Nguyên nhân và giải pháp khắc phục lạm phát ở Việt Nam - Pdf 28

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nguyên nhân và giải pháp khắc phục lạm phát ở Việt Nam
TS. Hoàng Xuân Quế - Khoa NH- TC
Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội
Tình hình giá cả và lạm phát ở Việt Nam thời gian qua, đặc biệt là những biến động bất
thờng trong năm 2004 đẩy chỉ số giá hàng tiêu dùng (CPI) lên 9,5% (trong khi chỉ số này của
năm 2003 là 3%), vợt xa con số 5% theo kế hoạch đề ra, đã buộc công luận phải lên tiếng. Để giải
toả những bức xúc của dân chúng và các nhà sản xuất kinh doanh, đã có nhiều buổi toạ đàm,
cuộc hội thảo đợc tổ chức và đợc các phơng tiện thông tin đại chúng loan tải. Qua đó đã toát ra
nhiều vấn đề còn tranh cãi về quan điểm về lạm phát, nguyên nhân của lạm phát, cách tính lạm
chỉ số lạm phát, các giải pháp nhằm khắc phục lạm phátBài viết này xin đợc lạm bàn về các
nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp cơ bản để nhằm khắc phục.
Lạm phát là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có vị trí quan trọng hàng đầu trong điều
hành chính sách của mỗi một quốc gia. Đây cũng là một trong hai mục tiêu mà Ngân
hàng Trung ơng các nớc đều hớng tới. Khái niệm chung về lạm phát đợc khoa học
kinh tế đa ra là sự tăng giá chung theo thời gian, khi đó mặt bằng chung về giá cả
hàng tiêu dùng trên thị trờng tăng lên. Còn lạm phát tiền tệ hoặc lạm phát giá cả đợc
gọi theo cách nhìn nhận ở góc độ nguyên nhân của lạm phát. Theo lý thuyết kinh tế
học hiện đại, lạm phát do ba nguyên nhân: cầu kéo, chi phí đẩy và quá thừa mức tiền
cung ứng trong lu thông. Tuy nhiên trong thực tế, lạm phát gia tăng còn do một số
nguyên nhân nữa, thí dụ: Tâm lý của dân chúng, sự mất cân đối trong cơ cấu đầu t
Lạm phát tiền tệ đợc hiểu là mức tiền cung ứng cho lu thông vợt quá mức cần
thiết, biểu hiện là sự mất giá của đồng bản tệ.
Lạm phát giá cả đợc hiểu là giá cả hàng hoá và dịch vụ nói chung tăng lên do
cầu lớn hơn cung (cầu kéo), hoặc do chi phí sản xuất hàng hoá và dịch vụ tăng lên
(chi phí đẩy).
Trong thực tế hai loại lạm phát nói trên ít khi xẩy ra cùng một lúc, mà thờng
hoặc là lạm phát giá cả, hoặc là lạm phát tiền tệ.
A. Nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam hiện nay
Trên cơ sở nghiên cứu về biến động của giá cả và lạm phát ở Việt Nam, chúng tôi
cho rằng lạm phát ở Việt Nam thời gian qua (đặc biệt là năm 2004) là do những nguyên

bán giảm thấp, khó tiêu thụ, nên đã làm cho CPI ở mức rất thấp, thậm chí là âm. Nhng
năm 2004 nhóm mặt hàng này đã tăng tới 15%; trong đó giá lơng thực tăng 12,5% và
giá thực phẩm tăng 16,8%, đã tác động mạnh làm gia tăng cao chỉ số CPI nói chung. Do
đó nếu loại bớt đợc sự tăng giá đột biến gây những cú sốc trong tính toán, thì rõ ràng
chỉ số lạm phát không cao nh đã công bố.
2. Điều tiết vĩ mô kém
Một thực tế cần phải thừa nhận là điều tiết vĩ mô của chúng ta trớc những biến
động bất thờng cả từ trong và ngoài nớc để nhằm bình ổn thị trờng trong nớc là còn
nhiều bất cập. Thí dụ, đến khi giá thuốc tân dợc leo thang hàng ngày và đợc bán ở mức
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
rất cao, gây rối loạn thị trờng thuốc chữa bệnh, lúc đó chúng ta mới nghĩ đến vấn đề dự
trữ quốc gia về thuốc tân dợc; Các quyết định quản lý đợc đa ra để điều tiết thị trờng th-
ờng là chậm trễ, vì thế hiệu quả điều tiết kém. Thí dụ: việc điều chỉnh giảm thuế thép,
phôi thép mặc dầu đợc kiến nghị từ tháng 1/2004 nhng đến tháng 3/2004 mới đợc thực
hiện, vào lúc này giá phôi thép đã tăng lên 480 - 500USD/tấn và giá thép xây dựng đã
tăng lên tới 500 - 520USD/tấn. Do vậy các doanh nghiệp khi nhập khẩu tại thời điểm
này khó có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp đã nhập phôi thép trớc đó; Tình
trạng độc quyền, đầu cơ trục lợi vẫn còn phổ biến dẫn đến thao túng, gây rối loạn thị
trờng; Cũng do quản lý kém đã dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí trong đầu t xây
dựng cơ bản là rất lớn Hệ luỵ tất yếu của những tình trạng trên là thị tr ờng trong nớc
thêm rối loạn; Khi chỉ số lạm phát gia tăng nhanh chóng trong những tháng đầu năm
2004, mặc dù tổng phơng tiện thanh toán trong nền kinh tế là phù hợp với các chỉ số
kinh tế vĩ mô (sẽ đợc phân tích ở phần dới đây), nhng dới sức ép của d luận, ngân hàng
Nhà nớc Việt Nam lại thực hiện một chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm giảm mức cung
ứng tiền tệ. Nh vậy Ngân hàng Nhà nớc đã khắc phục bất hợp lý này bằng một bất hợp
lý khác. Hệ quả của nó là đẩy lãi suất lên cao, tăng chi phí đầu t, hạn chế đầu t, kìm hãm
sản xuất và tăng thất nghiệp
3. Cung ứng tiền tệ của Ngân hàng Nhà nớc
Để thấy rõ nhân tố này, chúng ta cùng nghiên cứu quá trình cung ứng tổng phơng

phẩm tiếp tục tăng lên, làm cho giá cả mặt hàng gia cầm nói riêng tăng đột biến. Đồng
thời nhu cầu của ngời tiêu dùng đợc chuyển sang các mặt hàng thực phẩm khác nên đã
làm cho nhóm hàng thực phẩm nói chung tăng cao, tới 16,8% trong 9 tháng đầu năm
2004. Mặt khác, do biến động mạnh của bất động sản từ cuối năm 1999, do vậy nhu cầu
xây dựng tăng cao, dẫn đến giá cả của vật liệu xây dựng, sắt thép, các mặt hàng trang trí
nội thất đồng loạt tăng lên.
Một diễn biến khác cũng xét từ nhân tố cầu kéo, có thể thấy do giá xuất khẩu
gạo của Việt Nam đợc cải thiện và khối lợng gạo xuất khẩu tăng, thị trờng xuất khẩu
thuỷ sản ổn định và đợc mở rộng Do đó giá của các mặt hàng l ơng thực, thuỷ hải
sản tăng lên.
5. Do chi phí đẩy
Nhân tố này chủ yếu là do giá cả các mặt hàng mà Việt Nam nhập khẩu trên thị
trờng thế giới tăng lên, tập trung là giá xăng dầu, phôi thép, nguyên liệu nhựa, phân đạm
Urê, bột giấy, thuốc chữa bệnh, vật phẩm y tế..., làm cho giá bán lẻ trong nớc cũng tăng
lên. Chỉ riêng mặt hàng xăng dầu trong năm 2004 đã đợc điều chỉnh tăng 4 lần (lần thứ
4 đợc thực hiện chỉ riêng đối với giá bán lẻ xăng, từ cuối ngày 1 - 11 - 2004, tăng thêm
500đồng/1lít xăng) với mức tăng từ 8% đến 28%. Tình hình đó làm cho chi phí của một
loạt lĩnh vực tăng lên, nhất là giao thông vận tải. Giá cớc vận chuyển hàng không tăng
8%, vận tải đờng sắt tăng 10% nhằm thực hiện chính sách hoà đồng giá vé giữa ngời
Việt Nam và ngời nớc ngoài,...Bên cạnh đó chi phí xăng dầu, phân bón, thuốc trừ sâu,...
của ngời nông dân cũng tăng cao. Giá sắt thép tăng làm cho ngành xây dựng và cơ khí
chế tạo tăng chi phí. Nguyên liệu nhựa và bột giấy tăng,... cũng làm cho chi phí của một
loạt ngành sản xuất và một loạt sản phẩm phải tăng giá bán lên...
Đặc biệt là sự biến động lớn của thị trờng bất động sản từ năm 1999 đến nay, hệ
luỵ của nó là vô cùng lớn. Đáng nhẽ các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế đặc biệt
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
là trong dân c phải đợc tập trung để đầu t phát triển sản xuất thì nay mọi ngời lại dồn hết
tiền để kinh doanh bất động sản gây rối loạn thị trờng này, đẩy giá bất động sản tăng
hàng chục lần. Do vậy giá thuê mặt bằng để sản xuất, thuê cửa hàng để kinh doanh

NHTM tăng lãi suất và không khuyến khích tăng cờng huy động vốn ngoại tệ, hạn
chế tình trạng đô la hoá tài sản nợ trong hệ thống ngân hàng.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status