mức thu nhập thường
xuyên.
Bốn là, các chính sách tạm thời làm giảm thu nhập của người dân sẽ không có tác
động giảm tiêu dùng của họ mà chỉ có chính sách làm giảm thu nhập thường xuyên của họ
mới làm giảm tiêu dùng của người dân.
Chẳng hạn, nếu Chính phủ công bố tăng thuế và áp dụng lâu dài mức thuế này, dân
chúng sẽ giảm tiêu dùng mạnh hơn so với trường hợp Chính phủ thông báo biện pháp tăng
thuế thu nhập (chỉ là biện pháp tạm thời).
Như vậy, có thể thấy rằng, mức tiêu dùng của hộ gia đình chịu tác động chi phối
của nhiều yếu tố. Chính sách của Chính phủ làm giảm tiêu dùng của hộ gia đình không hề
đơn giản vì phải chú ý tới nhiều yếu tố, trong đó có nhiều yếu tố Chính phủ khó có thể
kiểm soát được.
(ii). Đầu tư tư nhân tăng
Đầu tư ở đây là đầu tư phát triển. Nó bao gồm đầu tư cố định vào sản xuất kinh doanh,
đầu tư vào nhà ở và đầu tư vào hàng tồn kho. Đầu tư tư nhân tăng là do một trong ba loại đầu
tư này tăng hay hai hoặc cả ba loại đầu tư này tăng.
Như vậy, để thay đổi đầu tư tư nhân, Chính phủ có thể tác động tới 3 loại đầu tư
trong đầu tư tư nhân này. Chính sách của Chính phủ cần chú ý tới những điểm sau đây:
Một là, chính sách Chính phủ có thể thay đổi đầu tư cố định vào sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp bằng cách tác động tới chi phí đầu tư, sản phẩm cận biên của vốn MPK. Hai
là, để điều chỉnh đầu tư vào nhà ở, chính sách của Chính phủ có thể tác động vào giá nhà ở
tương đối (
H
P
P

tương đối của hàng xuất khẩu của nước đó và giá hàng hoá cạnh tranh của chúng trên thị
trường quốc tế. Nếu giá hàng xuất khẩu của nước đó rẻ tương đối so với hàng hoá xuất
khẩu của nước khác, người nước ngoài sẽ nhập khẩu hàng nước đó nhiều hơn và do đó,
nước đó sẽ xuất khẩu được nhiều hơn. Mặt khác, xuất khẩu của một nước còn phụ thuộc
vào thu nhập và sản lượng của các nước bạn hàng. Khi kinh tế các nước bạn hàng tăng
trưởng cao, sản lượng và thu nhập tăng, nhu cầu nhập khẩu của họ tăng và do đó xuất khẩu
của những nước này có thể gia tăng.
Như vậy, nhập khẩu của một nước tỷ lệ thuận với thu nhập và sản lượng của nền
kinh tế, với giá tương đối giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu, tỷ lệ nghịch với tỷ giá
ngoại tệ.
Trong khi đó, xuất khẩu không phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của nền kinh tế
mà tỷ lệ thuận với tỷ giá ngoại tệ, thu nhập và sả lượng của nước bạn hàng và với giá
tương đối giữa hàng hoá xuất khẩu của nước đó và giá hàng hoá mà nó phải cạnh tranh
trên thị trường thế giới.
Từ đây, chúng ta có thể thấy xuất khẩu ròng chịu tác động tổng hợp của các yếu tố
tác động tới cả xuất khẩu và nhập khẩu. Xuất khẩu ròng dương và tăng, tức là xuất khẩu
lớn hơn nhập khẩu, làm cho tổng cầu tăng nhanh. Do vậy, xuất khẩu ròng tăng sẽ góp phần
làm cho lạm phát gia tăng. Tuy nhiên, trên thực tế, người ta thấy rằng, trong nhiều trường
hợp xuất khẩu ròng dương nhưng nền kinh tế vẫn rơi vào tình trạng suy thoái. Nhiều
trường hợp xuất khẩu ròng âm, nền kinh tế vẫn có lạm phát cao. Có nhiều nguyên nhân
dẫn tới tình trạng này, trong đó có nguyên nhân cơ cấu hàng nhập khẩu (cơ cấu hàng tiêu
dùng và hàng trung gian nguyên liệu nhập khẩu) vấn đề này sẽ được phân tích sâu hơn
trong phần sau.
Những phân tích trên đây giúp chúng ta có một số nhận xét về chính sách của Chính
phủ có thể tác động tới xuất nhập khẩu và xuất khẩu ròng như thế nào.
Một là, về lý thuyết, do xuất nhập khẩu và xuất khẩu ròng phụ thuộc vào tỷ giá, do
đó chính sách của Chính phủ có thể làm giảm xuất khẩu ròng thông qua tỷ giá. Tuy nhiên,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status